Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển

Mục tiêu: Xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi

ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng

thai kém phát triển.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

trên 74 sản phụ có tuần thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán thai kém phát

triển có trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai,

điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 05/2016

đến 05/2017.

 

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển

Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
41
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 41 - 47, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Võ Văn Đức, Cao Ngọc Thành 
Đại học Y Dược Huế
ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ NGƯỠNG CẮT ƯỚC LƯỢNG
TRỌNG LƯỢNG THAI NHI Ở MỨC BÁCH PHÂN VỊ
THỨ BA SO VỚI TUỔI THAI TRONG CHẨN ĐOÁN,
TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI KỲ THAI KÉM PHÁT TRIỂN
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Trần Thảo Nguyên, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: thai nhẹ cân, thai 
kém phát triển, bách phân vị.
Keywords: small-gestational 
age, intrauterine growth 
restriction, percentile.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi 
ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng 
thai kém phát triển. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 
trên 74 sản phụ có tuần thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán thai kém phát 
triển có trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai, 
điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 05/2016 
đến 05/2017. 
Kết quả: Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng tần suất 
rối loạn tăng huyết áp thai kỳ so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi 
từ 3rd – 10th . Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút thuốc lá thụ động 
sẽ tăng nguy cơ thai có trọng lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt 
là 1,18 lần (RR = 1,18, 95% CI (0,58 – 2,38), p = 0.036) và 1,46 ( RR 
= 1,46, 95% CI 1,24 – 1,71); Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 
3rd tăng nguy cơ bất thường động mạch rốn, ống tĩnh mạch so với nhóm 
có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th với RR lần lượt là 1,61 và 
1,58. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd có MPI cao hơn so 
với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd - 10th ( 0,66 ± 0,30 so với 
0,51 ± 0,12). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile đều 
tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm có ước lượng trọng lượng 
thai nhi từ 3rd - 10th percentile, bao gồm tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 
7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ năm, tăng 
nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 
3rd – 10th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 2,31. 
Kết luận: Nghiên cứu cho thấy có những biến đối về mặt lâm sàng 
cũng như kết cục thai kỳ ở ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi 
ngang mức bách phân vị thứ 3 sơ với tuổi thai. Điều này sẽ giúp các bác 
sĩ lâm sàng có những tư vấn và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng 
< 10th percentile thích hợp hơn.
Từ khóa: thai nhẹ cân, thai kém phát triển, bách phân vị.
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
42
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Abstract 
ASSESSMENT OF THE CUT - OFF VALUES OF SONOGRAPHIC ESTIMATED 
FETAL WEIGHT AT 3rd PERCENTILE IN DIAGNOSIS AND PROGNOSIS 
INTRAUTERINE GROWTH RESTRICTION
Objectives: To identify the value of cut-off sonographic-estimated fetal weight at 3rd percentile in 
diagnosis and prognosis in pregnancies complicated by fetal growth restriction. 
Materials & Methods: A cross-sectional study was conducted on 74 cases of intrauterine growth 
restriction with an estimated fetal weight less than 10th percentile, at Departement of Obstetric and 
Gynecology of Hue University of Medicine and Pharmacy from 05/2016 – 05/2017. 
Results: Fetuses with estimated fetal weight below the 3rd had higher rates of hypertensive 
disorders of pregnancy; anemia (RR = 1,18, 95% CI (0.58 – 2.38)); secondhand smoke (RR = 1.46, 
95% CI (.24 – 1.71)); abnormal umbilical artery Doppler wareforms (RR = 1.61); abnormal ductus 
venous Doppler wareforms ( RR = 1.58). MPI was higher at the group of fetuses had estimated fetal 
below the 3rd percentile ( 0.66 ± 0.30 so với 0.51 ± 0.12). Fetuses with estimated fetal weight below 
the 3rd had higher rates of Apgar scores of less than 7 at 1 minute ( RR = 2.02 ); Apgar scores of less 
than 7 at 5 minutes ( RR = 2.25 ); prenatal death (RR = 2.31). 
