Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn tại trung tâm tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

Hồi cứu mô tả loạt ca các bệnh nhân được phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải nhỏ có nội soi lồng ngực hỗ trợ tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2018. Có 183 trường hợp phẫu thuật van hai lá, trong đó có 86trường hợp sửa van, tuổi trung bình 50.1 12.6 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là 1.2:1. Trong đó có 76 trường hợp van thoái hóa, 1 trường hợp van hậu thấp, 2 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, 3 trường hợp tổn thương mép van và 4 trường hợp tim bẩm sinh. Cơ chế tổn thương chính là sa lá sau (59 trường hợp), đứng thứ hai là sa lá trước với 17 trường hợp, sa cả lá trước và lá sau có 5 trường hợp và chẻ lá van chiếm 4 trường hợp phẫu thuật, 1 trường hợp có giới hạn lá van. 15 trường hợp có biến chứngtrong đó, tràn máu màng ngoài phổi cần dẫn lưu có 4 trường hợp, 1 trường hợp vỡ vòng van, 1 trường hợp mổ lại do hở tồn lưu và 9 trường hợp mổ lại do chảy máu, 1 trường hợp hẹp động mạch đùi phải cần mổ lại. Không có tử vong. Tỉ lệ sửa van hai lá thành công (không hở hoặc hở độ 1 trên siêu âm sau mổ) cao (93%)

pdf 9 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn tại trung tâm tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn tại trung tâm tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM

Đánh giá hiệu quả của phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn tại trung tâm tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 52 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT SỬA VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN 
TẠI TRUNG TÂM TIM MẠCH BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP.HCM 
Võ Tuấn Anh*,Nguyễn Thị Thu Trang*, Phạm Trần Việt Chương*, 
Vũ Tam Thiện*, Nguyễn Hoàng Định* 
TÓM TẮT 
Hồi cứu mô tả loạt ca các bệnh nhân được 
phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở 
ngực phải nhỏ có nội soi lồng ngực hỗ trợ tại 
bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí 
Minh từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2018. Có 
183 trường hợp phẫu thuật van hai lá, trong đó 
có 86trường hợp sửa van, tuổi trung bình 50.1 
12.6 tuổi. Tỷ lệ nam/nữ là 1.2:1. Trong đó có 
76 trường hợp van thoái hóa, 1 trường hợp van 
hậu thấp, 2 trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm 
trùng, 3 trường hợp tổn thương mép van và 4 
trường hợp tim bẩm sinh. Cơ chế tổn thương 
chính là sa lá sau (59 trường hợp), đứng thứ hai 
là sa lá trước với 17 trường hợp, sa cả lá trước 
và lá sau có 5 trường hợp và chẻ lá van chiếm 
4 trường hợp phẫu thuật, 1 trường hợp có giới 
hạn lá van. 15 trường hợp có biến chứngtrong 
đó, tràn máu màng ngoài phổi cần dẫn lưu có 4 
trường hợp, 1 trường hợp vỡ vòng van, 1 
trường hợp mổ lại do hở tồn lưu và 9 trường 
hợp mổ lại do chảy máu, 1 trường hợp hẹp động 
mạch đùi phải cần mổ lại. Không có tử vong. Tỉ 
lệ sửa van hai lá thành công (không hở hoặc hở 
độ 1 trên siêu âm sau mổ) cao (93%). 
Từ khóa: Phẫu thuật tim ít xâm lấn, đường 
mở ngực phải nhỏ, nội soi lồng ngực. 
SUMMARY 
VIDEO ASSISTED MINIMALLY INVASIVE 
MITRAL VALVE SURGERY VIA RIGHT 
MINITHORACOTOMY: NEW STANDARD 
FOR MITRAL SURGERY 
Our restrospective reviewed 204 patients 
underwent minimally invasive mitral valve 
surgery at the University Medical Center at Ho 
Chi Minh City from 08/2014 to 08/2018. 183 
patients underwent minimally invasive mitral 
valve surgery, including 86 mitral valve repair. 
