Đánh giá giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh đến khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Giấc ngủ là một trong những nhu cầu sinh lý thiết yếu của cuộc sống. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá

chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân mắc những bệnh lý như tim mạch, thần kinh, nhưng lại rất ít nghiên cứu

đánh giá chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân nam khoa. Ngiên cứu này được thực hiện với mục tiêu khảo sát

chất lượng giấc ngủ và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân đến khám

tại Đơn vị Nam học và y học giới tính, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực

hiện trên 166 bệnh nhân được chọn thuận tiện khi đến khám tại đơn vị Nam học và y học giới tính, Bệnh viện

Đại học Y Hà Nội và đánh giá bằng thang điểm PSQI. Kết quả cho thấy 59% đối tượng nghiên cứu có giấc

ngủ kém với điểm PSQI > 5; hơn một nửa bệnh nhân không thể ngủ trong 30 phút; các yếu tố như rối loạn

cương dương, căng thẳng trong cuộc sống và lo lắng về bệnh tật có liên quan đến chất lượng giấc ngủ với p

< 0,05.="" tỷ="" lệ="" bệnh="" nhân="" có="" chất="" lượng="" giấc="" ngủ="" kém="" trên="" bệnh="" nhân="" đến="" khám="" nam="" học="" khá="" cao.="" có="" mối="">

quan giữa chất lượng giấc ngủ với rối loạn cương dương, căng thẳng trong cuộc sống, và lo lắng về bệnh tật

pdf 10 trang phuongnguyen 40
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh đến khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh đến khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Đánh giá giấc ngủ và một số yếu tố liên quan của người bệnh đến khám nam học tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
181TCNCYH 134 (10) - 2020
Tác giả liên hệ: Chu Thị Chi, 
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 10/10/2020
Ngày được chấp nhận: 03/12/2020
Hiện nay, tỷ lệ nam giới mắc các bệnh lý về 
nam khoa ngày càng phổ biến. Theo kết quả 
khảo sát năm 2014 với 154 nam giới tại TP Hồ 
Chí Minh và Hà Nội thì có tới 40% người mắc 
căn bệnh nam học, nhất là tình trạng xuất tinh 
sớm. Trong nghiên cứu của Cheng và cộng sự 
trên 462 bệnh nhân bị rối loạn cương dương, 
86,27% và 68,66% bệnh nhân bị lo âu và trầm 
cảm, chất lượng giấc ngủ và các triệu chứng 
lo lắng, lo âu ảnh hưởng đáng kể đến chức 
năng cương dương.1 Giấc ngủ lại là một trong 
những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của 
con người và chiếm đến một phần ba thời gian 
sống.2 Rối loạn giấc ngủ gây nhiều hậu quả tiêu 
cực đến sức khỏe, tâm lý, khả năng làm việc 
của bệnh nhân làm giảm chất lượng cuộc 
sống, gây ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả 
điều trị bệnh chính.3 Nghiên cứu gần đây chỉ ra 
rằng ngủ không đủ giấc, giấc ngủ bị gián đoạn, 
rối loạn giấc ngủ ảnh hưởng đến nhiều mặt của 
sức khỏe con người trong đó có chức năng tình 
dục. Trên thực tế, những bệnh nhân mắc bệnh 
tiết niệu hoặc rối loạn cương dương (ED) có thể 
bị rối loạn giấc ngủ góp phần vào rối loạn chức 
năng tiết niệu hoặc tình dục của họ.4 Hay trong 
nghiên cứu của Peter Y Liu năm 2019 giấc ngủ 
bất thường có liên quan đến tổng số lượng 
tinh trùng (ngủ không đủ giấc), cương dương 
rối loạn chức năng (giấc ngủ bị gián đoạn) và 
testosterone thấp (cả hai).5 Nhóm đối tượng 
trong nghiên cứu của Julie S. Young MD phản 
ánh rằng tiếng ồn và ánh sáng là yếu tố gây khó 