Conclusions: Studies show that there were differences about clinical and pregnancy outcomes at 
cut-off of sonographic-estimated fetal weight at 3rd percentile. This will help clinicians in counseling 
and management of pregnancy with sonographic-estimated fetal weight below 10th percentile.
Key words: small-gestational age, intrauterine growth restriction, percentile
1. Đặt vấn đề
Thai chậm phát triển trong tử cung là tình trạng 
thai nhi thiếu dinh dưỡng xảy ra từ khi còn bào 
thai. Tỷ lệ thai chậm phát triển khoảng 5-10% trên 
tổng số thai kỳ. Đây là nguyên nhân đưa đến nhiều 
kết cục chu sinh bất lợi, thậm chí ảnh hưởng đến 
thời kỳ trưởng thành của thai nhi. Thai kém phát 
triển có các dạng biểu hiện lâm sàng: thai kém 
phát triển, thai nhẹ cân [3], [5], [13]. Trên y văn 
cũng như trong những hướng dẫn của các Hiệp hội 
sản phụ khoa, ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng 
thai nhi < 10th percentile được sử dụng để chẩn 
đoán thai nhẹ cân và thai kém phát triển [4], [10].
Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng như những 
bài tổng quan trong những năm gần đây cho thấy 
rằng cần có sự phân biệt giữa thai nhẹ cân và thai 
kém phát triển, vì trong nhóm thai có ước lượng 
trọng lượng < 10th vẫn có những thai nhi chỉ nhẹ cân 
đơn thuần, không kèm theo những biến đổi bệnh lý 
[6], [12], [15]. Điều này đặt ra câu hỏi cho những 
nhà nghiên cứu cũng như bác sĩ sản khoa trong 
nhận dạng thai kém phát triển. Để tiệm cận hơn 
với nhóm thai kém phát triển thật sự là nhóm thai 
có tình trạng hạn chế tăng trưởng kèm những biến 
đổi trên doppler cho thấy có sự tái phân bố tuần 
hoàn đáp ứng lại với tình trạng suy dinh dưỡng, 
thiếu oxy cũng như những biến đổi bệnh lý của bánh 
nhau hay trong những trường hợp có yếu tố nguy 
cơ kèm theo như bệnh lý tiền sản giật, ngưỡng cắt 
ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd được đưa vào 
nghiên cứu và những bài tổng quan cập nhật về 
thai kém phát triển [3], [6]. Việc chẩn đoán thai 
kém phát triển không thể chỉ dựa vào một tiêu chuẩn 
hoặc cân nặng hoặc biến đổi doppler động mạch 
rốn, động mạch não giữa hay chỉ số não nhau mà 
cần có sự kết hợp giữa những tiêu chuẩn này. Ở Việt 
Nam, chưa có nghiên cứu đánh giá ý nghĩa ngưỡng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
43
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 41 - 47, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th trong nhận 
dạng thai kém phát triển, lí do nghiên cứu chúng 
tôi lựa chọn ngưỡng cắt 3th percentile để thực hiện 
nghiên cứu “Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng 
trọng lượng thai nhi ở bách phân vị thứ ba trong 
chẩn đoán và tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém 
phát triển” với mục tiêu: Xác định ý nghĩa giá trị 
ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức 
bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán 
và tiên lượng thai kém phát triển
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu
74 sản phụ mang thai đơn thai ≥ 28 tuần có ước 
lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm dưới bách 
phân vị thứ 10 theo tuổi thai nhập viện và điều trị 
tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện trường Đại học Y Dược 
Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 5 năm 2017.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đa thai
- Sau sinh có trọng lượng trên bách phân vị thứ 
10 so với tuổi thai
- Mất dấu trong quá trình theo dõi
2.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
- Các bước tiến hành
 + Thu thập thông tin bệnh sử và tiền sử: Số 
lần mang thai, tiền sử mang thai kém phát triển, 
cân nặng trước khi mang thai, tăng cân trong thai 
kỳ, hút thuốc thụ động.
 + Khám lâm sàng: Xác định tuổi mẹ, chiều 
cao, cân nặng mẹ, chỉ số BMI, cân nặng bố, đo huyết 
áp, xét nghiệm công thức máu xác định chỉ số HGB; 
xác định tuổi thai ngày đầu kỳ kinh nguyệt nếu kinh 
nguyệt đều hoặc theo siêu âm trong ba tháng đầu.
