Đánh giá hiệu quả cải thiện mật độ xương và độ dung nạp của Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị phụ nữ mạn kinh bị loãng xương

Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị, độ dung nạp

của Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị ở bệnh nhân nữ mạn kinh bị loãng

xương. Đối tượng, phương pháp: 35 bệnh nhân (BN) nữ mạn kinh loãng xương được

theo dõi điều trị trong thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng 6/2014. Đánh giá sự cải thiện

mật độ xương (T score), độ dung nạp của zoledronic acid (Aclasta) sau một năm.

pdf 8 trang phuongnguyen 560
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả cải thiện mật độ xương và độ dung nạp của Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị phụ nữ mạn kinh bị loãng xương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá hiệu quả cải thiện mật độ xương và độ dung nạp của Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị phụ nữ mạn kinh bị loãng xương

Đánh giá hiệu quả cải thiện mật độ xương và độ dung nạp của  Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị phụ nữ mạn kinh bị loãng xương
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
113
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Đánh giá một số đặc điểm lâm sàng và hiệu quả điều trị, độ dung nạp 
của Zoledronic acid (Aclasta) sau một năm điều trị ở bệnh nhân nữ mạn kinh bị loãng 
xương. Đối tượng, phương pháp: 35 bệnh nhân (BN) nữ mạn kinh loãng xương được 
theo dõi điều trị trong thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng 6/2014. Đánh giá sự cải thiện 
mật độ xương (T score), độ dung nạp của zoledronic acid (Aclasta) sau một năm. Kết 
quả: 35 BN có tuổi trung bình 61,2 ± 10,2, các bệnh kèm theo: thoái hóa khớp (71,4%), 
bệnh lý dạ dày tá tràng (60%), rối loạn chuyển hóa (54,3%); 100% (35/35) BN có loãng 
xương ở cột sống thắt lưng (CSTL), 77,1% (27/35) loãng xương ở cổ xương đùi (CXĐ). 
Có sự tăng T-score (p<0,01) ở cả hai vị trí CSTL (-3,96 ± 0,76 s.v. -3,35 ± 0,93 , p < 
0,01) và CXĐ (- 2,95 ± 0,79 so với -2,13 ± 0,86, p < 0,01) một năm sau điều trị Aclasta. 
Các tác dụng không mong muốn nhẹ, thoáng qua, theo thứ tự là: Đau cơ (20%), đau 
khớp (14,3%), sốt (8,6%), nôn và buồn nôn (5,7%). 
Kết luận: Zoledronic acid (Aclasta) có hiệu quả làm tăng BMD sau một năm điều 
trị ở phụ nữ mạn kinh bị loãng xương.
Từ khoá. Phụ nữ mãn kinh, Loãng xương, Mật độ xương, Zoledronic acid
THE EVALUATION OF THE EFFECT AND TOLERANCE 
OF ZOLEDRONIC ACID AFTER ONE YEAR OF TREATING 
POSTMENOPAUSAL OSTEOPOROSIS AT 108 CENTRAL 
MILITARY HOSPITAL
ABSTRACTS
Objective: To Assess the clinical characteristics of postmenopausal women with 
osteoporosis and effects of of annual infusions of zoledronic acid (Aclasta) in these 
women. Patients and methods: The bone mineral density (BMD-Tscore) after one 
year with zoledronic acid (Aclasta) was assessed in 35 postmenopausal women with 
osteoporosis examined from March 2013 to June 2014. Results: 35 patients with the 
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CẢI THIỆN MẬT ĐỘ XƯƠNG VÀ ĐỘ DUNG 
NẠP CỦA ZOLEDRONIC ACID (ACLASTA) SAU MỘT NĂM ĐIỀU 
TRỊ PHỤ NỮ MẠN KINH BỊ LOÃNG XƯƠNG
 Trần Hồng Nghị(1)
(1) Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Người phản hồi (Corresponding): Trần Hồng Nghị
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
114
mean age of 61,2 ± 10,2, associated diseases: osteoarthritis (71,4%), gastrointestinal 
diseases (60%), metabolic disorders (54,3%). 100% of patients had osteoporosis in 
lumbar spine and 34,3% in total hip. The T-score increased in both lumbar spine (-3,96 ± 
0,76 s.v. -3,35 ± 0,93 , p < 0,01) and total hip (- 2,95 ± 0,79 so với -2,13 ± 0,86, p < 0,01) 
after one year of Aclasta treatment. Adverses effects occured in this group were: Myalgia 
(20%), joint pain (14,3%), pyrexia (8,6%), nausea and vomitting (5,6%). Conclusion: an 
annual infusion of Zoledronic acid (Aclasta) had good effects on bone mineral density in 
postmenopausal osteoporosis patients.
