Đánh giá giá trị của mpi trong tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển
Mục tiêu: Đánh giá chỉ số MPI ở thai kỳ thai kém phát triển và xác
định giá trị chỉ số MPI so với một số chỉ số Doppler khác trong tiên lượng
kết cục thai kỳ thai kém phát triển;
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 74 sản phụ
mang thai đơn thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán theo dõi thai kém phát triển
với ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm nhỏ hơn bách phân vị thứ 10
so với tuổi thai. Nhóm chứng bao gồm 121 sản phụ có tuổi thai ≥ 28 tuần
với ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm lớn hơn bách phân vị thứ
10. Tất cả các thai nhi được thực hiện Doppler động mạch rốn, động mạch
não giữa, ống tĩnh mạch và chỉ số MPI. Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ
Kết quả: Nhóm có trọng lượng < 3rd="" và="" nhóm="" có="" trọng="" lượng="" từ="" 3rd="" –="">
có chỉ số MPI cao hơn so với nhóm chứng ( 0.67 ± 0.3 so với 0.45 ± 0.15 và
0.51 ± 0.12 so với 0.45 ± 0.15); MPI trung bình ở nhóm thai kém phát triển
có bất thường Doppler động mạch rốn cao hơn so với nhóm thai kém phát
triển có Doppler động mạch rốn bình thường và nhóm chứng; MPI trung bình
của nhóm IUGR có kết cục thai kỳ bất thường cao hơn so với nhóm IUGR
có kết cục bình thường ( 0.71 ± 0.30 so với 0.52 ± 0.18) và cao hơn so với
nhóm chứng ( 0.45 ± 0.15); Để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, MPI có diện tích
dưới đường cong ROC là 0.819, cao hơn so với AUC của PIUA, PI MCA, PI DV;
Kết luận: MPI tăng tỷ lệ thuận với mức độ nặng của thai kém phát
triển. Đây là một chỉ số tiềm năng để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, biến
đổi ngay cả trong giai đoạn sớm của thai kém phát triển, có khả năng
cải thiện những kết cục nặng của thai kỳ
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá giá trị của mpi trong tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển
NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 22 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U Nguyễn Trần Thảo Nguyên, Võ Văn Đức, Cao Ngọc Thành Trường Đại học Y Dược Huế ĐÁNH GIÁ GIÁ TRỊ CỦA MPI TRONG TIÊN LƯỢNG KẾT CỤC THAI KỲ THAI KÉM PHÁT TRIỂN Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Trần Thảo Nguyên, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 24/07/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 10/08/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 01/09/2019 Từ khóa: Thai kém phát triển, MPI, kết cục thai kỳ. Keywords: IUGR, MPI, perinatal outcome Tóm tắt Mục tiêu: Đánh giá chỉ số MPI ở thai kỳ thai kém phát triển và xác định giá trị chỉ số MPI so với một số chỉ số Doppler khác trong tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển; Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 74 sản phụ mang thai đơn thai ≥ 28 tuần được chẩn đoán theo dõi thai kém phát triển với ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm nhỏ hơn bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai. Nhóm chứng bao gồm 121 sản phụ có tuổi thai ≥ 28 tuần với ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm lớn hơn bách phân vị thứ 10. Tất cả các thai nhi được thực hiện Doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tĩnh mạch và chỉ số MPI. Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ Kết quả: Nhóm có trọng lượng < 3rd và nhóm có trọng lượng từ 3rd – 10th có chỉ số MPI cao hơn so với nhóm chứng ( 0.67 ± 0.3 so với 0.45 ± 0.15 và 0.51 ± 0.12 so với 0.45 ± 0.15); MPI trung bình ở nhóm thai kém phát triển có bất thường Doppler động mạch rốn cao hơn so với nhóm thai kém phát triển có Doppler động mạch rốn bình thường và nhóm chứng; MPI trung bình của nhóm IUGR có kết cục thai kỳ bất thường cao hơn so với nhóm IUGR có kết cục bình thường ( 0.71 ± 0.30 so với 0.52 ± 0.18) và cao hơn so với nhóm chứng ( 0.45 ± 0.15); Để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, MPI có diện tích dưới đường cong ROC là 0.819, cao hơn so với AUC của PIUA, PI MCA, PI DV; Kết luận: MPI tăng tỷ lệ thuận với mức độ nặng của thai kém phát triển. Đây là một chỉ số tiềm năng để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, biến đổi ngay cả trong giai đoạn sớm của thai kém phát triển, có khả năng cải thiện những kết cục nặng của thai kỳ Từ khóa: Thai kém phát triển, MPI, kết cục thai kỳ Abstract ASSESSMENT THE MYOCARDIAL PERFRMANCE INDEX IN PREDICTING ADVERSE OUTCOMES IN INTRAUTERINE GROWTH RESTRICTION Objectives: This study aims to evaluate the MPI in fetuses with TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 23 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 22 - 27, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 intrauterine growth restriction and to compare MPI with others Doppler parameters in predicting adverse outcomes in intrauterine growth restriction; Materials & Methods: A cross description study was conducted on 74 cases of IUGR ≥ 28+0 with estimated fetal weight less than 10th percentile at Departement of Obstetric and Gynecology of Hue University of Medicine and Pharmacy from 05/2016 – 05/2017. 121 women in the same gestational age group with uncomplicated pregnancies were included as control group. All cases were offered Doppler of umbilical artery , middle cerebral artery, ductus venous vein and MPI. Perinatal outcomes were recorded Results: The mean MPI of group IUGR with estimated fetal weight under 3rd and from 3rd – 10th percentile were higher than MPI of control group ( 0.67 ± 0.3 versus 0.45 ± 0.15 and 0.51 ± 0.12 versus 0.45 ± 0.15). The mean MPI of group IUGR with abnormal umbilical artery was higher the mean MPI of group IUGR with normal umbilical artery Doppler and of control group. The mean MPI of group IUGR with abnormal fetal outcomes were higher than group IUGR with normal fetal outcome ( 0.71 ± 0.30 so với 0.52 ± 0.18) and control group ( 0.45 ± 0.15); To predict adverse fetal outcomes, the AUC of MPI wwas 0.819, higher than the AUC of the PIUA, PIMCA, PIDV. Conclusion: MPI deteriorates with severity of growth restriction. MPI is a potentially useful tool in predicting adverse prerinatal outcome, even in the early stages of IUGR and may improve the severe pregnancy outcomes. Keywords: IUGR, MPI, perinatal outcome 1. Đặt vấn đề Thai kém phát triển (TKPT) là một trong những nguyên nhân đưa đến kết cục thai kỳ bất lợi hay gặp trong sản khoa. Tỷ lệ thai kém phát triển khoảng 3 - 10% trong tất cả các thai kỳ, nguyên nhân được cho là do sự suy chức năng bánh nhau [8]. Để thích nghi với những biến đổi huyết động học do tình trạng suy chức năng bánh nhau, cơ quan tối quan trọng của thai nhi là tim có những thay đổi ưu tiên dòng chảy đến những cơ quan quan trọng, trong đó có cả tim thai nhi dẫn đến những biến đổi trên các chỉ số