Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển
Mục tiêu: Xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi
ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng
thai kém phát triển.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang
trên 74 sản phụ có tuần thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán thai kém phát
triển có trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai,
điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 05/2016
đến 05/2017.
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ ba so với tuổi thai trong chẩn đoán, tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 41 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 41 - 47, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Võ Văn Đức, Cao Ngọc Thành Đại học Y Dược Huế ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ NGƯỠNG CẮT ƯỚC LƯỢNG TRỌNG LƯỢNG THAI NHI Ở MỨC BÁCH PHÂN VỊ THỨ BA SO VỚI TUỔI THAI TRONG CHẨN ĐOÁN, TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI KỲ THAI KÉM PHÁT TRIỂN Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Trần Thảo Nguyên, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 08/06/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 25/06/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 29/06/2018 Từ khóa: thai nhẹ cân, thai kém phát triển, bách phân vị. Keywords: small-gestational age, intrauterine growth restriction, percentile. Tóm tắt Mục tiêu: Xác định giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng thai kém phát triển. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 74 sản phụ có tuần thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán thai kém phát triển có trọng lượng thai nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai, điều trị tại Khoa Phụ Sản, Bệnh viện Đại học Y Dược Huế từ 05/2016 đến 05/2017. Kết quả: Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng tần suất rối loạn tăng huyết áp thai kỳ so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th . Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút thuốc lá thụ động sẽ tăng nguy cơ thai có trọng lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt là 1,18 lần (RR = 1,18, 95% CI (0,58 – 2,38), p = 0.036) và 1,46 ( RR = 1,46, 95% CI 1,24 – 1,71); Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường động mạch rốn, ống tĩnh mạch so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th với RR lần lượt là 1,61 và 1,58. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd có MPI cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd - 10th ( 0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile đều tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd - 10th percentile, bao gồm tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ năm, tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 2,31. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy có những biến đối về mặt lâm sàng cũng như kết cục thai kỳ ở ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ngang mức bách phân vị thứ 3 sơ với tuổi thai. Điều này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng có những tư vấn và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng < 10th percentile thích hợp hơn. Từ khóa: thai nhẹ cân, thai kém phát triển, bách phân vị. NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 42 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Abstract ASSESSMENT OF THE CUT - OFF VALUES OF SONOGRAPHIC ESTIMATED FETAL WEIGHT AT 3rd PERCENTILE IN DIAGNOSIS AND PROGNOSIS INTRAUTERINE GROWTH RESTRICTION Objectives: To identify the value of cut-off sonographic-estimated fetal weight at 3rd percentile in diagnosis and prognosis in pregnancies complicated by fetal growth restriction. Materials & Methods: A cross-sectional study was conducted on 74 cases of intrauterine growth restriction with an estimated fetal weight less than 10th percentile, at