 ĐẶT VẤN ĐỀ
Loãng xương (LX) là bệnh ngày càng 
phổ biến với những hậu quả nặng nề đang 
ngày càng trở thành một vấn đề quan trọng 
đối với sức khỏe cộng đồng [10]. Loãng 
xương là tình trạng giảm mật độ và tổn 
thương vi cấu trúc của xương làm tăng 
nguy cơ gãy xương. Gãy xương là hậu quả 
nặng nề của loãng xương và là nguyên nhân 
chính làm mất khả năng lao động, giảm tuổi 
thọ, gây ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tế và 
xã hội gãy xương do loãng xương cao gấp 2 
đến 3 lần so với nam giới cùng tuổi [1], [10]. 
Điều trị loãng xương cần phối hợp nhiều 
phương pháp và phải điều trị trong thời gian 
dài. Hiện nay có rất nhiều thuốc trong điều 
trị bệnh loãng xương và nhóm thuốc được 
lựa chọn đầu tiên là Biphosphonat với cơ 
chế ức chế hủy cốt bào làm giảm quá trình 
hủy xương và giảm nguy cơ gẫy xương 
[4]. Zoledronic acid (Aclasta) là một thuốc 
thuộc nhóm Biphosphonat điều trị loãng 
xương và được đánh giá là thuốc có hiệu 
quả, an toàn và thuận tiện vượt trội trong 
điều trị bệnh loãng xương hiện nay [2], [8]. 
Hiện nay trong nước đã có rất nhiều nghiên 
cứu đề cập đến loãng xương ở phụ nữ mạn 
kinh cũng như cách điều trị và phòng bệnh, 
tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu nào 
về đánh giá hiệu quả của zoledronic acid 
(Aclasta) trong điều trị bệnh loãng xương ở 
nhóm bệnh nhân này. Vì vậy chúng tôi tiến 
hành đề tài này nhằm mục đích: 1. Nghiên 
cứu một số đặc điểm lâm sàng của phụ nữ 
mạn kinh bị loãng xương; 2. Đánh giá hiệu 
quả và độ dung nạp của truyền Aclasta tĩnh 
mạch phác đồ một lần mỗi năm sau một 
năm điều trị bệnh loãng xương ở phụ nữ 
mạn kinh ở Khoa nội Thận – Khớp, Bệnh 
viện TWQĐ108.
 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: gồm 35 phụ 
nữ mạn kinh được chẩn đoán loãng xương 
tiên phát và được điều trị bệnh loãng xương 
bằng Zoledronic acid (biệt dược Aclasta 
100 ml 5 mg) truyền tĩnh mạch (phác đồ 
1 lần/1 năm) tại khoa Nội Thận - Khớp - 
Bệnh viện Trung ương Quân Đội 108 từ 
tháng 8/2012 đến tháng 6/2014.
Tiêu chuẩn chọn: bệnh nhân các bệnh 
nhân được chẩn đoán bệnh loãng xương tiên 
phát theo tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế giới 
WHO (T-score ≤ -2,5), có chỉ định truyền 
Aclasta và chấp nhận tham gia trong nhóm 
nghiên cứu. Bệnh nhân được điều trị loãng 
xương bằng truyền Zoledronic acid (Aclasta 
5 mg) mỗi năm một lần, ngoài ra bệnh nhân 
chỉ điều trị các thuốc canci, vitamin D trong 
điều trị loãng xương (không dùng thuốc 
trong nhóm Biphosphonat, và các thuốc 
điều trị loãng xương khác: hormon thay thế, 
calcitonin, protelos). Các bệnh nhân vẫn 
được tiếp tục điều trị theo chỉ định của thầy 
thuốc cho các bệnh lý phối hợp. 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
115
Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân loãng 
xương thứ phát, có mẫn cảm với nhóm thuốc 
Biphosphonat, có suy thận (với mức lọc cầu 
thận <30ml/phút), bệnh nhân nữ mạn kinh 
bị loãng xương có điều trị zoledronic acid 
nhưng không đo mật độ xương kiểm tra sau 
một năm điều trị. 
2. Phương pháp nghiên cứu: tiến 
cứu, có can thiệp điều trị, theo dõi dọc.
- Các bệnh nhân được khai thác tiền 
sử, bệnh sử, khám bệnh và xét nghiệm theo 
mẫu bệnh án nghiên cứ thống nhất. - Đo mật 
độ xương tại cột sống thắt lưng và cổ xương 
đùi trước điều trị và sau một năm điều trị 
Aclasta bằng máy đo mật độ xương tia X 
năng lượng kép DEXA (Hologic) tại khoa 
Y học hạt nhân (Bệnh viện TWQĐ 108). 
Mật độ xương hiển thị bằng chỉ số T-score. 
Máy tự động tính chỉ số T-score theo công 
thức của TCYTTG. Đánh giá kết quả: bình 
thường ≥ -1, thưa xương: -2,5< T-score < 
-1, loãng xương ≤ -2,5.
- Xử lý số liệu: theo phương pháp 
thống kê ứng dụng trong y học dựa trên 
phần mềm SPSS 16.0 (2009). 
 KẾT QUẢ
1. Đặc điểm nhóm bệnh nhân (phụ nhữ mạn kinh loãng xương) nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Đặc điểm X ± SD (n = 35)
Tuổi (năm) 61,2 ± 10,2 (46-72)
Chiều cao (m) 1,43 ± 0,46
Cân nặng (kg) 55,9 ± 3,8
BMI (kg/m2) 22,26 ± 1,36
Tuổi mãn kinh (năm) 48,24 ± 8,27
Thời gian mãn kinh (năm) 12,76 ± 6,48
MĐX (CSTL) (g/m2) O,61 ± 0,09
MĐX (CXĐ) (g/m2) O,63 ± 0,11
Nhận xét: 
Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu 
là 61,2 ± 10,2 (46-72) (tuổi thấp nhất 46, 
tuổi cao nhất 72), chỉ số khối cơ thể trung 
bình là 22,26 ± 1,36 (kg/m2), thời gian mãn 
kinh trung bình 12,76 ± 6,48 (năm).
Bảng 2. Một số bệnh lý kèm theo của nhóm nghiên cứu
 Bệnh kèm theo n %
Thoái hóa khớp 25 71,4
Tăng huyết áp 12 34,3
Bệnh lý dạ dày 21 60,0
Rối loạn chuyển hóa 19 54,3
Khác 3 8,6
Nhận xét: loãng xương ở phụ nữ mạn kinh trong nghiên cứu này chủ yếu có bệnh đi 
kèm là thoái hóa khớp chiếm 25/35 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 71,4%, tiếp theo là bệnh lý dạ 
dày chiếm 21/35 bệnh nhân (60%). 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
116
Bảng 3. Đặc điểm loãng xương ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi ở phụ nữ mãn 
kinh
Vị trí đo
T-score
trung bình
Cao nhất Thấp nhất
Tại cột sống thắt lưng (n=35) -3,96 ± 0,45 - 2,60 -5,40
 - Tại đốt sống L1 -4,32 ± 0,65 - 2,5 -5,4
 - Tại đốt sống L2 -4,13 ± 0,63 - 2,4 -5,1
 - Tại đốt sống L3 - 3,89 ± 0,51 - 2,7 -4,8
 - Tại đốt sống L4 - 3,54 ± 0,47 - 2,5 -5.0
Tại cổ xương đùi (n=35) -2,95 ± 0,79 -1,5 -4,2
- Tại vùng cổ xương đùi (Neck) - 3,66 ± 0,83 -1,5 -3,9
- Tại vùng tam giác Ward -4,08 ± 0,96 -1,7 -4,2
 Nhận xét: T-score trung bình toàn bộ tại cột sống thắt lưng thấp hơn so với tại cổ 
xương đùi (-3,96 ± 0,45) so với -2,95 ± 0,79 . Tại cột sống thắt lưng, mật độ xương tăng 
dần từ đốt sống lưng L1 đến L4. Tại cổ xương đùi, mật độ xương thấp nhất tại vùng tam 
giác Ward.