doppler cũng như chức năng tim thai [9], [15]. Một trong những thông số giúp đánh giá chức năng tim thai là chỉ số hiệu suất cơ tim (Myocardial Performance Index _MPI). Đây là một thông số có sự kết hợp hiệu suất cơ tim thì tâm thu và tâm trương[6], [10]. Trên y văn, MPI được sử dụng để đánh giá chức năng tim ở người lớn ở những bệnh cảnh khác nhau như viêm cơ tim, bệnh cơ tim giản [16]. Trong những năm gần đây, MPI được đề cập đến như là một chỉ số tiềm năng để đánh giá chức năng tim thai nhi, tình trạng thai suy cũng như dự báo kết cục thai kỳ ở nhóm thai nghén nguy cơ cao: thai kém phát triển, mẹ có bệnh lý đái tháo đường, song thai [4], [11], [5], [16]. Những nghiên cứu về MPI ở nhóm thai kém phát triển ở Việt Nam hiện chưa có, đó là lí do chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “ Đánh giá giá trị chỉ số MPI trong tiên lượng kết cục thai kỳ thai kém phát triển” với mục tiêu đánh giá chỉ số MPI ở thai kém phát triển và xác định giá trị của chỉ số MPI so với một số chỉ số doppler khác trong tiên lượng kết cục thai kỳ trong thai kém phát triển 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu 74 sản phụ mang thai đơn thai ≥ 28 tuần có ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm dưới NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 24 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U bách phân vị thứ 10 theo tuổi thai nhập viện và điều trị tại khoa Phụ Sản - Bệnh viện trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 5/2016 đến tháng 5 năm 2017. Tiêu chuẩn lại trừ: - Đa thai - Sau sinh có trọng lượng trên bách phân vị thứ 10 so với tuổi thai - Mất dấu trong quá trình theo dõi Nhóm chứng: bao gồm 121 sản phụ ≥ 28 tuần có ước lượng trọng lượng thai nhi trên siêu âm trên bách phân vị 10th. 2.2. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu mô tả cắt ngang bệnh chứng - Các bước tiến hành + Thu thập thông tin bệnh sử và tiền sử: Số lần mang thai, tiền sử mang thai kém phát triển, Cân nặng trước khi mang thai, tăng cân trong thai kỳ + Khám lâm sàng: Xác định tuổi mẹ, chiều cao, cân nặng mẹ, chỉ số BMI, đo huyết áp; xác định tuổi thai thai ngày đầu kỳ kinh nguyệt nếu kinh nguyệt đều hoặc theo siêu trong ba tháng đầu + Siêu âm hai chiều: . Tiến hành đo các thông số sinh trắc học của thai nhi: đường kính lưỡng đỉnh, chu vi đầu, chu vi bụng và xương đùi . Trọng lượng thai nhi được tính theo công thức Hadlock dựa trên các thông số sinh trắc học thai nhi. Ghi nhận chỉ số cân nặng và xác định bách phân vị thai nhi ≤ 3rd percentile, từ 3rd – 10th theo tiêu chuẩn biểu đồ phát triển INTERGROWTH-21st [14]. + Siêu âm doppler: doppler động mạch rốn, động mạch não giữa, ống tính mạch, chỉ số hiệu suất cơ tim (MPI); xác định chỉ số PI của doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và ống tĩnh mạch Đo chỉ số MPI: Thực hiện mặt cắt ngang ngực, ở mặt cắt bốn buồng tim, đặt cửa sổ Doppler ở vị trí bao trùm thành sau đường ra thất trái và van hai lá. Điều chỉnh của số Doppler ở mức 3-4 mm, tốc độ 60 cm/s, ghi nhận các chỉ số thời gian co đồng thể tích thất trái (ICT), thời gian giãn đồng thể tích thất trái (IRT) và thời gian tống máu thất trái (ET). Chỉ số MPI được tính theo công thức (ICT + IRT)/ET [12]. Ghi nhận chỉ số MPI + Theo dõi và ghi nhận kết cục thai kỳ: tuần thai kết thúc thai kỳ; Phương pháp sinh: sinh đường âm đạo, sinh mổ chủ động, mổ cấp cứu; Trọng lượng thai nhi; Chỉ số Apgar sau sinh ở phút thứ 1 và phút thứ 5; Tình trạng thai nhi: Sống, chết tiền sinh trong buồng tử cung, chết thời kỳ sơ sinh; Nhập viện điều trị tại đơn vị sơ sinh 2.3. Xử lý số liệu: Phân tích số liệu bằng phần mềm IBM SPSS Statistic 20.0 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu Nhóm có trọng lượng < 3th có tuổi mẹ trung bình thấp hơn so với nhóm chứng ( 23.7 ± 5.3 so với 27.9 ± 4.6); Không có sự khác biệt về BMI trung bình giữa các nhóm. Tăng cân trung bình trong thai kỳ ở nhóm có trọng lượng < 10th thấp hơn so với nhóm chứng ( 10.8 ± 3.7 và 10.6 ± 4.6 so với 13.4 ± 4.0). Có sự khác biệt về tiền sử mắc bệnh nội khoa, tăng huyết áp thai kỳ, tiền sử thai kém phát triển ở nhóm có trọng lượng < 10th và nhóm chứng. < 3rd (n = 51) 3rd – 10th (n = 23) Nhóm chứng (n = 121) p Đặc điểm mẹ Tuổi mẹ 23.7 ± 5.3 26.3 ± 4.7 27.9 ± 4.6 BMI trung bình 20.2 ± 2.9 19.7 ± 2.3 20.0 ± 3.2 Tăng cân trong thai kỳ 10.8 ± 3.7 10.6 ± 4.6 13.4 ± 4.0 Bệnh nội khoa 28 (54.90%) 14 (60.86%) 8 (6.61%) Tăng huyết áp thai kỳ 16 (31.37%) 6 (26.08%) 0 (0.00%) TS thai kém phát triển 8(15.68%) 1(4.34%) 2(1.54%) Đặc điểm thai kỳ Sinh đường âm đạo 18 (35.29%) 12 (52.17%) 61 (50.41%) Mổ lấy thai 33 (64.70%) 11 (47.82%) 60 (49.58%) Cân nặng (g) 2154 ± 467 2330 ± 304 3129 ± 483 Tuần thai kết thúc thai kỳ 38.5 ± 2.4 37.7 ± 1.8 38.7 ± 1.2 Bảng 1: Đặc điểm nhóm nghiên cứu TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 25 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 22 - 27, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 3.2. Đặc điểm chỉ số MPI và và một số chỉ số doppler Có sự khác biệt về chỉ số MPI ở nhóm có trọng lượng < 10th và nhóm chứng. Nhóm có trọng lượng < 3rd và nhóm có trọng lượng từ 3rd – 10th có chỉ số MPI cao hơn hẳn so với nhóm chứng ( 0.67 ± 0.3 so với 0.45 ± 0.15 và 0.51 ± 0.12 so với 0.45 ± 0.15). Chỉ số PI trung bình động mạch rốn ở nhóm có trọng lượng < 3rd và nhóm có trọng lượng 3rd - 10th lần lượt là 1.18 ± 0.49, 1.00 ± 0.23, cao hơn so với nhóm chứng 0.87 ± 0.17. Chỉ số PI động mạch não giữa nhóm có trọng lượng < 3rd và nhóm 3rd - 10th lần lượt là 1.53 ± 0.51, 1.69 ± 0.40, thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng (1.73 ± 0.68). Không có sự khác biệt nhiều về chỉ số PI ống tĩnh mạch giữa các nhóm. < 3rd (n = 51) 3rd – 10th (n = 23) Nhóm chứng (n = 121) p MPI trung bình 0.67 ± 0.3 0.51 ± 0.12 0.45 ± 0.15 < 0.01 ICT 46.74 ± 15.1 37.1 ± 8.49 34.65 ± 9.32 <0.01 IRT 54.18 ± 0.49 45.70 ± 17.83 40.06 ± 10.63 <0.01 ET 150.26 ± 25.51 164.90 ± 34.05 168.90 ± 16.00 <0.01 PI trung bình ĐMR 1.18 ± 0.49 1.00 ± 0.23 0.87 ± 0.17 <0.05 PI trung bình ĐMNG 1.53 ± 0.51 1.69 ± 0.40 1.73 ± 0.68 >0.05 PI trung bình ÔTM 0.77 ± 0.43 0.80 ± 0.29 0.69 ± 0.29 >0.05 Bảng 2: Đặc điểm chỉ số MPI theo phân loại trọng lượng và một số chỉ số doppler Biểu đồ 1: Chỉ số MPI ở nhóm có trọng lượng < 3rd, từ 3rd – 10rd và nhóm chứng Biểu đồ 2: Đặc điểm MPI trung bình theo biến đổi Doppler động mạch rốn MPI trung bình ở nhóm thai kém phát triển có bất thường Doppler động mạch rốn cao hơn so với nhóm thai kém phát triển có Doppler động mạch rốn bình thường và nhóm chứng MPI trung bình của nhóm IUGR có kết cục thai kỳ bất thường cao hơn so với nhóm IUGR có kết cục bình thường ( 0.71 ± 0.30 so với 0.52 ± 0.18) và cao hơn so với nhóm chứng ( 0.45 ± 0.15) 3.3. So sánh giá trị MPI và các thông số doppler trong dự báo kết cục thai kỳ bất