Departement of Obstetric and Gynecology of Hue University of Medicine and Pharmacy from 05/2016 – 05/2017. Results: Fetuses with estimated fetal weight below the 3rd had higher rates of hypertensive disorders of pregnancy; anemia (RR = 1,18, 95% CI (0.58 – 2.38)); secondhand smoke (RR = 1.46, 95% CI (.24 – 1.71)); abnormal umbilical artery Doppler wareforms (RR = 1.61); abnormal ductus venous Doppler wareforms ( RR = 1.58). MPI was higher at the group of fetuses had estimated fetal below the 3rd percentile ( 0.66 ± 0.30 so với 0.51 ± 0.12). Fetuses with estimated fetal weight below the 3rd had higher rates of Apgar scores of less than 7 at 1 minute ( RR = 2.02 ); Apgar scores of less than 7 at 5 minutes ( RR = 2.25 ); prenatal death (RR = 2.31). Conclusions: Studies show that there were differences about clinical and pregnancy outcomes at cut-off of sonographic-estimated fetal weight at 3rd percentile. This will help clinicians in counseling and management of pregnancy with sonographic-estimated fetal weight below 10th percentile. Key words: small-gestational age, intrauterine growth restriction, percentile 1. Đặt vấn đề Thai chậm phát triển trong tử cung là tình trạng thai nhi thiếu dinh dưỡng xảy ra từ khi còn bào thai. Tỷ lệ thai chậm phát triển khoảng 5-10% trên tổng số thai kỳ. Đây là nguyên nhân đưa đến nhiều kết cục chu sinh bất lợi, thậm chí ảnh hưởng đến thời kỳ trưởng thành của thai nhi. Thai kém phát triển có các dạng biểu hiện lâm sàng: thai kém phát triển, thai nhẹ cân [3], [5], [13]. Trên y văn cũng như trong những hướng dẫn của các Hiệp hội sản phụ khoa, ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 10th percentile được sử dụng để chẩn đoán thai nhẹ cân và thai kém phát triển [4], [10]. Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng như những bài tổng quan trong những năm gần đây cho thấy rằng cần có sự phân biệt giữa thai nhẹ cân và thai kém phát triển, vì trong nhóm thai có ước lượng trọng lượng < 10th vẫn có những thai nhi chỉ nhẹ cân đơn thuần, không kèm theo những biến đổi bệnh lý [6], [12], [15]. Điều này đặt ra câu hỏi cho những nhà nghiên cứu cũng như bác sĩ sản khoa trong nhận dạng thai kém phát triển. Để tiệm cận hơn với nhóm thai kém phát triển thật sự là nhóm thai có tình trạng hạn chế tăng trưởng kèm những biến đổi trên doppler cho thấy có sự tái phân bố tuần hoàn đáp ứng lại với tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu oxy cũng như những biến đổi bệnh lý của bánh nhau hay trong những trường hợp có yếu tố nguy cơ kèm theo như bệnh lý tiền sản giật, ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd được đưa vào nghiên cứu và những bài tổng quan cập nhật về thai kém phát triển [3], [6]. Việc chẩn đoán thai kém phát triển không thể chỉ dựa vào một tiêu chuẩn hoặc cân nặng hoặc biến đổi doppler động mạch rốn, động mạch não giữa hay chỉ số não nhau mà cần có sự kết hợp giữa những tiêu chuẩn này. Ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu đánh giá ý nghĩa ngưỡng TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 43 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 41 - 47, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th trong nhận dạng thai kém phát triển, lí do nghiên cứu chúng tôi lựa chọn ngưỡng cắt 3th percentile để thực hiện nghiên cứu “Đánh giá giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở bách phân vị thứ ba trong chẩn đoán và tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển” với mục tiêu: Xác định ý nghĩa giá trị ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi ở mức bách phân vị thứ 3 so với tuổi thai trong chẩn đoán và tiên lượng thai kém phát triển 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 74 sản phụ mang thai đơn thai ≥ 28 tuần có ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm dưới bách phân vị thứ 10 theo tuổi thai nhập viện và điều trị tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 5 năm 2017. Tiêu chuẩn loại trừ: - Đa thai - Sau sinh có trọng lượng trên bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai - Mất dấu trong quá trình theo dõi 2.2. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu mô tả cắt ngang - Các bước tiến hành + Thu thập thông tin bệnh sử và tiền sử: Số lần mang thai, tiền sử mang thai kém phát triển, cân nặng trước khi mang thai, tăng cân trong thai kỳ, hút thuốc thụ động. + Khám lâm sàng: Xác định tuổi mẹ, chiều cao, cân nặng mẹ, chỉ số BMI, cân nặng bố, đo huyết áp, xét nghiệm công thức máu xác định chỉ số HGB; xác định tuổi thai ngày đầu kỳ kinh nguyệt nếu kinh nguyệt đều hoặc theo siêu âm trong ba tháng đầu. + Thực hiện test không đã kích: Xác định kết quả NST bình thường, nghi ngờ hay bất thường theo tiêu chuẩn của FIGO [1]. + Siêu âm hai chiều: Tiến hành đo các thông số sinh trắc học của thai nhi: đường kính lưỡng đỉnh, chu vi đầu, chu vi bụng và xương đùi Trọng lượng thai nhi được tính theo công thức Hadlock dựa trên các thông số sinh trắc học thai nhi. Ghi nhận chỉ số cân nặng và xác định bách phân vị thai nhi ≤ 3rd percentile, từ 3rd – 10th theo tiêu chuẩn biểu đồ phát triển INTERGROWTH-21st [10]. Xác định chỉ số AFI: Cạn ối nếu AFI < 2 cm, Thiếu ối nếu 2 cm < AFI < 5cm; Nước ối bình thường: 5 cm < AFI < 25 cm. + Siêu âm doppler: doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tĩnh mạch, chỉ số hiệu suất cơ tim (MPI); xác định chỉ số PI của doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và ống tĩnh mạch; xác định hình thái bất thường của doppler động mạch rốn, ống tĩnh mạch + Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ: tuần thai kết thúc thai kỳ; Phương pháp sinh: sinh đường âm đạo, sinh mổ chủ động, mổ cấp cứu; Trọng lượng thai nhi; Chỉ số Apgar sau sinh ở phút thứ 1 và phút thứ 5; Tình trạng thai nhi: Sống, chết tiền sinh trong buồng tử cung, chết thời kỳ sơ sinh; Nhập viện điều trị tại đơn vị sơ sinh. 2.3. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần mềm IBM SPSS Statistic 20.0 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Một số đặc điểm và yếu tố nguy cơ mẹ có thai kém phát triển Không có sự khác biệt về trung bình tuổi mẹ và BMI trước mang thai ở nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi nhỏ hơn BPV thứ 3 và nhóm BPV 3rd – 10th (27,7 ± 5,3 vs 26,3 ± 4,7 và 20,2 ± 2,9 vs 19,7 ± 2,3). Đặc điểm < 3 th percentile 3th - 10th percentile RR 95% CI p Tuổi 27,7 ± 5,3 26,3 ± 4,7 BMI trước khi có thai 20,2 ± 2,9 19,7 ± 2,3 Tăng cân trong thai kỳ 10,8 ± 3,7 10,5 ± 4,6 Chiều cao trung bình của mẹ (cm) 150,5 ± 5,5 152,6 ± 5,2 Chiều cao trung bình của bố (cm) 164,3 ± 10,0 164,5 ± 6,0 Thai con so 27 15 0,86 0,63-1,16 0,5724 8 Rối loạn tăng huyết áp Có 16 (31,37%) 6 (26,08%) 1,19 0,55 – 2,6 0,65không 35 (68,63%) 17 (73,92%) Hút thuốc thụ động Có 15 (29,41%) 8 (34,78%) 1,18 0,58 – 2,38 0,036không 36 (70,59%) 15 (65,22%) TS có thai kém phát triển Có 8 (15,68%) 1 (4,35%) 1,34 1,00 – 1,80 0,3không 43 (84,31%) 22 (95,65%) Hb < 10 g/dL Thiếu máu 3 0 1,45 1,24 – 1,71Không thiếu máu 49 22 Bảng 3.1. So sánh đặc điểm của mẹ và một số yếu tố nguy cơ PI trung bình động mạch não giữa nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th thấp hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th. Tần suất bất thường doppler ống tĩnh mạch (mất sóng a hoặc đảo ngược sóng a) cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd với ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường doppler ống tĩnh mạch gấp 1,58 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th, 95% CI (0,35 – 7,02). Không có sự khác biệt về chỉ số PI trung bình ống tĩnh mạch giữa hai nhóm (0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0,30). Có sự khác biệt về chỉ số MPI giữa hai nhóm, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd có MPI cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd - 10th (0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12) 3.3. Kết cục thai kỳ thai kém phát triển Không có sự khác biệt giữa hai nhóm ở tuần thai kết thúc thai kỳ ( 38,51 ± 2,35 so với 37,65 ± 1,80). Có sự khác biệt về phương pháp sinh giữa hai nhóm: nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ mổ lấy thai gấp 1,35 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ 3rd - 10th ( RR = 1,35, 95% CI (0,84 – 2,17), p = 0,26). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ có chỉ sô IA < 7 ở phút thứ 1 và chỉ số IA < 7 ở phút thứ 5 so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th với RR lần lượt là 2,02 và 2,25. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ nhập viện điều trị khoa sơ sinh và tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th với RR lần lượt là 1,25 và 2,31. NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 44 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H Chúng tôi nhận thấy ở nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile, tỷ lệ mẹ có rối loạn tăng huyết áp, tiếp xúc thuốc lá thụ động, tiền sử thai kém phát triển và có tình trạng thiếu máu thai kỳ cao hơn nhóm ước lượng trọng thai nhi có BPV 3rd – 10th. Thai phụ có thiếu máu, có tiếp xúc hút thuốc lá thụ động sẽ tăng nguy cơ thai có trọng lượng dưới bách phân vị thứ ba lần lượt là 1,18 lần (RR = 1,18 (0,58 – 2,38)) và 1,46 lần ( RR = 1,46 (1,24 – 1,71)). 3.2. Một số đặc điểm thai kỳ và siêu âm doppler Có sự khác biệt về tần suất test không đả kích nghi ngờ hoặc bất thường ở nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd so với nhóm có trọng lượng thai từ 3th - 10th ( 90.19% so với 65,22%, p < 0.05). Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường NST gấp 1,38 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai 3rd - 10th ( RR = 1,38, 95% CI 1, động mạch rốn của nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd cao hơn so với nhóm có ước lượng trọng lượng 01 – 1,89, p < 0.02). PI trung bình thai nhi từ 3rd - 10th ( 1,18 ± 0,49 so với 1,00 ± 0,23); tần suất bất thường doppler động mạch rốn cũng cao hơn so với nhóm ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th (49,02% so với 30,43%); nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd tăng nguy cơ bất thường động mạch rốn gấp 1,61 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th (RR = 1,61, 95% CI (0,81 – 3,72), p = 0,21). Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm sàng và siêu âm trước sinh < 3th percentile 3th - 10th percentile RR 95% CI p NST Bình thường 5 (9,81%) 8 (34,78%) 1,38 1,01 – 1,89 0,02Nghi ngờ/ Bất thường 46 (90,19%) 15 (65,22%) Nước ối Bình thường 36 (70,59%) 17 (73,91%) 1,12 0,50 – 2,53 0,76Thiểu ối/Cạn ối 15 (29,41%) 6 (26,09%) Động mạch rốn PI 1,18 ± 0,49 1,00 ± 0,23 1,61 0,81 – 3,72 0,21 Bình thường 26 (50,98%) 16 (69,56%) Bất thường Tăng trở kháng/Mất sóng tâm trương/ Đảo ngược sóng tâm trương 25 (49,02%) 7 (30,43%) ĐM não giữa PI 1,53 ± 0,51 1,69 ± 0,40 Ống tĩnh mạch Bình thường 44 (86,27%) 21 (91,30%) 1,58 0,35 – 7,02 0,05Mất sóng a / Đảo ngược sóng a 7 (13,72%) 2 (8,70%) PI 0,77 ± 0,51 0,80 ± 0,30 MPI 0,66 ± 0,30 0,51 ± 0,12 Bảng 3.2. So sánh một số đặc điểm thai kỳ trên CTG và siêu âm Kết cục thai kỳ < 3 th percentile 3th - 10th percentile 95% CI p Tuần thai 38,51 ± 2,35 37,65 ± 1,80 Trọng lượng thai (gr) 2155 ± 470 2330 ± 304 Phương pháp sinh Sinh AD 18 (35,29%) 12 (52,17%) 1,35 (0,84 – 2,17) 0,26Mổ chủ động/Mổ cấp cưu 33 (64,70%) 11 (47,83%) IA phút thứ 1 < 7 điểm 18 (35,29%) 4 (17,39%) 2,02 (0,77 – 5,32) 0,19>= 7 điểm 33 (64,71%) 19 (82,60%) IA ở phút thứ 5 < 7 điểm 5 (9,80%) 1(4,35%) 2,25 (0,27 – 18,22) 0,17>= 7 điểm 46 (90,20%) 22 (95,65%) Nhập viện khoa sơ sinh Có 25 (49,02% 9 (39,13%) 1,25 (0,70 – 2,24)không 26(50,98%) 14 (60,87%) Chết tiền sinh Có 2 (3,92%) 0 (0,00%) 2,31 (0,12 – 46,24)Không 49 (96,08%) 23 (100%) Bảng 3.3. So sánh kết cục thai kỳ TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 45 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 dưới 3th percentile và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd percentile - 10th percentile Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile, bảng 3.2 cho thấy có sự khác biệt về một số đặc điểm trên NST, nước ối cũng như biến đổi doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tính mạch và chỉ số MPI. Với ngưỡng cắt ước lượng trọng lượng < 3rd percentile, nhóm < 3rd percentile cho thấy các yếu tố trên lâm sàng có xu hướng trầm trọng hơn khi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile. 90,19% các trường hợp có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile có NST nghi ngờ hoặc bất thường. Nhóm ước lượng trọng lượng thai <3rd percentile tăng nguy cơ bất thường NST gấp 1.38 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi 3rd – 10th percentile (RR = 1,38, 95% CI (1,01 – 1,89), p = 0,02). Liên quan đến chỉ số nước ối, nhóm có ước lượng trọng lượng < 3rd tăng nguy cơ bất thường nước ối gấp 1.12 lần so với nhóm 3rd – 10th (RR = 1,12, 95% CI (0,50 – 2,53), p = 0,76). NST và chỉ số nước ối là hai yếu tố trên lâm sàng ảnh hưởng rất nhiều đến thái độ xử trí của các nhà lâm sàng đối với thai kỳ nói chung và thai kém phát triển nói riêng. Bất thường NST và/hoặc bất thường nước ối là biểu hiện tình trạng biến đổi bệnh lý của thai kém phát triển giai đoạn muộn. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đây là hai thông số có giá trị để kết hợp với yếu tố trọng lượng trong chẩn đoán và xử trí thai kém phát triển thật sự. Các biến đổi doppler động mạch rốn và động mạch não giữa phù hợp với quá trình biến đổi hệ tuần hoàn của thai kém phát triển đáp ứng với tình trạng suy dưỡng, thiếu oxy. Nhóm có trọng lượng < 3rd percentile tăng PI trung bình doppler động mạch rốn, giảm PI trung bình doppler động mạch não giữa so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile. Liên quan doppler ống tĩnh mạch, đây là một trong những vị trí doppler được sử dụng để đánh giá thay đổi cấp tính tình trạng suy sụp của thai nhi [11]. Tỷ lệ bất thường về mặt hình thái doppler ống tĩnh mạch cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd khi so với nhóm có ước lượng TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 41 - 47, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm mẹ và một số yếu tố nguy cơ Liên quan các đặc điểm của mẹ: Khi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd không có sự khác biệt về tuổi trung bình của mẹ, BMI trước khi có thai, tăng cân trong thai kỳ cũng như chiều cao trung bình của bố và mẹ (bảng 3.1). Trên y văn và những nghiên cứu khác, đây là những yếu tố nguy cơ của thai nhẹ cân và thai kém phát triển nói chung. Một số nghiên cứu khác khi so sánh các đặc điểm này giữa nhóm có trọng lượng < 5th và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 5th – 10th không có sự khác biệt [8]. Khi đánh giá những yếu tố nguy cơ khác, sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có ước lượng trọng lượng thai < 3rd percentile và nhóm từ 3rd – 10th về rối loạn tăng huyết áp, hút thuốc thụ động, tiền sử thai kém phát triển và thiếu máu với Hb < 10 g/dL (bảng 3.1). Những yếu tố nguy cơ như thiếu máu trong thai kỳ, rối loạn tăng huyết áp, hút thuốc lá thụ động hay tiền sử thai kém phát triển sẽ làm trầm trọng nguy cơ thai nhẹ cân trên sản phụ tuổi lớn, chiều cao bố mẹ thấp, có thể đưa đến thai kém phát triển thật sự. So sánh với một số nghiên cứu khác: 4.2. Một số đặc điểm thai kỳ trên lâm sàng và siêu âm trước sinh khi so sánh nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi Tác giả Năm nghiên cứu Loại nghiên cứu n Đặc điểm chung của mẹ Malgorzata Mlynarczyk và cs [7] 2017 Hồi cứu Tuổi trung bình của mẹ: < 5th: 26,8 ± 5,9; 5th - 9th: 26,5 ± 5,9; BMI trước khi có thai: 28,7 ± 8,5 so với 27,8 ± 9,0 Zhang- Rutledge Kathy và cs [14] 2017 Hồi cứu 254 