Mean age was 50.1 12.6. Male to female ratio 
was 1.2:1. Patients with mitral valve repair 
included 76 degenerative valves, 1 post-
rheumatic valves, 2 endocarditis and 4 congenital 
valves. The main mechanism was posterior leaflet 
prolapse 59 patients, anterior leaflet prolapse 
consists of 17 patiens, there were5 patients with 
both leaflets prolapse, 4 patients with anterior 
leaflet cleft, and 1 patients with commissural 
lesions. We encountered 15 complications: 4 
hemothorax requiring draining, 1 annular rupture, 
1 reoperation due to residual mitral regurgitation 
and 9 reoperation due bleeding, 1 femoral artery 
stenosis required patch plasty. Goals of operation 
were achieved 93%.* 
Key words: Minimally invasive mitral 
surgery, minithoracotomy, thoracic endoscopy. 
I. MỞ ĐẦU 
Trong những năm gần đây, phẫu thuật tim ít 
xâm lấn đã có những bước phát triển nhanh 
chóng và mạnh mẽ. Các lợi ích của phẫu thuật 
* Đại học Y dược TPHCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hoàng Định 
Ngày nhận bài: 01/07/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/07/2019 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT SỬA VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN ... 
 53 
tim ít xâm lấn đã được chứng minh từ những năm 
giữa thập kỉ 90. Trong vòng 20 năm trở lại đay, 
bác sĩ phẫu thuật tim mạch trên thế giới đã phát 
triển và hoàn thiện kĩ thuật, trao đổi kinh nghiệm 
chuyên môn. Kỹ thuật mổ tim ít xâm lấn đã được 
tối ưu hóa, đem lại kết quả rất tốt và đảm bảo 
được độ an toàn cho bệnh nhân so với phẫu thuật 
tim kinh điển. 
Theo các ghi nhận sổ bộ, số lượng phẫu 
thuật thay hoặc sửa van hai lá qua đường mở 
ngực nhỏ bên phải có sự hỗ trợ của nội soi lồng 
ngực tại các nước có nền y tế phát triển như Mỹ, 
Pháp, Đức, Nhật đã vượt quá con số thực hiện bằng 
phương pháp kinh điển qua đường mở dọc giữa 
toàn bộ xương ức. Tỷ lệ này hiện đạt 50 – 60%, 
ngày càng tăng, có thể đạt đến 90 -95% ở các trung 
tâm hàng đầu về phẫu thuật tim ít xâm lấn. 
Phẫu thuật tim ít xâm lấn được người bệnh 
rất quan tâm, trước hết do hiệu quả về mặt thẩm 
mỹ. Tuy vậy, các lợi điểm của phẫu thuật tim ít 
xâm lấn còn lớn hơn nhiều: Giảm đau sau mổ, 
giảm tỉ lệ mất máu, loại trừ được biến chứng 
viêm xương ức, giúp bệnh nhân mau hồi phục và 
nhanh chóng trở lại với cuộc sống bình thường. 
Phẫu thuật van hai lá là một trong những 
phẫu thuật được thực hiện nhiều ở các trung tâm 
mổ tim lớn, đặc biệt sửa van hai lá đóng một vai 
trò quan trọng. Đây là phương pháp đã được 
chứng minh mang lợi nhiều lợi ích cho bệnh 
nhân: Thời gian phục hồi nhanh, không cần phải 
sử dụng thuốc kháng đông loại kháng Vitamin K 
dài hạn, triệu chứng bệnh nhân cải thiện tốt hơn, 
suy tim phục hồi nhanh hơn và chất lượng cuộc 
sống bệnh nhân cao hơn. 
Chính vì vậy, kết hợp được lợi điểm của 
phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở 
ngực nhỏ bên phải có nội soi lồng ngực hỗ trợ và 
ưu điểm của phẫu thuật sửa van hai lá sẽ mang lại 
một chất lượng điều trị cao cho bệnh nhân mắc 
bệnh van hai lá, một bệnh lý rất thường gặp ở 
nước ta. 
Tuy nhiên, để thực hiện phẫu thuật sửa van 
hai lá ít xâm lấn, bác sĩ phẫu thuật cùng toàn bộ 
kíp mổ phải được đào tạo một cách thích hợp và 
bài bản. Việc làm chủ kỹ thuật mổ mới, sử dụng 
thành thạo hệ thống mổ nội soi cũng như các 
dụng cụ phẫu thuật ít xâm lấn, thành thạo kỹ thuật 
tuần hoàn ngoài cơ thể qua đường mạch máu 
ngoại vi để giảm thiểu các tai biến có liên quan 
đến kỹ thuật nội soi và ít xâ lấn có ý nghĩa rất 
quan trọng đến tỉ lệ thành công tại mỗi cơ sở. 