lợi trong thai kém phát triển MPI có diện tích dưới đường cong ROC là 0.819, cao hơn so với AUC của PIUA, PI MCA, PI DV 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm nhóm nghiên cứu Bảng 1 cho thấy không có sự khác biệt nhiều về Biểu đồ 3: Đặc điểm MPI theo kết cục thai kỳ Biểu đồ 4: Biểu diễn đường cong ROC của MPI, PI UA, PI MCA, PI DV trong dự báo kết cục thai kỳ bất lợi trong thai kém phát triển UAC 95% CI P Cut-off Sensitivity Specificity MPI 0.823 0.757-0.878 < 0.0001 0.48 89.19 69.70 PI UA 0.787 0.723-0.843 < 0.0001 0.98 73.68 76.43 PI MCA 0.538 0.466-0.610 0.5 1.22 28.95 87.82 PI DV 0.592 0.512-0.668 0.112 0.83 44.44 80.00 Bảng 3: So sánh AUC của MPI, PI UA , PI MCA , PI DV NGUYỄN TRẦN THẢO NGUYÊN, VÕ VĂN ĐỨC, CAO NGỌC THÀNH 26 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U tuổi mẹ, BMI trung bình giữa nhóm bệnh và nhóm chứng. Riêng nhóm có ước lượng trọng lượng thai nhi < 10th, tỷ lệ mắc bệnh nội khoa và tăng huyết áp thai kỳ cao hơn có ý nghĩa so với nhóm chứng với p . Các bệnh lý nội khoa như nhiễm trùng, tăng huyết áp thai kỳ là nguyên nhân rất hay gặp của thai kém phát triển. Điều này được ghi nhận trong nhiều y văn cũng như trong các nghiên cứu trước đó [2], [13]. Tỷ lệ mổ lấy thai của nhóm thai có ước lượng trọng lượng thai nhi nhỏ hơn 3rd cao hơn so với nhóm có trọng lượng từ 3rd – 10th và nhóm chứng (p) 4.2. Đặc điểm chỉ số MPI Nghiên cứu chúng tôi nhận thấy chỉ số MPI tăng cao có ý nghĩa ở nhóm thai có trọng lượng < 10th khi so với nhóm chứng. Hơn nửa, MPI thay đổi tăng cao có ý nghĩa với tùy vào mức độ của thai kém phát triển và thai nhẹ cân. Chỉ số MPI trung bình ở nhóm có trọng lượng < 3rd (0.67 ± 0.30, cao hơn so với nhóm có trọng lượng từ 3rd – 10th (0.51 ± 0.12), MPI trung bình ở nhóm chứng: 0.45 ± 0.15. Tại tim, chức năng tim cũng có những thay đổi phù hợp với sự biến đổi tuần hoàn thai nhi. MPI là chỉ số có thể biểu diễn tình trạng suy giảm chức năng cơ tim thì tâm thu và tâm trương. Với thai kỳ kém phát triển, để đáp ứng với với tình trạng giảm oxy do thay đổi trở kháng bánh nhau, tim thai nhi sẽ thay đổi giảm tiền gánh thất trái, điều này dẫn tới giảm chức năng tim, biểu hiện thông qua MPI tăng so với bình thường. Ngoài ra, suy giảm chức năng tim gặp trong thai kém phát triển còn do tình trạng giảm oxy máu và giảm đường máu của thai nhi. ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng co bóp cơ tim. Một nguyên nhân khác đóng góp cho hiện tượng này là do sự thay đổi độ quánh của hồng cầu và tiền tải: giảm tiền tải, tăng độ quánh máu làm biến đổi chức năng tim thai nhi [3], [4], [7]. Những biến đổi của chức năng tim thai nhi liệu xảy ra ngay từ giai đoạn sớm hay vào giai đoạn Tác giả Năm nghiên cứu Phương pháp n MPI trung bình Carolina Pacheco Silva và cs [13] 2016 Nghiên cứu cắt ngang bệnh chứng - Nhóm bệnh: 55 - Nhóm chứng: 24 - Nhóm < 3rd: 0.36 ± 0.06 - Nhóm 3rd – 10th:0.35± 0.05 - Nhóm chứng: 0.32 ± 0.05 Bhorat I. E. và cs [4] 2014 Nghiên cứu cắt ngang bệnh chứng - Nhóm chứng: 43 - Nhóm bệnh: 43 - Nhóm chứng: 0.37 (0.36- 0.38) - Nhóm bệnh: 0.59 (0.52-0.69) Bảng 4: So sánh với các nghiên cứu khác cuối của thai kém phát triển. Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận rõ ràng chỉ số MPI có thay đổi ngay cả đối với nhóm thai nhẹ cân khi so với nhóm chứng. Đặc biệt, MPI thay đổi rõ ràng khi có sự biến đổi của doppler động mạch rốn và ở nhóm thai kỳ kém phát triển có kết cục thai kỳ bất thường. Những trường hợp có doppler động mạch rốn bất thường, MPI trung bình cao hơn so với nhóm chứng (biểu đồ 2); trong khi đó nhóm IUGR có doppler động mạch rốn bình thường, chỉ số MPI trung bình không có sự khác biệt nhiều so với nhóm chứng Nghiên cứu của chúng tôi còn đánh giá liệu có thể dựa vào MPI để dự báo kết cục thai kỳ hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ số MPI càng cao có liên quan đến kết cục thai kỳ bất lợi bao gồm chỉ số IA < 7 ở phút thứ 1 và thứ 5, cần hỗ trợ hô hấp hoặc cần phải nhập viện sơ sinh, đồng thời cao hơn với nhóm chứng có kết cục thai kỳ bình thường (0.71 ± 0.30 so với 0.45 ± 0.15). Với kết quả này, chúng tôi tin rằng MPI là một chỉ số tiềm năng có thể sử dụng để tiên lượng kết cục thai kỳ ở những thai kỳ kém phát triển. Đây là một trong những điểm lưu ý quan trọng trong quản lý thai kỳ thai kém phát triển. 4.3. So sánh MPI và các thông số doppler trong dự báo kết cục thai kỳ bất lợi trong thai kém phát triển Với thai kỳ kém phát triển, dựa những biến đổi tuần hoàn của thai nhi thông qua doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và doppler ống tĩnh mạch để đánh giá mức độ nặng của thai kém phát triển và tiên lượng kết cục thai kỳ để xử trí [7], [8] . Những thay đổi của doppler động mạch rốn thể hiện sự thay đổi trở kháng bánh nhau; thay đổi doppler động mạch não giữa thể hiện quá trình tái phân bố tuần hoàn thai nhi trong giai đoạn còn bù của thai với tình trạng thiếu oxy; thay đổi doppler ống tĩnh mạch xảy báo hiệu giai đoạn mất bù của thai [3]. Nghiên cứu của chúng tôi, sử dụng chỉ số PI của doppler động mạch rốn, động mạch não giữa và PI doppler ống tĩnh mạch để so sánh với chỉ số MPI dự báo kết cục thai kỳ bất lợi thai kém phát triển. Kết quả cho thấy diện tích dưới đường còn ROC của MPI lớn hơn so với diện tích dưới đường cong ROC của PI động mạch rốn, PI động mạch não giữa và PI ống tĩnh mạch. Tại ngưỡng cắt 0.48, MPI có độ nhạy 89.19% và độ đặc hiệu 69.70%, TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 27 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 22 - 27, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 dịch tích dưới đường cong ROC 0.823. Nhận thấy rằng để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, độ nhạy của MPI cao hơn so với PI động mạch rốn, động mạch não giữa và ống tĩnh mạch; tuy nhiên, độ đặc hiệu của MPI vẫn kém thua so với Doppler ống tĩnh mạch tại ngưỡng cắt PI ống tĩnh mạch 0.83. Khả năng dự báo kết cục bất lợi của ống tĩnh mạch đã được nhắc đến trong nhiều nghiên cứu. Doppler ống tĩnh mạch được xem như là tiêu chuẩn vàng để theo dõi thai và xác định thời điểm kết thúc thai kỳ. Những biến đổi của doppler ống tĩnh mạch chỉ xảy ra vào thời điểm rất muộn của quá trình thai suy, liên quan khả năng thai chết lưu và hoại tử mô cơ tim[1], [7]. Chính vì vậy, doppler ống tĩnh mạch có thể chưa phải là phương pháp tối ưu để quyết định thời điểm kết thúc thai kỳ trước khi những biến chứng bất lợi xảy ra cho thai nhi. Với những kết quả ghi nhận được, MPI có thể kết hợp với Doppler động mạch rốn và Doppler động mạch não giữa để chẩn đoán tiên lượng tình trạng thai nhi đang còn ở giai đoạn nhẹ hoặc vừa phải của tình trạng thiếu oxy, thiếu máu. Điều này cho phép cải thiện chẩn đoán và ngăn chặn các kết cục nặng của thai kỳ. 5. Kết luận Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận MPI tăng tỷ lệ thuận với mức độ nặng của thai kém phát triển. Đây là một chỉ số tiềm năng để dự báo kết cục thai kỳ bất lợi, biến đổi ngay cả trong giai đoạn sớm của thai kém phát triển, có khả năng cải thiện những kết cục nặng của thai kỳ. Tài liệu tham khảo 1. Ahmed A. N. et al. (2015), "Clinical application of fetal left modified myocardial performance index in the evaluation of fetal growth restriction", J Perinat Med, 43(6), pp. 749-54. 