Bảng 4. Tình trạng xương trước điều trị của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Tình trạng xương, vị trí loãng 
xương, thưa xương
Nhóm nghiên cứu
(n = 35)
Tỷ lệ phần trăm
(%)
Loãng xương cột sống thắt lưng 35 100
Thưa xương cột sống thắt lưng 0 0
Loãng xương (cổ xương đùi) 27 77,1
Thưa xương (cổ xương đùi) 8 22,9
Loãng xương nặng (có tiền sử gãy 
xương hoặc lún xẹp đôt sống)
6 17,1
Nhận xét: Trong 35 BN nghiên cứu có 35/35 (100%) bị loãng xương ở CSTL, 27/35 
(77,1%) có cả loãng xương ở cổ xương đùi. Trong số loãng xương đó, có 6/35 (17,1%) có 
tiền sử gẫy xương và/ hoặc lún xẹp các đốt sống.
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
117
2. Đánh giá hiệu quả của Aclasta sau một năm điều trị loãng xương cho phụ nữ 
mạn kinh 
Bảng 5. Kết quả điều trị sau một năm điều trị bằng Aclasta.
Trước điều trị (T1)
(n = 35)
Sau 1 năm điều trị (T2)
(n = 35)
P
(t-test)
T score CSTL
- Tại đốt sống L1
- Tại đốt sống L2
- Tại đốt sống L3
- Tại đốt sống L4
-3,96 ± 0,76 
-4,32 ± 0,65
-4,13 ± 0,63
- 3,89 ± 0,51
- 3,54 ± 0,47
-3,35 ± 0,93 
- 3,75 ± 0,89
- 3,65 ± 0,72
- 3,27 ± 0,66
- 3,12 ± 0,58
<0,01
<0,01
<0,01
<0,01
<0,01
T score CXĐ
 - Tại vùng cổ xương 
đùi
- Tại vùng tam giác 
Ward
-2,95 ± 0,79 
- 3,66 ± 0,83
-4,08 ± 0,96
-2,13 ± 0,86 
- 3,25 ± 0,87
- 3,51 ± 0,93
<0,01
< 0,05
<0,05
Nhận xét: 
Giá trị T score ở vị trí CSTL ở thời điểm T2 (sau 1 năm điều trị ACLASTA) là –3,35 
đã tăng lên có ý nghĩa thống kê với p<0,01 so với thời điểm T1 là -3,96 (p < 0,01). Tương 
tự như vậy giá trị T score ở vị trí CXĐ ở thời điểm T2 là -2,13 đã tăng lên có ý nghĩa thống 
kê với so với thời điểm T1 là -2,95 (p<0,01). 
Bảng 6. Tình trạng mật độ xương ở vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi trước 
và sau một năm điều trị bằng Aclasta.
BMD ở CSTL BMD ở CXĐ
Trước 
 điều trị (N1)
Sau 1 năm 
điều trị (N2)
Trước 
 điều trị (N1)
Sau 1 năm 
điều trị (N2)
BMD bình 
thường
0 (0%) 0 (0%) 0 (0%) 2 (5,7%)
Giảm BMD 0 (0%) 12 (34,3%) 8 (22,9%) 14 (40,0%)
Loãng xương 35 (100%) 23 (65,7%) 27 (77,1%) 19 (54,3%)
p <0,0 5 p <0,05
Nhận xét. Có sự cải thiện các mức độ mật độ xương ở vị trí cột sống thắt lưng và cổ 
xương đùi của nhóm bệnh nhân nghiên cứu trước và sau một năm điều trị Aclsta, sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
118
Bảng 7. Tác dụng không mong muốn của ACLASTA
Tác dụng không mong muốn n %
Đau đầu 3 8,6
Đau cơ 7 20,0
Đau khớp 5 14,3
Sốt 3 8,6
Giả cúm 1 2,9
Nôn, buồn nôn 2 5,7
Không có tác dụng phụ 14 40%
Tổng 35 100%
Nhận xét:Các tác dụng không mong muốn hay gặp là đau cơ (20%), đau đầu (8,6%), 
sốt (8,6%). 