Tại Việt Nam, đã có nhiều cơ sở ở phía Bắc 
và phía Nam thực hiện được loại hình kĩ thuật 
mới này. Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Đại học 
Y Dược TP.HCM ở phía Nam là những đơn vị 
đầu tiên triển khai thành công phẫu thuật van hai 
lá ít xâm lấn qua đường mở ngực nhỏ bên phải có 
nội soi lồng ngực hỗ trợ. Chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả bước đầu 
sau 04 năm thực hiện cũng như rút ra một số kinh 
nghiệm để góp phần thúc đẩy sự phát triển kĩ 
thuật mới. 
II. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh: 
+ Bệnh nhân bệnh van hai lá có chỉ định 
phẫu thuật và có khả năng sửa được theo đánh giá 
của siêu âm tim.. 
+ Được phẫu thuật xâm lấn tối thiểu qua 
đường mở ngực nhỏ bên phải. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 54 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: 
+ Có bệnh lý tim mạch khác cần can thiệp 
đi kèm: Bệnh lý van động mạch chủ, bệnh lý 
động mạch vành, bệnh lý tim bẩm sinh. 
+ Hở van động mạch chủ trung bình. 
+ Tắc hoặc hẹp động mạch chủ bụng, động 
mạch chậu, động mạch đùi hai bên. 
+ Huyết khối hệ thống tĩnh mạch chủ. 
+ Tiền căn phẫu thuật lồng ngực bên (P) 
trước đây. 
+ Bệnh nhân đã từng phẫu thuật tim qua 
đường giữa xương ức. 
+ Hở van ba lá, thông liên nhĩ lỗ thứ phát 
và rung nhĩ không thuộc tiêu chí loại trừ. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
Hồi cứu mô tả loạt ca. 
Trích lục dữ liệu hồ sơ bệnh án tại Khoa 
Phẫu Thuật Tim Mạch, Bệnh viện Đại học Y 
Dược TP.HCM của các bệnh nhân được phẫu 
thuật van hai lá ít xâm lấn qua đường mở ngực 
phải có nội soi lồng ngực hỗ trợ trong thời gian từ 
tháng 08/2014 đến tháng 08/2018. 
2.3. Mô tả kỹ thuật 
2.3.1. Dụng cụ phẫu thuật 
Bộ máy phẫu thuật nội soi Karl – StorzTM 
gồm camera ội soi 15 độ, bộ phận xử lý hình ảnh, 
nguồn sáng, màn hình hiển thị và bộ thổi khí CO2. 
Bộ dụng cụ phẫu thuật tim ít xâm lấn gồm 
hệ thống tay đỡ, bộ banh ngực, các dụng cụ mổ 
cán dài, thước đo dây chằng, kẹp động mạch chủ 
Chitwood, bộ dụng cụ nâng nhĩ trái với các bản 
nâng kính thước khác nhau. 
Máy tim phổi nhân tạo Stockert S5. Cannula 
tĩnh mạch đùi 2 tầng SorinTM cỡ 22Fr và 23/25 Fr, 
cannula động mạch đùi số 18 Fr, 20 Fr. Dụng cụ 
vén mô mềm. 
Hình 1. Các dụng cụ phẫu thuật ít xâm lấn. 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT SỬA VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN ... 
 55 
2.3.2. Các bước tiến hành phẫu thuật: 
Bệnh nhân nằm ngửa, kê một gối vải dưới 
ngực phải để nâng ngực phải lên 1 góc 15 – 20 độ 
so với mặt bàn. Dán các bản điện cực sốc điện 
ngoài. Sát trùng và trải khăn mổ bộc lộ toàn bộ 
ngực phải, đường giữa xương ức từ hõm ức trở 
xuống, vùng bẹn đùi hai bên. Bệnh nhân được 
theo dõi các thông số huyết động như một trường 
hợp mổ tim có tuần hoàn ngoài cơ thể thông 
thường. Chúng tôi đặt nội khí quản, tuy vậy, 
trong thời gian đầu mới triển khai có thể đặt nội 
phế quả để kiểm soát riêng rẽ thông khí hai phổi 
và cho phổi (P) ngưng thở mà không cần phải 
chạy tuần hoàn ngoài cơ thể. 