ngủ nhất.6 Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn 
Quang Tâm và Đoàn Văn Minh năm 2019 trên 
bệnh nhân đau thần kinh tọa, Tỷ lệ bệnh nhân 
ĐÁNH GIÁ GIẤC NGỦ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
CỦA NGƯỜI BỆNH ĐẾN KHÁM NAM HỌC 
TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Nguyễn Hoài Bắc1,Bùi Thị Oanh, Hoàng Thị Phương2 và Chu Thị Chi1, 
1Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
 2Trường Đại học Y Hà Nội
Giấc ngủ là một trong những nhu cầu sinh lý thiết yếu của cuộc sống. Đã có nhiều nghiên cứu đánh giá 
chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân mắc những bệnh lý như tim mạch, thần kinh,nhưng lại rất ít nghiên cứu 
đánh giá chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân nam khoa. Ngiên cứu này được thực hiện với mục tiêu khảo sát 
chất lượng giấc ngủ và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân đến khám 
tại Đơn vị Nam học và y học giới tính, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực 
hiện trên 166 bệnh nhân được chọn thuận tiện khi đến khám tại đơn vị Nam học và y học giới tính, Bệnh viện 
Đại học Y Hà Nội và đánh giá bằng thang điểm PSQI. Kết quả cho thấy 59% đối tượng nghiên cứu có giấc 
ngủ kém với điểm PSQI > 5; hơn một nửa bệnh nhân không thể ngủ trong 30 phút; các yếu tố như rối loạn 
cương dương, căng thẳng trong cuộc sống và lo lắng về bệnh tật có liên quan đến chất lượng giấc ngủ với p 
< 0,05. Tỷ lệ bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém trên bệnh nhân đến khám Nam học khá cao. Có mối liên 
quan giữa chất lượng giấc ngủ với rối loạn cương dương, căng thẳng trong cuộc sống, và lo lắng về bệnh tật.
Từ khóa: Chất lượng giấc ngủ, rối loạn cương dương, căng thẳng, lo âu.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
182 TCNCYH 134 (10) - 2020
có chất lượng giấc ngủ kém trên bệnh nhân 
đau thần kinh tọa là 78,9%, có mối liên quan 
giữa chất lượng giấc ngủ với tuổi, giới, mức độ 
đau.7 Tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu nào 
đánh giá về chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân 
Nam học, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
“Đánh giá giấc ngủ và một số yếu tố liên quan 
của bệnh nhân đến khám Nam học và YHGT - 
Bệnh viện Đại học Y Hà Nội ’’ với mục tiêu mô 
tả tình trạng chất lượng giấc ngủ và một số yếu 
tố của bệnh nhân đến khám tại khoa Nam học 
và y học giới tính, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
 II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
Tiêu chuẩn lựa chọn: Người bệnh đến 
khám tại Đơn vị Nam học và YHGT tại Bệnh 
viện Đại học Y Hà Nội và đồng ý tham gia nghiên 
cứu trong thời gian tiến hành nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại trừ:
 - Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên 
cứu.
 - Bệnh nhân bị rối loạn chất lượng giấc ngủ 
(CLGN) trước khi phát hiện bệnh lý nam khoa 
(khai thác qua các triệu chứng than phiền về 
thời gian cũng như chất lượng giấc ngủ)
2. Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 
Nghiên cứu thực hiện từ tháng 6 năm 2020 
đến tháng 7 năm 2020 tại Đơn vị Nam học và 
YHGT, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Kỹ thuật và công cụ thu thập thông tin
Kỹ thuật thu thập thông tin
Các bước thu thập thông tin: 
 - Lựa chọn bệnh nhân theo tiêu chuẩn lựa 
chọn 
 - Phỏng vấn trực tiếp theo nội dung của bộ 
câu hỏi.