 + Thực hiện test không đã kích: Xác định 
kết quả NST bình thường, nghi ngờ hay bất thường 
theo tiêu chuẩn của FIGO [1].
 + Siêu âm hai chiều:
 Tiến hành đo các thông số sinh 
trắc học của thai nhi: đường kính lưỡng đỉnh, chu 
vi đầu, chu vi bụng và xương đùi
 Trọng lượng thai nhi được tính 
theo công thức Hadlock dựa trên các thông số sinh 
trắc học thai nhi. Ghi nhận chỉ số cân nặng và 
xác định bách phân vị thai nhi ≤ 3rd percentile, 
từ 3rd – 10th theo tiêu chuẩn biểu đồ phát triển 
INTERGROWTH-21st [10].
Xác định chỉ số AFI: Cạn ối nếu AFI < 2 cm, 
Thiếu ối nếu 2 cm < AFI < 5cm; Nước ối bình 
thường: 5 cm < AFI < 25 cm.
 + Siêu âm doppler: doppler động mạch 
rốn, động mạch não giữa, ống tĩnh mạch, chỉ 
số hiệu suất cơ tim (MPI); xác định chỉ số PI của 
doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và 
ống tĩnh mạch; xác định hình thái bất thường của 
doppler động mạch rốn, ống tĩnh mạch 
 + Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ: 
tuần thai kết thúc thai kỳ; Phương pháp sinh: sinh 
đường âm đạo, sinh mổ chủ động, mổ cấp cứu; 
Trọng lượng thai nhi; Chỉ số Apgar sau sinh ở phút 
thứ 1 và phút thứ 5; Tình trạng thai nhi: Sống, chết 
tiền sinh trong buồng tử cung, chết thời kỳ sơ sinh; 
Nhập viện điều trị tại đơn vị sơ sinh.
2.3. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng 
phần mềm IBM SPSS Statistic 20.0
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Một số đặc điểm và yếu tố nguy 
cơ mẹ có thai kém phát triển
Không có sự khác biệt về trung bình tuổi mẹ 
và BMI trước mang thai ở nhóm ước lượng trọng 
lượng thai nhi nhỏ hơn BPV thứ 3 và nhóm BPV 
3rd – 10th (27,7 ± 5,3 vs 26,3 ± 4,7 và 20,2 ± 2,9 
vs 19,7 ± 2,3).
Đặc điểm < 3
th 
percentile
3th - 10th 
percentile RR 95% CI p
Tuổi 27,7 ± 5,3 26,3 ± 4,7
BMI trước khi có thai 20,2 ± 2,9 19,7 ± 2,3
Tăng cân trong thai kỳ 10,8 ± 3,7 10,5 ± 4,6
Chiều cao trung bình của mẹ (cm) 150,5 ± 5,5 152,6 ± 5,2
Chiều cao trung bình của bố (cm) 164,3 ± 10,0 164,5 ± 6,0
Thai con so 
27 15
0,86 0,63-1,16 0,5724 8
Rối loạn tăng 
huyết áp
Có 16 (31,37%) 6 (26,08%)
1,19 0,55 – 2,6 0,65không 35 (68,63%) 17 (73,92%)
Hút thuốc thụ 
động
Có 15 (29,41%) 8 (34,78%)
1,18 0,58 – 2,38 0,036không 36 (70,59%) 15 (65,22%)
TS có thai kém 
phát triển
Có 8 (15,68%) 1 (4,35%)
1,34 1,00 – 1,80 0,3không 43 (84,31%) 22 (95,65%)
Hb < 10 g/dL
Thiếu máu 3 0
1,45 1,24 – 1,71Không thiếu máu 49 22
Bảng 3.1. So sánh đặc điểm của mẹ và một số yếu tố nguy cơ
PI trung bình động mạch não giữa nhóm có ước 
lượng trọng lượng thai nhi < 3th thấp hơn so với 
nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th. 