 BÀN LUẬN: 
1. Bàn về một số đặc điểm lâm sàng 
của nhóm nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 
35 phụ nữ mãn kinh đến khám và điều trị 
tại khoa Nội Thận – Khớp – Bệnh viện 
TƯQĐ 108 với độ tuổi trung bình là 61,2 
± 10,2 (46-72) (tuổi thấp nhất 46, tuổi cao 
nhất 72). Tuổi trung bình của nhóm nghiên 
cứu của chúng tôi cao hơn nhóm nghiên 
cứu của Trần Thị Minh Hoa trên 44 bệnh 
nhân loãng xương do dùng glucocorticoid 
(GC) điều trị các bệnh cơ xương khớp, có 
tuổi trung bình là 53,5+14,8 (bệnh nhân ít 
tuổi nhất là 28 tuổi nhiều tuổi nhất là 66 
tuổi), do cách đối tượng nghiên cứu của 
chúng tôi là phụ nữ đã mạn kinh [4]. Chiều 
cao, cân nặng và chỉ số khối cơ thể (BMI) 
trung bình của nhóm nghiên cứu tương ứng 
là 1,43 ± 0,46 (m), 55,9 ± 3,8 (kg) và 22,26 
± 1,36 kg/m2. Kết quả này cũng tương tự 
như trong nghiên cứu của Nguyễn Minh 
Sơn và cs trên 108 phụ nữ mạn kinh, với 
các dữ liệu thu được lần lượt là: Chiều cao 
1,53 ± 0,05 (m), cân nặng 53,46 ± 7,24 
(kg), BMI 22,79 ± 2,93 (kg/ m2) [9]. Tuổi 
mãn kinh trung bình của nhóm nghiên cứu 
là 48,24 ± 8,27 tuổi và thời gian hết kinh 
trung bình 12,76 ± 6,48 năm. Các kết quả 
nghiên cứu của Nguyễn Minh Sơn và cs 
cũng cho kết quả tương đồng với tuổi mạn 
kinh là 49,6 ± 2,89 (tuổi) và thời gian hết 
kinh trung bình là 15,2 ± 8,98 (năm) [9].
Trong nghiên cứu này, các bệnh lý đi 
kèm thường gặp là thoái hóa khớp chiếm 
71,4% (25/35BN), tiếp theo là bệnh lý dạ 
dày chiếm 60% (21/35 BN). Đây là điều 
đáng lưu ý cho các bác sĩ lâm sàng cần điều 
trị đồng thời loãng xương ở hai nhóm bệnh 
nhân này. Kết quả này cũng phù hợp với 
nghiên cứu của một số tác giả [3], người 
mắc các bệnh về khớp dễ bị loãng xương 
hơn người không mắc bệnh. Có thể người 
bị mắc các bệnh khớp sẽ bị giảm khả năng 
vận động do đau khớp, hoặc người mắc 
bệnh khớp làm ảnh hưởng tới quá trình 
chuyển hóa của xương. Những người mắc 
bệnh đường tiêu hóa có thể có ảnh hưởng 
đến sự hấp thu dinh dưỡng, calci, vitamin 
và cả quá trình chuyển hóa trong quá trình 
tạo xương.
Nghiên cứu chi tiết về vị trí loãng 
xương, chúng tôi thấy mật độ xương đo 
tại cột sống thắt lưng thấp hơn so với tại 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
119
cổ xương đùi, mật độ xương tăng dần từ 
đốt sống lưng L1 đến L4, cổ xương đùi có 
mật độ xương thấp nhất tại vùng tam giác 
Ward. Những kết quả trên cũng phù hợp 
với nghiên cứu của Nguyễn Minh Sơn và 
cs [9].