2. Bahtiyar M. O., J. A. Copel (2008), "Cardiac changes in the intrauterine growth-restricted fetus", Semin Perinatol, 32(3), pp. 190-3. 3. Benavides-Serralde A. et al. (2011), "Changes in central and peripheral circulation in intrauterine growth-restricted fetuses at different stages of umbilical artery flow deterioration: new fetal cardiac and brain parameters", Gynecol Obstet Invest, 71(4), pp. 274-80. 4. Bhorat I. E. et al. (2015), "Determination of the myocardial performance index in deteriorating grades of intrauterine growth restriction and its link to adverse outcomes", Prenat Diagn, 35(3), pp. 266-73. 5. Chawengsettakul S., K. Russameecharoen, P. Wanitpongpan (2015), "Fetal cardiac function measured by myocardial performance index of small- for-gestational age fetuses", J Obstet Gynaecol Res, 41(2), pp. 222-8. 6. Crispi F. et al. (2008), "Cardiac dysfunction and cell damage across clinical stages of severity in growth-restricted fetuses", Am J Obstet Gynecol, 199(3), pp. 254 e1-8. 7. Cruz-Martinez R. et al. (2011), "Sequence of changes in myocardial performance index in relation to aortic isthmus and ductus venosus Doppler in fetuses with early-onset intrauterine growth restriction", Ultrasound Obstet Gynecol, 38(2), pp. 179-84. 8. Figueras F., E. Gratacos (2014), "Update on the diagnosis and classification of fetal growth restriction and proposal of a stage-based management protocol", Fetal Diagn Ther, 36(2), pp. 86-98. 9. Figueras Francesc et al. (2003), "Cardiac function monitoring of fetuses with growth restriction", European Journal of Obstetrics & Gynecology and Reproductive Biology, 110(2), pp. 159-163. 10. Hassan W. A. et al. (2013), "Cardiac function in early onset small for gestational age and growth restricted fetuses", Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol, 171(2), pp. 262-5. 11. Henry A. et al. (2018), "Fetal myocardial performance index in assessment and management of small-for-gestational-age fetus: a cohort and nested case-control study", Ultrasound Obstet Gynecol, 51(2), pp. 225-235. 12. Maheshwari P., A. Henry, A. W. Welsh (2015), "The Fetal Modified Myocardial Performance Index: Is Automation the Future?", Biomed Res Int, 2015, pp. 215910. 13. Pacheco Silva C. et al. (2016), "Assessment of modified myocardial performance index in foetuses with growth restriction", Med Ultrason, 18(2), pp. 207-13. 14. Stirnemann J. et al. (2017), "International estimated fetal weight standards of the INTERGROWTH-21(st) Project", Ultrasound Obstet Gynecol, 49(4), pp. 478-486. 15. Unterscheider J., K. O'Donoghue, F. D. Malone (2015), "Guidelines on fetal growth restriction: a comparison of recent national publications", Am J Perinatol, 32(4), pp. 307-16. 16. Welsh A. W. et al. (2016), "Evaluation of an automated fetal myocardial performance index", Ultrasound Obstet Gynecol, 48(4), pp. 496-503.
File đính kèm:
danh_gia_gia_tri_cua_mpi_trong_tien_luong_ket_cuc_thai_ky_th.pdf