Công cụ thu thập thông tin
 - Bộ câu hỏi phỏng vấn nghiên cứu chất 
lượng giấc ngủ được xây dựng trên bộ câu hỏi 
chỉ số chất lượng giấc ngủ PSQI (có sự tham 
khảo đến bản dịch tiếng Việt được sử dụng 
tại Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia) 8. Chỉ 
số PSQI là tổng hợp điểm của một bảng câu 
hỏi mà người được hỏi tham gia trả lời gồm 4 
câu hỏi có kết thúc mở, 14 câu hỏi khi trả lời 
cần dựa trên tần suất sự kiện (không, ít hơn 1 
lần/ tuần, 1 - 2 lần/tuần, 3 hoặc trên 3 lần/tuần) 
trên 7 phương diện: Chất lượng giấc ngủ chủ 
quan, thời gian để đi vào giấc ngủ, hiệu quả 
giấc ngủ theo thói quen (tỷ lệ toàn bộ thời gian 
ngủ và thời gian nằm trên giường), các yếu tố 
ảnh hưởng đến giấc ngủ, việc sử dụng thuốc 
kích thích giấc ngủ (bao gồm cả thuốc được 
kê đơn và không kê đơn) và những bất thường 
về thời gian ngủ trong ngày. Với số điểm dao 
động từ 0 - 21 điểm, với điểm càng cao thì chất 
lượng giấc ngủ càng kém, nếu tổng điểm PSQI 
lớn hơn 5 điểm thì đánh giá có chất lượng giấc 
ngủ kém.Độ nhạy đạt 89,6%, độ đặc hiệu đạt 
86,5%. 
 - Bộ câu hỏi về chức năng cương dương 
quốc tế - IIED - 59: năm 1999 nhằm đơn giản 
hóa và tạo thuận lợi trong nghiên cứu dịch tễ 
học, RC Rosen và CS đã phát triển thang điểm 
IIEF - 5 gồm 5 câu hỏi có tổng điểm là 25, có 
độ nhạy là 98% và độ đặc hiệu là 88%. Trong 
đó rối loạn cương dương được chia theo điểm 
như sau: 5 - 7 là nặng, 8 – 11 là vừa, 12 - 16 là 
nhẹ đến vừa, 17 – 21 là nhẹ và trên 21 là bình 
thường.
 - Bộ công cụ DASS 21 đánh giá lo âu của 
người bệnh với thang điểm từ 0 - 21 điểm (mỗi 
câu hỏi có số điểm từ 0 - 3 điểm):10
 + Tổng điểm từ 0 - 7: bình thường
 + Tổng điểm từ 8 - 9 điểm: lo âu nhẹ
 + Tổng điểm từ 10 - 14 điểm: lo âu vừa
 + Tổng điểm từ 15 - 19 điểm: lo âu nặng
 + Tổng điểm ≥ 20: lo âu rất nặng.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
183TCNCYH 134 (10) - 2020
3. Xử lý số liệu
 Sử dụng phần mềm SPSS 22.0 để xử lý và 
phân tích dữ liệu
4. Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu được Hội đồng Khoa 
học Bệnh viện Đại học Y Hà Nội phê duyệt. 
Số liệu điều tra được bảo mật và chỉ phục vụ 
cho mục đích nghiên cứu, nghiên cứu đảm 
bảo không ảnh hưởng đến chất lượng điều trị 
của bệnh viện, sức khỏe, quyền lợi kinh tế của 
người bệnh, cũng như không gây phiền hà cho 
người bệnh và nhân viên y tế.
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
50,6% bệnh nhân ở lứa tuổi ≤ 30 tuổi, chủ yếu sống ở khu vực thành thị (60,2%), không có nhiều 
sự chệnh lệch giữa 2 nhóm trình độ học vấn trên và dưới THPT (48,8% và 51,2%). Tỷ lệ nhóm 
nghiên cứu đã lập gia đình là 53,0%, đang sống cùng người thân là 80,7% và kinh doanh, tự do là 
45,8%. Nhóm có thu nhập bình quân ≥5 triệu đồng chiếm 75,3%.