So sánh nhóm <5th và nhóm 5-10th: Tuổi trung bình của mẹ: 27,8 ± 5,6 so với 28,2 ± 5,4; BMI trung bình: 27,3 ± 7,5 so với 26,4 ± 6,3 Tác giả Năm Loại nghiên cứu n Yếu tố nguy cơ Kathy Zhang- Rutledge và cs [14] 2017 Hồi cứu 254 So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai < 5th và nhóm từ 5th – 10th: Rối loạn tăng huyết áp: RR = 1,79 Malgorzata Mlynarczyk và cs [7] 2017 Hồi cứu 834 So sánh nhóm ước lượng trọng lượng thai < 5th và nhóm từ 5th – 9th: Rối loạn tăng huyết áp: OR = 1,78; Tiền sử sinh thai nhẹ cân: OR: 1,02 NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 46 Tậ p 16 , s ố 02 Th án g 08 -2 01 8 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H trọng lượng từ 3rd – 10th percentile. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi< 3th, tăng nguy cơ bất thường hình thái doppler ống tĩnh mạch gấp 1.58 lần so với nhóm có ước lượng trọng lượng từ 3rd – 10th percentile ( RR = 1,58, 95% CI (0,35 – 7,02), p = 0,05). Tuy nhiên, chỉ số PI trung bình của hai nhóm không có sự khác biệt đáng kể ( 0,77 ± 0,51 so với 0,80 ± 0.30 ) Một chỉ số doppler được nghiên cứu trong một vài năm gần đây trong nhóm thai kỳ nguy cơ cao như song thai, đái thao đường thai kỳ trong đó có thai kém phát triển là chỉ số MPI [2]. Trong nghiên cứu chúng tôi, MPI trung bình cao hơn ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd khi so với nhóm có ước lượng thai nhi từ 3rd - 10th (0,66 ± 0,30 so với 0,51 ± 0,12). Giá trị MPI trung bình ở hai nhóm đều cao hơn giá trị MPI trung bình khoảng 0,36 ở thai kỳ bình thường đã được ghi nhận trong các nghiên cứu, tương tự so với một số nghiên cứu khác [2]. Với những ghi nhận được trong nghiên cứu của chúng tôi, có thể dựa vào chỉ số PI, biến đổi hình thái doppler động mạch rốn, PI động mạch não giữa, biến đổi hình thái doppler ống tĩnh mạch và chỉ số MPI trong nhận dạng chẩn đoán thai kém phát triển. Cần có số liệu nghiên cứu thêm về PI doppler ống tĩnh mạch và các chỉ số khác của doppler ống tĩnh mạch trong nhóm thai kém phát triển. 4.3. Kết cục thai kỳ khi so sánh nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi dưới bách phân vị thứ ba và nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ bách phân vị thứ ba đến bách phân vị thứ 10 Kết cục thai kỳ được thể hiện ở bảng 3.3. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile đều tăng nguy cơ kết cục thai kỳ bất lợi so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd - 10th percentile. Nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ nhất, tăng nguy cơ chỉ số APGAR < 7 ở phút thứ năm, tăng nguy cơ chết tiền sinh so với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi từ 3rd – 10th percentile với RR lần lượt là 2,02, 2,25 và 2,31. Ngoài ra, nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3th tăng nguy cơ mổ lấy thai, nguy cơ nhập viện điều trị khoa sơ sinh. Mặc dù những nghiên cứu khác có sự khác biệt về mặt phương pháp nghiên cứu so với nghiên cứu chúng tôi, tuy nhiên kết quả ghi nhận được cho thấy với những thai kỳ có trọng lượng càng thấp càng có khuynh hướng biến đổi những thông số trên lâm sàng xấu đi cũng như kết cục thai kỳ bất lợi hơn. Với kết quả ghi nhận được, đặc biệt là tỷ lệ chết tiền sinh cao ở nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi dưới 3rd percentile, là yếu tố quan trọng để cân nhắc hướng xử trí cũng như tư vấn cho sản phụ trong những trường hợp này. 5. Kết luận Với ước lượng trọng lượng thai nhi ở ngưỡng cắt 3th percentile, nghiên cứu cho thấy có những biến đối về mặt lâm sàng cũng như kết cục thai kỳ khi so với nhóm từ 3th – 10th percentile. Điều này sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng có những tư vấn và quản lý thai kỳ nhóm thai có trọng lượng < 10th percentile thích hợp hơn. Cần đặc biệt cân nhắc đối với nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 3rd percentile. Tác giả Năm nghiên cứu Loại nghiên cứu n Kết cục thai kỳ Malgorzata Mlynarczyk và cs [7] 2017 Hồi cứu 834 So sánh nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 5 th và nhóm 5-10: APGAR < 7 ở phút thứ 5: OR = 1,58; Chết sơ sinh : OR = 4,05 Zhang- Rutledge Kathy và cs [14] 2017 Hồi cứu 254 So sánh nhóm có ước lượng trọng lượng < 5 và nhóm từ 5 – 10: APGAR < 7 ở phút thứ nhất: OR = 2,05; APGAR < 7 ở phút thứ 5: OR = 1,78; nhập viện sơ sinh: 1,73; chết sơ sinh: 3,68. Julia Unterscheiter và cs [12] 2013 Tiến cứu đa trung tâm 1116 Có mối liên quan giữa kết cục thai kỳ bất lợi với trọng lượng ước lượng thai nhi < 3rd centile Savchev và cs [9] 2012 Nghiên cứu bệnh chứng Nhóm chứng: 132; Nhóm bệnh 132 So sánh nhóm EFW < 3rd với nhóm từ 3rd – 10th: tỷ lệ mổ lấy thai: 30,0% sơ với 15,3%; TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 47 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(02), 41 - 47, 2018 Tập 16, số 02 Tháng 08-2018 Tài liệu tham khảo 1. Ayres-de-Campos D., Arulkumaran S., Figo Intrapartum Fetal Monitoring Expert Consensus Panel. FIGO consensus guidelines on intrapartum fetal monitoring: Physiology of fetal oxygenation and the main goals of intrapartum fetal monitoring, Int J Gynaecol Obstet 2015; 131(11):5-8. 2. Cruz-Martinez R. et al. Changes in myocardial performance index and aortic isthmus and ductus venosus Doppler in term, small-for-gestational age fetuses with normal umbilical artery pulsatility index. Ultrasound Obstet Gynecol 2011;38(4):400-5. 3. Figueras F., E. Gratacos. Update on the diagnosis and classification of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management protocol. Fetal Diagn Ther 2014; 36(2):86-98. 4. Figueras F., E. Gratacos.An integrated approach to fetal growth restriction. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2017;38:48-58. 5. Kiserud T. et al. The World Health Organization fetal growth charts: concept, findings, interpretation, and application. Am J Obstet Gynecol 2018; 218(2S): S619-S629. 6. McCowan L. M., F. Figueras, N. H. Anderson. Evidence-based national guidelines for the management of suspected fetal growth restriction: comparison, consensus, and controversy.Am J Obstet Gynecol 2018; 218(2S):S855-S868. 7. Mlynarczyk M. et al. The clinical significance of an estimated fetal weight below the 10th percentile: a comparison of outcomes of <5th vs 5th-9th percentile. Am J Obstet Gynecol 2017; 217(2): 198 e1-198 e11. 8. Olusanya B. O.Intrauterine growth restriction in a low-income country: Risk factors, adverse perinatal outcomes and correlation with current WHO Multicenter Growth Reference.Early Hum Dev 2010; 86(7):439-44. 9. Savchev S. et al.Estimated weight centile as a predictor of perinatal outcome in small-for-gestational-age pregnancies with normal fetal and maternal Doppler indices. Ultrasound Obstet Gynecol 2012; 39(3):299-303. 10. Stirnemann J. et al. International estimated fetal weight standards of the INTERGROWTH-21(st) Project. Ultrasound Obstet Gynecol 2017;49(4):478-486. 11. Thanooja S. et al.Correlation between Doppler and Perinatal Outcome in IUGR Babies. Journal of Medical Science And clinical Research 2017;(03):19599-19607. 12. Unterscheider J. et al. Optimizing the definition of intrauterine growth restriction: the multicenter prospective PORTO Study. Am J Obstet Gynecol 2013; 208(4):290 e1-6. 13. Unterscheider J., K. O’Donoghue, F. D. Malone. Guidelines on fetal growth restriction: a comparison of recent national publications. Am J Perinatol 2015; 32(4):307-16. 14. Zhang-Rutledge K. et al. Significance and Outcomes of Fetal Growth Restriction Below the 5th Percentile Compared to the 5th to 10th Percentiles on Midgestation Growth Ultrasonography. J Ultrasound Med 2018. 15. Zhang J. et al. Defining normal and abnormal fetal growth: promises and challenges”, Am J Obstet Gynecol 2010; 202(6):522-8.
File đính kèm:
danh_gia_gia_tri_nguong_cat_uoc_luong_trong_luong_thai_nhi_o.pdf