Tần suất bất thường doppler ống tĩnh mạch (mất 
sóng a hoặc đảo ngược sóng a) cao ở nhóm có 
ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd với ước lượng 
trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường 
doppler ống tĩnh mạch gấp 1,58 lần so với nhóm 
có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th, 
95% CI (0,35 – 7,02). Không có sự khác biệt về 
chỉ số PI trung bình ống tĩnh mạch giữa hai nhóm 
(0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0,30). Có sự khác biệt 
về chỉ số MPI giữa hai nhóm, nhóm có ước lượng 
trọng lượng thai nhi < 3rd có MPI cao hơn so với 
nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd - 10th 
(0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12)
3.3. Kết cục thai kỳ thai kém phát triển
Không có sự khác biệt giữa hai nhóm ở tuần 
thai kết thúc thai kỳ ( 38,51 ± 2,35 so với 37,65 
± 1,80). Có sự khác biệt về phương pháp sinh 
giữa hai nhóm: nhóm có ước lượng trọng lượng 
thai nhi < 3rd tăng nguy cơ mổ lấy thai gấp 1,35 
lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ 3rd 
- 10th ( RR = 1,35, 95% CI (0,84 – 2,17), p = 
0,26). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 
< 3rd tăng nguy cơ có chỉ sô IA < 7 ở phút thứ 1 
và chỉ số IA < 7 ở phút thứ 5 so với nhóm có ước 
lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th với RR lần lượt 
là 2,02 và 2,25. Nhóm có ước lượng trọng lượng 
thai nhi < 3rd tăng nguy cơ nhập viện điều trị khoa 
sơ sinh và tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm 
có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th với 
RR lần lượt là 1,25 và 2,31.
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
44
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Chúng tôi nhận thấy ở nhóm ước lượng trọng 
lượng thai nhi < 3rd percentile, tỷ lệ mẹ có rối loạn 
tăng huyết áp, tiếp xúc thuốc lá thụ động, tiền sử 
thai kém phát triển và có tình trạng thiếu máu thai 
kỳ cao hơn nhóm ước lượng trọng thai nhi có BPV 
3rd – 10th. Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút 
thuốc lá thụ động sẽ tăng nguy cơ thai có trọng 
lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt là 1,18 lần 
(RR = 1,18 (0,58 – 2,38)) và 1,46 lần ( RR = 1,46 
(1,24 – 1,71)).
3.2. Một số đặc điểm thai kỳ và siêu 
âm doppler
Có sự khác biệt về tần suất test không đả kích 
nghi ngờ hoặc bất thường ở nhóm ước lượng trọng 
lượng thai nhi < 3rd so với nhóm có trọng lượng 
thai từ 3th - 10th ( 90.19% so với 65,22%, p < 
0.05). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 
< 3rd tăng nguy cơ bất thường NST gấp 1,38 
lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai 
3rd - 10th ( RR = 1,38, 95% CI 1, động mạch rốn 
của nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd 
cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng 
01 – 1,89, p < 0.02). PI trung bình thai nhi từ 
3rd - 10th ( 1,18 ± 0,49 so với 1,00 ± 0,23); tần 
suất bất thường doppler động mạch rốn cũng cao 
hơn so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi 
từ 3rd – 10th (49,02% so với 30,43%); nhóm có 
ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ 
bất thường động mạch rốn gấp 1,61 lần so với 
nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 
10th (RR = 1,61, 95% CI (0,81 – 3,72), p = 0,21). 
Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm 
sàng và siêu âm trước sinh
< 3th 
percentile
3th - 10th 
percentile RR 95% CI p
NST Bình thường 5 (9,81%) 8 (34,78%) 1,38 1,01 – 1,89 0,02Nghi ngờ/ Bất thường 46 (90,19%) 15 (65,22%)
Nước ối
Bình thường 36 (70,59%) 17 (73,91%)
1,12 0,50 – 2,53 0,76Thiểu ối/Cạn ối 15 (29,41%) 6 (26,09%)
Động mạch 
rốn
PI 1,18 ± 0,49 1,00 ± 0,23
1,61 0,81 – 3,72 0,21
Bình thường 26 (50,98%) 16 (69,56%)
Bất thường Tăng trở 
kháng/Mất sóng tâm 
trương/ Đảo ngược 
sóng tâm trương
25 (49,02%) 7 (30,43%)
ĐM não giữa PI 1,53 ± 0,51 1,69 ± 0,40
Ống tĩnh 
mạch
Bình thường 44 (86,27%) 21 (91,30%)
1,58 0,35 – 7,02 0,05Mất sóng a / Đảo 
ngược sóng a 7 (13,72%) 2 (8,70%)
PI 0,77 ± 0,51 0,80 ± 0,30
MPI 0,66 ± 0,30 0,51 ± 0,12
Bảng 3.2. So sánh một số đặc điểm thai kỳ trên CTG và siêu âm
Kết cục thai kỳ < 3
th 
percentile
3th - 10th 
percentile 95% CI p
Tuần thai 38,51 ± 2,35 37,65 ± 1,80
Trọng lượng thai (gr) 2155 ± 470 2330 ± 304
Phương pháp 
sinh
Sinh AD 18 (35,29%) 12 (52,17%)
1,35 (0,84 
– 2,17) 0,26Mổ chủ động/Mổ 
cấp cưu 33 (64,70%) 11 (47,83%)
IA phút thứ 1
< 7 điểm 18 (35,29%) 4 (17,39%) 2,02 (0,77 
– 5,32) 0,19>= 7 điểm 33 (64,71%) 19 (82,60%)
IA ở phút 
thứ 5
< 7 điểm 5 (9,80%) 1(4,35%) 2,25 (0,27 
– 18,22) 0,17>= 7 điểm 46 (90,20%) 22 (95,65%)
Nhập viện 
khoa sơ sinh
Có 25 (49,02% 9 (39,13%) 1,25 (0,70 
– 2,24)không 26(50,98%) 14 (60,87%)
Chết tiền sinh
Có 2 (3,92%) 0 (0,00%) 2,31 (0,12 
– 46,24)Không 49 (96,08%) 23 (100%)
Bảng 3.3. So sánh kết cục thai kỳ
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
45
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
dưới 3th percentile và nhóm có ước lượng 
trọng lượng thai nhi từ 3rd percentile - 
10th percentile 
Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai 
nhi < 3rd percentile, bảng 3.2 cho thấy có sự 
khác biệt về một số đặc điểm trên NST, nước 
ối cũng như biến đổi doppler động mạch rốn, 
động mạch não giữa, ống tính mạch và chỉ số 
MPI. Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng < 
3rd percentile, nhóm < 3rd percentile cho thấy các 
yếu tố trên lâm sàng có xu hướng trầm trọng hơn 
khi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 
từ 3rd – 10th percentile. 
90,19% các trường hợp có ước lượng trọng 
lượng thai nhi < 3rd percentile có NST nghi ngờ 
hoặc bất thường. Nhóm ước lượng trọng lượng 
thai <3rd percentile tăng nguy cơ bất thường NST 
gấp 1.38 lần so với nhóm có ước lượng trọng 
lượng thai nhi 3rd – 10th percentile (RR = 1,38, 
95% CI (1,01 – 1,89), p = 0,02). Liên quan đến 
chỉ số nước ối, nhóm có ước lượng trọng lượng < 
3rd tăng nguy cơ bất thường nước ối gấp 1.12 lần 
so với nhóm 3rd – 10th (RR = 1,12, 95% CI (0,50 
– 2,53), p = 0,76). NST và chỉ số nước ối là hai 
yếu tố trên lâm sàng ảnh hưởng rất nhiều đến thái 
độ xử trí của các nhà lâm sàng đối với thai kỳ nói 
chung và thai kém phát triển nói riêng. Bất thường 
NST và/hoặc bất thường nước ối là biểu hiện tình 
trạng biến đổi bệnh lý của thai kém phát triển giai 
đoạn muộn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy đây là hai thông số có giá trị để kết hợp với 
yếu tố trọng lượng trong chẩn đoán và xử trí thai 
kém phát triển thật sự.