Nghiên cứu của chúng tôi có 100% 
(35/35 BN) bị loãng xương ở CSTL, 
77,1% (27/35BN) có cả loãng xương ở 
CXĐ. Trong đó, có 6/35 (17,1%) có tiền 
sử gẫy xương và/ hoặc lún xẹp các đốt 
sống (LX mức độ nặng). Nhóm NC của 
Nguyễn Minh Sơn và cs có tỷ lệ LX thấp 
hơn với 77/108 (71,30%) phụ nữ mạn kinh 
có LX ở CSTL và 22/108 (20,37%) CXĐ 
do chúng tôi chỉ chọn những bệnh nhân 
được chẩn đoán loãng xương để đưa vào 
nhóm điều trị zoledronic acid còn nghiên 
cứu trên tập trung vào biến đổi các markers 
chu chuyển xương ở phụ nữ mạn kinh nên 
chọn cả nhóm chỉ có thưa xương [8].
2 Bàn về hiệu quả của Aclasta sau 
một năm điều trị loãng xương cho phụ 
nữ mạn kinh 
Việc điều trị loãng xương nói chung 
đòi hỏi phải kết hợp nhiều biện pháp điều 
trị. Nhóm thuốc biphosphonate là một 
thuốc được lựa chọn hàng đầu, trong đó 
có Zoledronic acid (Aclasta) có tác dụng 
ức chế quá trình huỷ xương qua trung 
gian của huỷ cột bào, do ức chế enzyme 
Farmesyl pyrophosphate synthetase trong 
tế bào huỷ xương. Aclasta truyền tĩnh 
mạch làm thuốc phân bố nhanh vào xương 
và cũng giống như các Biphosphonat khác 
thuốc được gắn trước hết vào các vị trí 
có chu chuyển xương cao [4]. Hiện nay 
Zoledronic acid được cục quản lý dược 
phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA-Food 
& drug Administration) chỉ định điều trị 
cho năm nhóm bệnh loãng xương: loãng 
xương ở phụ nữ mãn kinh, phòng ngừa gãy 
xương, điều trị loãng xương ở nam giới, 
loãng xương do GC, và phòng ngừa loãng 
xương ở phụ nữ có giảm mật độ xương [7]. 
Nghiên cứu của chhúng tôi cho thấy 
mật độ xương ở cả cột sống thắt lưng và cổ 
xương đùi đều tăng lên có ý nghĩa thống 
kê sau 1 năm truyền zoledronic acid ở phụ 
nữ mạn kinh. 
Kết quả ở bảng 6 cho thấy ở thời điểm 
trước điều trị ở vị trí CSTL có 100% bệnh 
nhân ở mức độ loãng xương, ở vị trí cổ 
xương đùi có 77,1% bệnh nhân ở mức độ 
loãng xương, 22,9% giảm mật độ xương, 
không có bệnh nhân nào có mật độ xương 
bình thường. Sau một năm điều trị Aclasta 
chỉ còn 65,7% bệnh nhân ở mức độ loãng 
xương ở CSTL, 54,3% loãng xương ở 
CXĐ, và bệnh nhân giảm mật độ xương 
đã tăng lên 40%, có 2 bệnh nhân có mật độ 
xương ở giới hạn bình thường chiếm tỷ lệ 
5,7% (p < 0,05). Nghiên cứu của Trần Thị 
Minh Hoa trên 44 BN bị loãng xương thứ 
phát do glucocorticoid cũng cho thấy hiệu 
quả của zoledronic acid làm tăng mật độ 
xương sau 1 năm điều trị [4]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi 
không gặp các tác dụng không mong muốn 
nghiêm trọng như rối loạn nhịp tim, rung 
nhĩ, hoại tử xương hàm như y văn ghi nhận 
[3], [5]. Không có trường hợp nào rút khỏi 
nghiên cứu năm tiếp theo. Các triệu chứng 
thường gặp ở bệnh nhân trong vòng 5 ngày 
sau khi truyền aclasta chủ yếu là sốt, đau 
cơ khớp, hội chứng giả cúm, nôn với tỷ lệ 
gặp từ 2,9 đến 20% bệnh nhân nghiên cứu. 