Thiết lập tuần hoàn ngoài cơ thể qua đường 
ngoại vi: Rạch da dài 3 cm tại nếp lằn bẹn bên 
(P). Bộc lộ và kiểm soát động mạch và tĩnh mạch 
đùi. Dưới siêu âm tim qua thực quả, luồn dây dẫn 
đầu J dài 260 mm qua tĩnh mạch đùi lên đến tĩnh 
mạch chủ trên, đặt cannula tĩnh mạch hai tầng 
theo dây dẫn sao cho đầu trên của cannula nằm 
trong tĩnh mạch chủ trên. Đặt cannula động mạch 
đùi theo phương pháp Seldinger. 
Đường rạch da mở ngực ở đường nách 
trước, song song với đường nách, chiều dài 
đường rạch da từ 3 – 5 cm. Phẫu tích tránh mô 
tuyến vú, qua các lớp cơ ngực và vào khoang 
màng phổi ở khoang liên sườn 4. Đặt dụng cụ vén 
mô mềm để bộc lộ tốt phẫu trường. Chạy tuần 
hoàn ngoài cơ thể đủ lưu lượng và hạ thân nhiệt 
xuống 32 độ C. Đặt trocar 5 qua liên sườn 3 
đường nách trước cho camera 0 độ. Dây dẫn khí 
CO2 được nối vào trocar và thổi vào phẫu trường 
từ khi mở tim cho đến khi đóng tim. Camera nội 
soi được đưa qua trocar, mở màng ngoài tim 2 cm 
trước và song song với thần kinh hoành. Khâu 
các mũi chỉ treo màng tim và vén cơ hoành. 
Kiểm tra lại vị trí của cannula tĩnh mạch trong 
tĩnh mạch chủ trên. Phẫu tích xoang chếch để bộc 
lộ phần sau dưới của nhĩ trái. 
Khâu một mũi chữ U có đệm vào gốc 
động mạch chủ, qua đó đặt cannula gốc động 
mạch chủ để truyền dung dịch liệt tim. Kết nối 
cannula với hệ thống đo áp lực. Rạch da ở liên 
sườn 3 phía sau trên so với trocar nội soi, qua 
đó đặt kẹp động mạch chủ Chitwood, bề cong 
của kẹp hướng lên trên để tránh tổn thương 
động mạch phổi và tiểu nhĩ trái. Sau khi kẹp 
ngang động mạch chủ, truyền dung dịch liệt tim 
CustodiolR lạnh 2 lút trong vòng 8 phút và kiểm 
soát áp lực đường liệt tim. Phương pháp này 
đảm bảo bảo vệ tim tốt trong vòng 120 phút. 
Mở nhĩ trái qua rãnh Waterston. Đảm bảo phẫu 
trườn được hút sạch máu với ống hút mềm đặt 
vào tĩnh mạch phổi trái. 
Hình 2. Sửa van hai lá hậu thấp nội soi 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 56 
Đặt que và bản nâng nhĩ trái ở bờ phải 
xương ức, chọn khoang liên sườn 4 hoặc 5 sao 
cho bộc lộ van hai lá tốt nhất, lưu ý tránh tổn 
thương động mạch ngực trong bên phải. Sửa hoặc 
thay van hai lá theo các nguyên tắc tương tự trong 
phẫu thuật kinh điển, sử dụng các dụng cụ có cán 
dài, quan sát trực tiếp phối hợp với quan sát qua 
màn hình nội soi để thực hiện thao tác phẫu thuật. 
Đặt một ống silicone qua van hai lá trước 
khi đóng nhĩ trái để thuận lợi cho việc đuổi khí 
trong tim. Sau khi đóng nhĩ trái, đuổi khí qua 
đường mở nhĩ trái bằng cách bóp bóng làm căng 
phổi. Rút cannula gốc động mạch chủ và khâu kín 
lỗ kim trên gốc động mạch chủ. Gắn chỉ điện cực 
vào mặt hoành của thất phải. 
Mở kẹp động mạch chủ cho tim đập lại. Rút 
ống silicone trong thất trái. Khi nhịp tim ổn định, 
cai dần tuần hoàn ngoài cơ thể. Kiểm tra kết quả 
phẫu thuật bằng siêu âm tim qua thực quản. Kiể 
tra cầm máu, lưu ý đến các lỗ trocar, lỗ của que 
nâng nhĩ trái và lỗ đặt kẹp động mạch chủ. Dẫn 
lưu khoang màng tim và khoang màng phổi phải. 