Các biến đổi doppler động mạch rốn và động 
mạch não giữa phù hợp với quá trình biến đổi hệ 
tuần hoàn của thai kém phát triển đáp ứng với 
tình trạng suy dưỡng, thiếu oxy. Nhóm có trọng 
lượng < 3rd percentile tăng PI trung bình doppler 
động mạch rốn, giảm PI trung bình doppler 
động mạch não giữa so với nhóm có ước lượng 
trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile. Liên 
quan doppler ống tĩnh mạch, đây là một trong 
những vị trí doppler được sử dụng để đánh giá 
thay đổi cấp tính tình trạng suy sụp của thai nhi 
[11]. Tỷ lệ bất thường về mặt hình thái doppler 
ống tĩnh mạch cao ở nhóm có ước lượng trọng 
lượng thai nhi < 3rd khi so với nhóm có ước lượng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 41 - 47, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
4. Bàn luận
4.1. Đặc điểm mẹ và một số yếu tố 
nguy cơ
Liên quan các đặc điểm của mẹ: Khi so với 
nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 
10th, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 
3rd không có sự khác biệt về tuổi trung bình của 
mẹ, BMI trước khi có thai, tăng cân trong thai kỳ 
cũng như chiều cao trung bình của bố và mẹ (bảng 
3.1). Trên y văn và những nghiên cứu khác, đây là 
những yếu tố nguy cơ của thai nhẹ cân và thai kém 
phát triển nói chung. Một số nghiên cứu khác khi so 
sánh các đặc điểm này giữa nhóm có trọng lượng 
< 5th và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 
5th – 10th không có sự khác biệt [8].
Khi đánh giá những yếu tố nguy cơ khác, sự khác 
biệt có ý nghĩa giữa nhóm có ước lượng trọng lượng 
thai < 3rd percentile và nhóm từ 3rd – 10th về rối loạn 
tăng huyết áp, hút thuốc thụ động, tiền sử thai kém 
phát triển và thiếu máu với Hb < 10 g/dL (bảng 3.1). 
Những yếu tố nguy cơ như thiếu máu trong thai kỳ, 
rối loạn tăng huyết áp, hút thuốc lá thụ động hay tiền 
sử thai kém phát triển sẽ làm trầm trọng nguy cơ thai 
nhẹ cân trên sản phụ tuổi lớn, chiều cao bố mẹ thấp, 
có thể đưa đến thai kém phát triển thật sự. 
So sánh với một số nghiên cứu khác:
4.2. Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm 
sàng và siêu âm trước sinh khi so sánh 
nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 
Tác giả Năm nghiên cứu
Loại nghiên 
cứu n Đặc điểm chung của mẹ
Malgorzata 
Mlynarczyk 
và cs [7]
2017 Hồi cứu
Tuổi trung bình của mẹ: 
< 5th: 26,8 ± 5,9; 5th - 9th: 26,5 ± 5,9; 
BMI trước khi có thai: 
28,7 ± 8,5 so với 27,8 ± 9,0
Zhang-
Rutledge 
Kathy và cs 
[14]
2017 Hồi cứu 254
So sánh nhóm <5th và nhóm 5-10th: Tuổi 
trung bình của mẹ: 
27,8 ± 5,6 so với 28,2 ± 5,4; 
BMI trung bình: 
27,3 ± 7,5 so với 26,4 ± 6,3
Tác giả Năm Loại nghiên cứu n Yếu tố nguy cơ
Kathy Zhang-
Rutledge và 
cs [14]
2017 Hồi cứu 254
So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai < 
5th và nhóm từ 5th – 10th: 
Rối loạn tăng huyết áp: RR = 1,79
Malgorzata 
Mlynarczyk 
và cs [7]
2017 Hồi cứu 834
So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai < 
5th và nhóm từ 5th – 9th:
Rối loạn tăng huyết áp: OR = 1,78; Tiền sử 
sinh thai nhẹ cân: OR: 1,02
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH
46
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
trọng lượng từ 3rd – 10th percentile. Nhóm có 
ước lượng trọng lượng thai nhi< 3th, tăng nguy cơ 
bất thường hình thái doppler ống tĩnh mạch gấp 
1.58 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ 
3rd – 10th percentile ( RR = 1,58, 95% CI (0,35 – 
7,02), p = 0,05). Tuy nhiên, chỉ số PI trung bình 
của hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể ( 
0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0.30 )
Một chỉ số doppler được nghiên cứu trong 
một vài năm gần đây trong nhóm thai kỳ nguy 
cơ cao như song thai, đái thao đường thai kỳ 
trong đó có thai kém phát triển là chỉ số MPI [2]. 