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu ( n = 166)
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Tuổi
≤ 30 84 50,6
31 - 50 67 40,4
 > 50 15 9
Mean±SD (Min – Max) 3,5±11,0 (17 – 64)
Nơi sống
Nông thôn 66 39,8
Thành thị 100 61,2
Tình trạng hôn nhân
Đã kết hôn 88 53,0
Độc thân 76 45,8
Ly dị/ly thân/góa 2 1,2
Trình độ học vấn
Dưới THPT/THPT 81 48,8
Trên THPT 85 51,2
Nghề nghiệp
Nông dân, công nhân 22 13,2
HSSV, viên chức, hưu trí 68 41,0
Kinh doanh, tự do 76 45,8
Sống cùng với
Gia đình 134 80,7
Người quen 10 6,0
Một mình 22 13,3
Thu nhập bình quân
 < 5 triệu 41 24,7
≥5 triệu 125 75,3
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu là lần đầu tiên đến khám là 59,6%, có 9,6% đối tượng đã từng làm 
phẫu thuật, thủ thuật liên quan đến Nam học và YHGT. Hầu hết bệnh nhân đều không sử dụng thuốc 
giảm đau hoặc thuốc an thần trước khi ngủ (96,4% và 98,25), 47,6% bệnh nhân không có thói quen 
sử dụng các chất kích thích.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
184 TCNCYH 134 (10) - 2020
Bảng 2. Đặc điểm tiền sử và sử dụng chất kích thích của bệnh nhân
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Số lần đến khám Nam học và 
YHGT
Lần 1 99 59,6
Lần 2 36 21,7
Lần 3 16 9,6
 > 3 lần 15 9,0
Từng làm phẫu thuật, thủ thuật 
liên quan đến Nam học và YHGT
Có 16 9,6
không 150 90,4
Sử dụng thuốc giảm đau trước 
khi ngủ
Có 6 3,6
Không 160 96,4
Sử dụng thuốc an thần trước khi 
ngủ
Có 3 1,8
Không 163 98,2
Sử dụng chất kích thích
Không dùng 79 47,6
Rượu, bia 62 37,3
Café 14 8,4
Thuốc lá 31 18,7
Khác 3 1,8
Chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân đến khám tại Nam học và YHGT
Bảng 3. Đặc điểm về thói quen ngủ
Đặc điểm Phân loại Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Tư thế nằm ngủ
Nằm ngửa 50 30,1
Nằm nghiêng 21 1,6
Thay đổi liên tục 95 57,2
Sự lăn trở thường xuyên
Không thay đổi tư thế 37 2,3
Khoảng 2 - 3 giờ / lần 8 4,8
3 - 4 lần / ngày 9 5,4
Lăn trở liên tục 112 67,5
Tỷ lệ bệnh nhân thay đổi tư thế ngủ liên tục và lăn trở thường xuyên cao, lần lượt là 57,2% và 
67,5%. 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
185TCNCYH 134 (10) - 2020
Biểu đồ 1. Chất lượng giấc ngủ của bệnh nhân theo thang điểm PSQI (n = 166)
Đa số đối tượng nghiên cứu có giấc ngủ kém.
Bảng 4. Các thành phần trong PSQI (n = 166)
Biến Trung bình SD
Điểm PSQI 5,68 3,15
Chất lượng giấc ngủ chủ quan 0,63 0,76
Rối loạn giấc ngủ 0,75 0,46
Giữ tinh táo trong ngày 0,25 0,66
Mức độ khó ngủ (phút) 18,86 15,77
Thời gian ngủ (giờ) 6,66 0,89
Thời gian nằm trên giường (giờ) 6,98 0,89
Hiệu suất giấc ngủ (%) 95,47 3,78
Điểm trung bình PSQI là 5,68 (SD = 3,15). Trung bình đánh giá chất lượng giấc ngủ chủ quan 
và rối loạn giấc ngủ của đối tượng nghiên cứu là 0,63 và 0,75 với SD lần lượt là 0,76 và 0,46. Thời 
gian trung bình để bệnh nhân đi vào giấc ngủ là 18,86 phút với SD = 15,77. Thời gian ngủ trung bình 
là 6,66 giờ (SD = 0,89) trong khi thời gian nằm trên giường trung bình là 6,98 giờ (SD = 0,89). Hiệu 
xuất giấc ngủ trung bình cao với 95,47% (SD = 3,78). 