Rút các cannula động mạch và tĩnh mạch đùi. Tái 
tạo mạch máu bằng chỉ Prolene 6.0. 
Đóng vết mổ ở đùi và đóng ngực theo lớp. 
2.4. Xử lí số liệu: 
Số liệu thống kê được xử lý bằng phần 
mềm SPSS. Các biến số liên tục được mô tả bằng 
số trung bình độ lệch chuẩn. Các biến số liên 
tục không tuân theo phân phối chuẩn được mô tả 
bằng số trung vị và khoảng tứ phân vị. Các biến 
số phân loại được mô tả bằng tần suất và tỉ lệ 
phần trăm. 
III. KẾT QUẢ 
Từ tháng 8/2014 đến tháng 8/2018, có 
183bệnh nhân được phẫu thuật van hai lá qua 
đường mở ngực nhỏ bên phải có nội soi lồng 
ngực hỗ trợ. Trong đó có 86 bệnh nhân được 
phẫu thuật sửa van hai lá, chiếm tỉ lệ 47%. 
Tuổi từ 18 – 72, trung bình 50.1, tỉ lệ 
nam/nữ = 1.2:1. Suy tim NYHA I, II có 84 trường 
hợp và 16 trường hợp suy tim NYHA III, IV. Có 
100 trường hợp sửa van hai lá, bệnh nguyên của 
hở van hai lá được tóm tắt trong Bảng 1. 
Bảng 1. Bệnh nguyên của hở van hai lá 
Bệnh nguyên Số trường hợp 
Thoái hóa 76 
Tổn thương mép van 3 
Hậu thấp 1 
Viêm NTM nhiễm trùng 2 
Bẩm sinh 4 
Tổng cộng 86 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT SỬA VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN ... 
 57 
Bảng 2. Cơ chế tổn thương van 
Cơ chế tổn thương Số lượng 
Sa lá trước 17 
Sa lá sau 59 
Sa lá trước và lá sau 5 
Hạn chế lá van 1 
Kẽ lá trước 4 
Bảng 3. Kết quả sớm của phẫu thuật 
Kết quả N=86 
Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể 132±32 phút 
Thời gian kẹp động mạch chủ 85±25 phút 
Thời gian thở máy 12 giờ 
Thời gian nằm hồi sức 2,3 ngày 
Vỡ vòng van hai lá 1 
Mổ lại do chảy máu màng ngoài tim 9 
Mổ lại do hở tồn lưu 1 
Tràn máu MP cần dẫn lưu 4 
Tử vong 0 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 58 
Bảng 4. Kết quả siêu âm sau phẫu thuật 
Siêu âm khi xuất viện 
Không hở van hoặc hở độ 1 79 
Hở độ 2 6 
Hở trên độ 2 1 (thay van) 
Chiều dài diện áp 6 – 12mm (8,6 mm) 
Siêu âm khi tái khám (2 – 46 tháng) 
Hai bệnh nhân tăng độ hở van từ 2 lên 3. 
Một bệnh nhân mổ lại thay van 
IV. BÀN LUẬN 
Phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn đáp 
ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau. 
Bệnh nhân có nhu cầu được mổ sớm trước khi 
tim có những thay đổi về chức năng sau tổn 
thương giải phẫu, hồi phục nhanh, ít tổn thương 
về thể chất và tâm lý, không bị những biến chứng 
liên quan đến vết mổ xương ức, và tính thẩm mỹ 
cao. Bác sĩ phẫu thuật có nhu cầu phát triển kĩ 
thuật mới, tăng số lượng ca mổ. Bác sĩ nội tim 
mạch có nhu cầu có thêm sự lựa chọn cho bệnh 
nhân của mình, gửi bệnh nhân đến phẫu thuật 
sớm hơn. Các nhà quản lý y tế mong muốn bệnh 
viện có tính cạnh tranh cao, gia tăng hiệu quả 
điều trị. Các lý do trên khiến cho phẫu thuật sửa 
van hai lá ít xâm lấn giành được sự quan tâm và 
đầu tư phát triển. Trong hoàn cảnh đó, việc đảm 
bảo an toàn và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân là 
chìa khóa để thành công trong việc áp dụng kĩ 
thuật mới. 