Trong nghiên cứu chúng tôi, MPI trung bình cao 
hơn ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 
3rd khi so với nhóm có ước lượng thai nhi từ 3rd - 
10th (0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12). Giá trị MPI 
trung bình ở hai nhóm đều cao hơn giá trị MPI 
trung bình khoảng 0,36 ở thai kỳ bình thường đã 
được ghi nhận trong các nghiên cứu, tương tự so 
với một số nghiên cứu khác [2]. 
Với những ghi nhận được trong nghiên cứu 
của chúng tôi, có thể dựa vào chỉ số PI, biến đổi 
hình thái doppler động mạch rốn, PI động mạch 
não giữa, biến đổi hình thái doppler ống tĩnh 
mạch và chỉ số MPI trong nhận dạng chẩn đoán 
thai kém phát triển. Cần có số liệu nghiên cứu 
thêm về PI doppler ống tĩnh mạch và các chỉ số 
khác của doppler ống tĩnh mạch trong nhóm thai 
kém phát triển.
4.3. Kết cục thai kỳ khi so sánh nhóm 
có ước lượng trọng lượng thai nhi dưới 
bách phân vị thứ ba và nhóm có ước 
lượng trọng lượng thai nhi từ bách phân vị 
thứ ba đến bách phân vị thứ 10
 Kết cục thai kỳ được thể hiện ở bảng 3.3. Kết 
quả nghiên cứu của chúng tôi cho với nhóm có 
ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile đều 
tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm 
có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd - 10th 
percentile. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai 
nhi < 3rd percentile tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 
7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 
7 ở phút thứ năm, tăng nguy cơ chết tiền sinh so 
với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd 
– 10th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 
2,31. Ngoài ra, nhóm có ước lượng trọng lượng 
thai nhi < 3th tăng nguy cơ mổ lấy thai, nguy cơ 
nhập viện điều trị khoa sơ sinh.
Mặc dù những nghiên cứu khác có sự khác 
biệt về mặt phương pháp nghiên cứu so với 
nghiên cứu chúng tôi, tuy nhiên kết quả ghi nhận 
được cho thấy với những thai kỳ có trọng lượng 
càng thấp càng có khuynh hướng biến đổi những 
thông số trên lâm sàng xấu đi cũng như kết cục 
thai kỳ bất lợi hơn.
Với kết quả ghi nhận được, đặc biệt là tỷ lệ 
chết tiền sinh cao ở nhóm có ước lượng trọng 
lượng thai nhi dưới 3rd percentile, là yếu tố quan 
trọng để cân nhắc hướng xử trí cũng như tư vấn 
cho sản phụ trong những trường hợp này.
5. Kết luận
Với ước lượng trọng lượng thai nhi ở ngưỡng 
cắt 3th percentile, nghiên cứu cho thấy có những 
biến đối về mặt lâm sàng cũng như kết cục thai 
kỳ khi so với nhóm từ 3th – 10th percentile. Điều 
này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng có những tư vấn 
và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng < 
10th percentile thích hợp hơn. Cần đặc biệt cân 
nhắc đối với nhóm có ước lượng trọng lượng thai 
nhi < 3rd percentile.
Tác giả Năm nghiên cứu
Loại nghiên 
cứu n Kết cục thai kỳ
Malgorzata 
Mlynarczyk 
và cs [7]
2017 Hồi cứu 834
So sánh nhóm có ước lượng trọng 
lượng thai nhi < 5 th và nhóm 
5-10: APGAR < 7 ở phút thứ 5: 
OR = 1,58;
Chết sơ sinh : OR = 4,05
Zhang-
Rutledge 
Kathy và cs 
[14]
2017 Hồi cứu 254
So sánh nhóm có ước lượng trọng 
lượng < 5 và nhóm từ 5 – 10: 
APGAR < 7 ở phút thứ nhất: OR = 
2,05; APGAR < 7 ở phút thứ 5: OR 
= 1,78; nhập viện sơ sinh: 1,73; 
chết sơ sinh: 3,68.