Bảng 5. Kết quả các thành phần của điểm PSQI (n = 166)
Thành phần của PSQI Đặc điểm Tỉ lệ %
Độ trễ khi ngủ
Có thể ngủ trong vòng 30 phút 44
Không thể ngủ trong vòng 30 phút 56
Hiệu suất giấc ngủ
≥85% 97
 < 85% 3
Vấn đề gây mất ngủ
Tỉnh dạy lúc nửa đêm hoặc quá sớm vào buổi sáng 47
Phải thức dạy để sử dụng phòng tắm 29,5
Khó thở 6
41%
59%
Tốt Kém
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
186 TCNCYH 134 (10) - 2020
Thành phần của PSQI Đặc điểm Tỉ lệ %
Ho hoặc ngáy to 11,4
Cảm thấy rất lạnh 7,2
Cảm thấy rất nóng 7,2
Gặp ác mộng 7,8
Thấy đau 8,4
Phải sử dụng thuốc 
Người dùng không 98,2
Uống thuốc ngủ 1,8
Khả năng giữ tỉnh táo trong ngày
Không cần gắng sức giữ tỉnh táo vào ban ngày 94,9
Khó giữ tỉnh táo vào ban ngày 5,1
56% đối tượng nghiên cứu không thể ngủ được trong vòng 30 phút, hiệu suất giấc ngủ cao với 
97% bệnh nhân có hiêu suất giấc ngủ ≥85%, tỉnh dạy đi tiểu đêm là vấn đề thường gặp nhất của đối 
tượng nghiên cứu với 47%. Phần lớn bệnh nhân không cần sử dụng thuốc để ngủ và có khả năng 
giữ tỉnh táo vào ban ngày với tỷ lệ lần lượt là 98,2% và 94,9%. 
Biểu đồ 2. Chỉ số tự đánh giá về chức năng cương dương của BN (n = 166)
Biểu đồ 3. Đánh giá mức độ lo âu của BN (n = 166)
5%
52%
43%
Chưa từng quan hệ 
Có rối loạn chức năng cương 
dương
Không có rối loạn chức năng 
cương dương
161 (97%)
2 (1,2%) 3 (1,8%)
Bình thường Lo âu nhẹ Lo âu vừa 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
187TCNCYH 134 (10) - 2020
43% đối tượng nghiên cứu có rối loạn cương dương và 97% bệnh nhân có ngưỡng lo âu trong 
mức bình thường được thể hiện trong biểu đồ 3.2 và biểu đồ 3.3.
2. Mối quan hệ giữa chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan
Căng thẳng trong cuộc sống, rối loạn cương dương và lo lắng về bệnh tật có mối liên quan đến 
chất lượng giấc ngủ, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và khoảng 95% CI không chứa 1.
Bảng 6. Mối liên quan về một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và chất lượng giấc ngủ
Đặc điểm
Chất lượng giấc ngủ (PSQI) 
OR 95%CI
Tốt (n) Kém (n)
Khu vực sinh sống
Thành thị 44 56 1,47
0,772 – ,789
Nông thôn 24 42 1
Nghề nghiệp
CN/ND 8 14 0,724 0,268 – 1,951
Viên chức/hưu trí 30 38 1
Kinh doanh/tự do 30 46 0,876 0,328 – ,341
Số lần đi khám nam học
1 40 59 1
0,503 – 1,773
≥ 1 28 39 0,944
Sử dụng thuốc giảm đau
Có 1 4 0,351
0,038 – 3,209
Không 67 94 1
Sử dụng thuốc an thần
Có 0 3 1
1,507 – 1,954
Không 68 94 1,716
Vấn đề căng thẳng trong cuộc sống
Có 54 59 ,55
1,249 – 5,204
Không 14 39 1
Chức năng cương dương
Không rối loạn 31 64 0,445
0,236 – 0838
Có rối loạn 37 34 1
Lo lắng về bệnh tật
Có 18 50 0,442
0,226 – 0,863
Không 44 54 1
IV. BÀN LUẬN
Qua bảng kết quả 1 ta thấy sự phân bố độ tuổi của đối tượng nghiên cứu chủ yếu là ≤ 30 tuổi 
(50,6%); 59,6% bệnh nhân là lần đầu tiên đến khám; 9,6% đã từng làm phẫu thuật, thủ thuật liên quan 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
188 TCNCYH 134 (10) - 2020
đến Nam học và YHGT. Phần lớn bệnh nhân 
đều không sử dụng thuốc giảm đau hoặc thuốc 
an thần trước khi ngủ (96,4% và 98,25%). Gần 
một phần hai đối tượng nghiên cứu không có 
thói quen sử dụng các chất kích thích (47,65%). 