4.1. Tính an toàn của phẫu thuật sửa van 
hai lá ít xâm lấn có nội soi lồng ngực hỗ trợ 
Qua bốn năm triển khai kĩ thuật mới, chúng 
tôi đã thực hiện được 100 trường hợp sửa van hai 
lá ít xâm lấn với kết quả khả quan. Phẫu thuật sửa 
van hai lá ít xâm lấn có nội soi lồng ngực hỗ trợ 
hiện đã được thực hiện thường quy tại Trung tâm 
Tim mạch Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM. 
Không có trường hợp nào tử vong trong số 
86 bệnh nhân. Tỉ lệ tai biến và biến chứng là 15 
trường hợp, trong đó có 4 trường hợp là tràn dịch 
màng phổi cần dẫn lưu, 1 trường hợp liên quan 
trực tiếp đến kĩ thuật mổ và là biến chứng nặng 
(vỡ vòng van hai lá), 1 trường hợp mổ lại do hở 
van hai lá tồn lưu. 
Theo Holzhey, phẫu thuật ít xâm lấn đặt ra 
nhiều thách thức về kĩ thuật trong vòng 50 – 100 
trường hợp đầu tiên. Ngoài các tai biến và biến 
chứng của phẫu thuật van tim hở có tuần hoàn 
ngoài cơ thể, phẫu thuật van hai lá ít xâm lấn còn 
có những tai biến đặc thù. Đa số các tai biến và 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHẪU THUẬT SỬA VAN HAI LÁ ÍT XÂM LẤN ... 
 59 
biến chứng đều do một trong hai nguyên nhân: 
Chọn lựa bệnh nhân không phù hợp hoặc do 
đường cong huấn luyện chưa đủ. 
Các biến chứng đặc thù của phẫu thuật van 
hai lá ít xâm lấn gồm có 
- Đặt cannula động và tĩnh mạch đùi có thể 
gây tổn thương mạch máu tại chỗ, bóc tách động 
mạch đùi, nặng nề hơn có thể gây tổn thương 
mạch máu vùng chậu hoặc trong bụng. Tụ dịch 
bạch huyết vùng đùi. 
- Tuần hoàn ngoài cơ thể ngược dòng có thể 
gây tăng nguy cơ tai biến mạch máu não ở các 
bệnh nhân có tổn thương xơ vữa nẵng của động 
mạch chủ hoặc gây bóc tách động mạch chủ 
ngược dòng. 
- Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và thời 
gian kẹp động mạch chủ kéo dài hơn so với phẫu 
thuật kinh điển có thể ảnh hưởng đến chức năng 
thất ở các bệnh nhân có chức năng thất trái giảm, 
tăng áp động mạch phổi nặng trước mổ và bảo vệ 
cơ tim không tốt trước mổ. Tuần hoàn ngoài cơ 
thể kéo dài còn có thể gây ảnh hưởng đến chức 
năng của các tạng, trong đó quan trọng nhất là 
gan và thận. 
4.2. Chọn lựa bệnh nhân thích hợp là yếu 
tố quan trọng 
Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và thời 
gian kẹp động mạch chủ trong phẫu thuật van hai 
lá ít xâm lấn dài hơn phẫu thuật kinh điển, đặc 
biệt đối với sửa van hai lá. Khi quá trình sửa thất 
bại, phải chạy máy tim phổi nhân tạo và ngưng 
tim lại để thay van. Do đó, trong giai đoạn đầu 
cần chọn những bệnh nhân có tổn thương van hai 
lá đơn giản, thường là sa lá sau phần P2, chức 
năng thất trái tốt, không tăng áp động mạch phổi, 
không hở van động mạch chủ để đảm bảo bảo vệ 
cơ tim tối ưu trong mổ. Khi đã vượt qua đường 
cong huấn luyện, bác sĩ phẫu thuật có thể mở 
rộng hơn các chỉ định, tuy vậy cũng phải tôn 
trọng những điểm chính yếu nhất để bảo đảm an 
toàn cho bệnh nhân. 
Các kết quả đáng khích lệ của chúng tôi 
trong bốn năm triển khai phẫu thuật sửa van hai 
lá ít xâm lấn qua đường mở ngực phải nhỏ đã 
chứng tỏ một khi chỉ định phẫu thuật đúng và 
tuân thủ các biện pháp an toàn thì tất cả các nội 
dung của cuộc phẫu thuật đều đạt được với mổ hở 
theo phương kinh điển. 