Julia 
Unterscheiter 
và cs [12]
2013 Tiến cứu đa trung tâm 1116
Có mối liên quan giữa kết cục thai 
kỳ bất lợi với trọng lượng ước lượng 
thai nhi < 3rd centile
Savchev và 
cs [9] 2012
Nghiên 
cứu bệnh 
chứng
Nhóm chứng: 
132;
Nhóm bệnh 
132
So sánh nhóm EFW < 3rd với nhóm 
từ 3rd – 10th: tỷ lệ mổ lấy thai: 
30,0% sơ với 15,3%;
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
47
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 41 - 47, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
Tài liệu tham khảo
1. Ayres-de-Campos D., Arulkumaran S., Figo Intrapartum Fetal Monitoring 
Expert Consensus Panel. FIGO consensus guidelines on intrapartum 
fetal monitoring: Physiology of fetal oxygenation and the main goals of 
intrapartum fetal monitoring, Int J Gynaecol Obstet 2015; 131(11):5-8.
2. Cruz-Martinez R. et al. Changes in myocardial performance index and 
aortic isthmus and ductus venosus Doppler in term, small-for-gestational 
age fetuses with normal umbilical artery pulsatility index. Ultrasound Obstet 
Gynecol 2011;38(4):400-5.
3. Figueras F., E. Gratacos. Update on the diagnosis and classification 
of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management 
protocol. Fetal Diagn Ther 2014; 36(2):86-98.
4. Figueras F., E. Gratacos.An integrated approach to fetal growth 
restriction. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2017;38:48-58.
5. Kiserud T. et al. The World Health Organization fetal growth charts: 
concept, findings, interpretation, and application. Am J Obstet Gynecol 
2018; 218(2S): S619-S629.
6. McCowan L. M., F. Figueras, N. H. Anderson. Evidence-based national 
guidelines for the management of suspected fetal growth restriction: 
comparison, consensus, and controversy.Am J Obstet Gynecol 2018; 
218(2S):S855-S868.
7. Mlynarczyk M. et al. The clinical significance of an estimated fetal weight 
below the 10th percentile: a comparison of outcomes of <5th vs 5th-9th 
percentile. Am J Obstet Gynecol 2017; 217(2): 198 e1-198 e11.
8. Olusanya B. O.Intrauterine growth restriction in a low-income country: 
Risk factors, adverse perinatal outcomes and correlation with current WHO 
Multicenter Growth Reference.Early Hum Dev 2010; 86(7):439-44.
9. Savchev S. et al.Estimated weight centile as a predictor of perinatal 
outcome in small-for-gestational-age pregnancies with normal fetal and 
maternal Doppler indices. Ultrasound Obstet Gynecol 2012; 39(3):299-303.
10. Stirnemann J. et al. International estimated fetal weight standards 
of the INTERGROWTH-21(st) Project. Ultrasound Obstet Gynecol 
2017;49(4):478-486.
11. Thanooja S. et al.Correlation between Doppler and Perinatal Outcome 
in IUGR Babies. Journal of Medical Science And clinical Research 
2017;(03):19599-19607.
12. Unterscheider J. et al. Optimizing the definition of intrauterine growth 
restriction: the multicenter prospective PORTO Study. Am J Obstet Gynecol 
2013; 208(4):290 e1-6.
13. Unterscheider J., K. O’Donoghue, F. D. Malone. Guidelines on fetal 
growth restriction: a comparison of recent national publications. Am J 
Perinatol 2015; 32(4):307-16.
14. Zhang-Rutledge K. et al. Significance and Outcomes of Fetal Growth 
Restriction Below the 5th Percentile Compared to the 5th to 10th Percentiles 
on Midgestation Growth Ultrasonography. J Ultrasound Med 2018.
15. Zhang J. et al. Defining normal and abnormal fetal growth: promises 
and challenges”, Am J Obstet Gynecol 2010; 202(6):522-8.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_gia_tri_nguong_cat_uoc_luong_trong_luong_thai_nhi_o.pdf