Các tỷ lệ này gần tương tự với chỉ số nghiên 
cứu của Daniel J. Buysse năm 1991.11 Sau khi 
tổng hợp và tính toán các yếu tố cấu thành bảng 
điểm PSQI, chúng tôi đưa ra kết quả 98 bệnh 
nhân (59%) có giấc ngủ kém. Tỷ lệ này thấp 
hơn nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Phương 
và cộng sự năm 2018 với 87,2% bệnh nhân có 
giấc ngủ kém.12 Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, thời gian ngủ trung bình buổi tối là 6,66 ± 
0,89 giờ, thấp hơn so với kiến nghị của trong 
nghiên cứu của National Sleep Foundation Hoa 
Kỳ (NSF).7
56% bệnh nhân đều không thể ngủ trong 
vòng 30 phút tỉnh dậy lúc nửa đêm hay thức 
giấc sớm (47%), tương tự với kết quả nghiên 
cứu của năm 2018 của Nguyễn Hoàng Phương 
với tỷ lệ lần lượt là 56,8% và 59,8%. Tỷ lệ đối 
tượng nghiên cứu có rối loạn cương dương là 
43%. Mức độ lo âu ở ngưỡng bình thường là 
97%, khả quan hơn rất nhiều so với kết quả 
nghiên cứu của QS Cheng và cộng sự năm 
2017 khi có 86,27% và 68,66% bệnh nhân bị 
lo âu và trầm cảm.1 Sự chênh lệch giữa các kết 
quả có thể do sự khác biệt về bệnh lý của các 
đối tượng nghiên cứu. 
Theo kết quả ở bảng 6 chỉ số PSQI trung 
bình có xu hướng tăng dần ở bệnh nhân có 
rối loạn cương dương, có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê về chỉ số PSQI giữa bệnh nhân 
không rối loạn chức năng cương dương và 
những bệnh nhân có rối loạn chức năng cương 
dương, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p 
< 0,05(CI: 0,236 – 0,838). Kết quả nghiên cứu 
của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Q.S 
Cheng, 2016.13 Chất lượng giấc ngủ và các 
triệu chứng lo lắng ảnh hưởng đáng kể đến 
chức năng cương dương, trong Nghiên cứu 
của chúng tôi cho thấy chất lượng giấc ngủ có 
thể là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến 
chức năng cương dương theo dữ liệu cá nhân.
Căng thẳng và sự lo lắng về bệnh tật: 
Nghiên cứu trên 166 bệnh nhân đến khám tại 
đơn vị Nam học và YHGT – Bệnh viện Đại học 
Y Hà Nội cho thấy sự căng thẳng và lo lắng về 
bệnh tật có liên quan đáng kể đến chất lượng 
giấc ngủ của bệnh nhân (p < 0,05), kết quả có ý 
nghĩa thống kê với khoảng tin cậy 95% lần lượt 
là 1,249 – 5,204 và 0,226 – 0,863. Những bệnh 
nhân căng thẳng và lo lắng về bệnh tật nhiều 
thì tỉ lệ chất lượng giấc ngủ càng thấp, kết quả 
này tương tự với nghiên cứu của Jessica M 
Blaxton, 2017 14 chất lượng giấc ngủ kém hơn 
đối với người trải qua áp lực và căng thẳng.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu trên 166 bệnh nhân đến khám 
Nam học và YHGT tại Bệnh viện Đại học Y Hà 
Nội có: 59% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ 
kém với điểm PSQI trung bình là 5,68 ± 3,15; 
dạng rối loạn chất lượng giấc ngủ thường gặp 
là không thể ngủ trong vòng 30 phút chiếm tỷ 
lệ 56%; chức năng cương dương, căng thẳng 
trong cuộc sống và lo lắng về bệnh tật có liên 
quan đến chất lượng giấc ngủ, sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê với p < 0,05 với khoảng tin cậy 
95% CI không chứa 1. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cheng Q, Liu T, Huang H, Peng Y, Jiang 
S, Mei X. Association between personal basic 
information, sleep quality, mental disorders 
and erectile function: a cross - sectional study 
among 334 Chinese outpatients. Andrologia. 
2017;49(3):e12631. 
2. Kraftl P, Horton J. Spaces of every - night 
life: for geographies of sleep, sleeping and 
sleepiness. Progress in Human Geography. 
2008;32(4):509 - 524. 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
189TCNCYH 134 (10) - 2020
3. Cheng JYW, Ng EML, Chen RYL, Ko JSN. 
Alcohol consumption and erectile dysfunction: 
meta - analysis of population - based studies. 