Phẫu thuật sửa van hai lá là loại phẫu thuật 
tinh tế và đòi hỏi nhiều kĩ năng nhất trong các 
phẫu thuật tim có thể thực hiện được bằng 
phương pháp ít xâm lấn. So với phẫu thuật thay 
van hai lá, phẫu thuật sửa van hai lá đem lại nhiều 
lợi ích vượt trội cho người bệnh: Cải thiện chức 
năng thất trái, giảm tỉ lệ tử vong sớm và dài hạn, 
giảm việc sử dụng thuốc kháng đông loại kháng 
Vitamin K lâu dài, giảm tỉ lệ phẫu thuật lại. Tỉ lệ 
sửa van hai lá thành công trung hạn (sau 4 năm) 
của chúng tôi là 93/100 trường hợp. Gần như tất 
cả các kĩ thuật sửa van thoái hóa đều có thể thực 
hiện được qua phương pháp ít xâm lấn: Cắt tam 
giác lá sau, cấy dây chằng nhân tạo cho lá sau và 
lá trước, tạo hình vòng van hai lá với vòng van 
nhân tạo Tuy vậy, đối với những trường hợp 
tổn thương van phức tạp mà vẫn còn khả năng 
sửa, chúng tôi ưu tiên dùng phương pháp mổ mở 
để sửa van. Nếu khả năng sửa van hậu thấp hạn 
chế, chúng tôi chỉ định mổ ít xâm lấn để thay van 
hai lá. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 26 - THÁNG 8/2019 
 60 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật sửa van hai lá ít xâm lấn bằng 
đường mở ngực nhỏ có nội soi lồng ngực hỗ trợ 
khả thi, an toàn và có kết quả sớm cũng như trung 
hạn khả quan. 
Phẫu thuật có các ưu điểm của phẫu thuật ít 
xâm lấn: Giảm sang chấn về thể chất và tinh thần 
cho người bệnh. 
Tuy vậy vẫn có những thách thức kĩ thuật 
và đòi hỏi đường cong huấn luyện dài, cùng với 
những thách thức về đặc thù bệnh lý như bệnh 
van hai lá hậu thấp giai đoạn tiến triển.Vì vậy, 
cần có sự đầu tư thỏa đáng về chính sách, huấn 
luyện nhân lực cũng như trang thiết bị. Việc 
chọn lựa bệnh nhân hợp lý và tuân thủ nghiêm 
ngặt các quy định về an toàn phẫu thuật sẽ giúp 
đem lại kết quả tốt và đảm bảo sự an toàn cho 
người bệnh. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Glauber, M., et al., Early and long-term 
outcomes of minimally invasive mitral valve 
surgery through right minithoracotomy: a 10-year 
experience in 1604 patients. J Cardiothorac Surg, 
2015. 10: p. 181. 
2. Gammie, J.S., et al., J. Maxwell 
Chamberlain Memorial Paper for adult cardiac 
surgery. Less-invasive mitral valve operations: 
trends and outcomes from the Society of Thoracic 
Surgeons Adult Cardiac Surgery Database. Ann 
Thorac Surg, 2010. 90(5): p. 1401-8, 1410 e1; 
discussion 1408-10. 
3. Holzhey, David M. et al"Learning 
Minimally Invasive Mitral Valve 
Surgery."Circulation128.5(2013):483-491 
4. Iribarne, A., et al., Minimally invasive 
versus sternotomy approach for mitral valve 
surgery: a propensity analysis. Ann Thorac Surg, 
2010. 90(5): p. 1471-7; discussion 1477-8. 
5. Ito, T., Minimally invasive mitral valve 
surgery through right mini-thoracotomy: 
recommendations for good exposure, stable 
cardiopulmonary bypass, and secure myocardial 
protection. Gen Thorac Cardiovasc Surg, 2015. 
63(7): p. 371-8. 
6. Modi, P., A. Hassan, and W.R. 
Chitwood, Jr., Minimally invasive mitral valve 
surgery: a systematic review and meta-analysis. 
Eur J Cardiothorac Surg, 2008. 34(5): p. 943-52. 
7. Modi, P., et al., Minimally invasive video-
assisted mitral valve surgery: a 12-year, 2-center 
experience in 1178 patients. J Thorac Cardiovasc 
Surg, 2009. 137(6): p. 1481-7. 
8. Yamada, T., et al., Comparison of early 
postoperative quality of life in minimally invasive 
versus conventional valve surgery. J Anesth, 2003. 
17(3): p. 171-6 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_cua_phau_thuat_sua_van_hai_la_it_xam_lan_t.pdf