Kết quả này cũng tương tự như nghiên cứu 
của Nguyễn Thị Ngọc Lan và cs. [5] . Các 
tác dụng không mong muốn này thường 
tự hết hoặc hết sau khi bổ sung dịch, dùng 
thuốc giảm đau hạ sốt, bổ sung đủ canxi, 
TAÏP CHÍ Y DÖÔÏC THÖÏC HAØNH 175-SOÁ 1/2015
120
không để lại hậu quả nghiêm trọng như 
các tai biến tim mạch, hoại tử xương hàm, 
bệnh nhân rút khỏi nghiên cứu năm tiếp 
theo.
 KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 35 phụ nữ mạn kinh 
bị loãng xương được điều trị bằng truyền 
tĩnh mạch zoledronic acid từ tháng 8/2012 
đến tháng 6/2014, chúng tôi rút ra kết luận 
như sau: 
- Đặc điểm nhóm nghiên cứu có liên 
quan đến loãng xương: tuổi cao, giới nữ, 
ít vận động, bệnh khớp và bệnh tiêu hóa 
kèm theo.
- Điều trị Zoledronic acid (Aclasta 5 
mg) truyền tĩnh mạch (khoảng 30 phút) 
mỗi năm một lần có hiệu quả cải thiện 
mật độ xương có ý nghĩa thống kê ở bệnh 
nhân nữ mạn kinh bị loãng xươngở cả 2 
vị trí cột sống thắt lưng và cổ xương đùi 
(p<0,05). Các tác dụng không mong muốn 
sau các lần truyền thuốc aclasta thường 
nhẹ, thoáng qua và không phải can thiệp 
điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Ân và cs (2005),”Nghiên 
cứu mật độ xương ở phụ nữ mãn kinh bằng 
phương pháp siêu âm”. Tài liệu hội nghị 
khoa học Hội thấp khớp học Việt Nam, 
chuyên đề Những tiến bộ mới trong chẩn 
đoán và điều trị bệnh lý cơ xương khớp; 
tr 89-97. 
2. Dennis MB, Devogelaer JP, Sang 
K, Roux C. (2009), “Zoledronic acid and 
risedronate in the prevention and treatment 
of glucocorticoid-induced osteoporosis 
(HORIZON): a multicenter double-blind, 
double-dummy, randomized controlled 
trial”, Lancet, 373: 1253-1263.
3. Lê Thu Hà (2007), “ Nghiên cứu 
tình trạng loãng xương ở 175 phụ nữ bằng 
phương pháp DEXA tại Bệnh viện Trung 
ương Quân độ 108”, Tạp chí Y Dược lâm 
sàng 108, tập 2 - số 3/2007, tr. 5 - 8.
4. Trần Thị Minh Hoa (2012), “Nghiên 
cứu hiệu quả cải thiện mật độ xương của 
ACID zoledronic sau một năm điều trị 
bệnh nhân loãng xương do glucocorticoid 
tại khoa khớp Bệnh viện Bạch Mai (2009-
2011), Tạp chí Y Dược lâm sàng 108, tập 
7 - số 1/2012, tr. 45 - 51.
5. Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị 
Như Hoa (2010), “Đánh giá hiệu quả và 
tác dụng không mong muốn tức thời của 
liệu pháp truyền Aclasta trong điều trị 
loãng xương tại khoa Cơ xương khớp, 
bệnh viện Bạch mai”, Y học lâm sàng, số 
18, 11: 22-26.
6. Rakel A, Boucher A, Ste-Marie 
LG.(2011), “ Role of Zoledronic acid in 
prevention and treatment of osteporosis”, 
Clin Interv Aging, p.89-99.
7. Relevent BNF (2008), “Annual 
zoledronic acid for osteoporosis”, Drug 
and Therapeutics Bulletin, 46: 93-96.
8. Nguyễn Minh Sơn và cs. (2012), 
“Nghiên cứu mật độ xương và nồng độ 
CTX huyết thanh ở phụ nữ mạn kinh”, 
Tạp chí y dược lâm sàng 108, Tập 7-Số 
đặc biệt, p. 61-65.
9. Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình 
Nguyên (2007), ”Loãng xương; Nguyên 
nhân, chẩn đoán , điều trị, phòng ngừa”, 
NXB Y Học, trang 13.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_cai_thien_mat_do_xuong_va_do_dung_nap_cua.pdf