4. Cho JW, Duffy JF. Sleep, Sleep Disorders, 
and Sexual Dysfunction. The world journal 
of men’s health. Sep 2019;37(3):261 - 275. 
doi:10.5534/wjmh.180045
5. Liu PY. A Clinical Perspective of Sleep and 
Andrological Health: Assessment, Treatment 
Considerations, and Future Research. 
The Journal of clinical endocrinology and 
metabolism. Oct 1 2019;104(10):4398 - 4417. 
doi:10.1210/jc.2019 - 00683
6. Young JS, Bourgeois JA, Hilty DM, Hardin 
KA. Sleep in hospitalized medical patients, part 
1: factors affecting sleep. Journal of hospital 
medicine: an official publication of the Society 
of Hospital Medicine. 2008;3(6):473 - 482. 
7. Nguyễn Quang Tâm TVM. Chất lượng 
giấc ngủ và các yếu tố liên quan theo y học 
cổ truyền ở bệnh nhân đau thần kinh tọa. Tạp 
chí Y Dược học - Trường Đại học Y Dược Huế. 
2019;9( 1)
8. Buysse DJ, Reynolds CF, 3rd, Monk TH, 
Berman SR, Kupfer DJ. The Pittsburgh Sleep 
Quality Index: a new instrument for psychiatric 
practice and research. Psychiatry research. 
May 1989;28(2):193 - 213. 
9. Rosen RC, Riley A, Wagner G, Osterloh IH, 
Kirkpatrick J, Mishra A. The international index 
of erectile function (IIEF): a multidimensional 
scale for assessment of erectile dysfunction. 
Urology. 1997;49(6):822 - 30. doi: 10.1016/
s0090 - 4295(97)00238 - 0. 
10. DohyunLee. The convergent, 
discriminant, and nomological validity of the 
Depression Anxiety Stress Scales - 21 (DASS 
- 21). Journal of Affective Disoders. 30 June 
2019.;259:136 - 142
11. Buysse DJ, Reynolds III CF, Monk TH, 
Hoch CC, Yeager AL, Kupfer DJ. Quantification 
of subjective sleep quality in healthy elderly men 
and women using the Pittsburgh Sleep Quality 
Index (PSQI). Sleep. 1991;14(4):331 - 338. 
12. Ngô HH, Vũ TMP. Chất lượng giấc ngủ 
và một số yếu tố liên quan ở người bệnh tăng 
huyết áp điều trị ngoại trú tại bệnh viện Đa khoa 
tỉnh Nam Định/Vũ Thị Minh Phượng. 2018;
13. Lawrence M, Junior FTC, Matozinho 
HH, Govan L, Booth J, Beecher J. Yoga for 
stroke rehabilitation. Cochrane Database of 
Systematic Reviews. 2017;(12)
14. Hà BNTV, Tươi KLT, Dung KVP. Nâng 
cao hiệu quả phục hồi chức năng bằng sử dụng 
bóng theo nhóm cho bệnh nhân tai biến mạch 
máu não. 2019;
Summary
EVALUATION OF SLEEP AND RELATED FACTORS AT THE 
ANDROLOGY CLINIC OF HANOI MEDICAL UNIVERSITY 
HOSPITAL
Sleep is one of the essential physiological needs of life. There have been many studies 
evaluating the sleep quality of cardiovascular and neurological diseases, but here are quite rare 
studies about the assessment of sleep quality of male patients. So we conducted this study with 
two purposes: assessing the quality of sleep and identifying factors related to the quality of sleep 
of patients who were examined at the Andrology Center, Hanoi Medical University Hospital. A 
cross - sectional descriptive study was conducted on 166 patients who were conveniently selected 
for examination and evaluated by PSQI score. Results showed that 59% of the study subjects 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
190 TCNCYH 134 (10) - 2020
had poor sleep with PSQI scores > 5; more than half of patients could not sleep for 30 minutes; 
erectile dysfunction, stress in life and anxiety about illnesses were related to sleep quality with 
p < 0.05. The rate of patients who had poor sleep quality was quite high. There was significant 
relationship between sleep quality and erectile dysfunction, stress in life, and anxiety about illness.
Keywords: Sleep quality, erectile dysfunction, nervousness, anxiety. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_giac_ngu_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_cua_nguoi_benh.pdf