Đánh giá chức năng vận động thô trên trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại bệnh viện Vinmec Times City

Mục tiêu: Đánh giá chức năng vận động thô của trẻ

bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại Bệnh viện

Đa khoa quốc tế Vinmec Times City. Đối tượng: Tổng

số 28 bệnh nhân được chẩn đoán bại não sau viêm não,

viêm màng não đang theo dõi và điều trị tại Bệnh viện

Đa khoa quốc tế Vinmec Times City từ tháng 04/2015

đến tháng 07/2019. Phương pháp: Các bác sỹ chuyên

ngành phục hồi chức năng tiến hành khám tổng quát

và đánh giá chức năng vận động thô (GMFM) và phân

loại trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não theo chức

năng vận động thô (GMFCS). Kết quả: Điểm trung bình

GMFM-88 của trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng

não thấp ở các chức năng ngồi, bò, quỳ, đứng, đi, chạy,

nhảy và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

mức độ GMFCS với từng nhóm tuổi. Kết luận: Trong

28 trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não GMFCS

ở mức độ 4, 5 chiếm đa số theo phân loại và không có

sự khác biệt giữa mức độ GMFCS với từng nhóm tuổi.

Chức năng vận động thô GMFM của trẻ bại não sau

viêm não, viêm màng não đều thấp

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chức năng vận động thô trên trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại bệnh viện Vinmec Times City", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá chức năng vận động thô trên trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại bệnh viện Vinmec Times City

Đánh giá chức năng vận động thô trên trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại bệnh viện Vinmec Times City
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn22
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
ĐÁNH GIÁ CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG THÔ TRÊN TRẺ BỊ BẠI 
NÃO SAU VIÊM NÃO, VIÊM MÀNG NÃO TẠI BỆNH VIỆN 
VINMEC TIMES CITY
Mai Kiều Anh1 
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá chức năng vận động thô của trẻ 
bị bại não sau viêm não, viêm màng não tại Bệnh viện 
Đa khoa quốc tế Vinmec Times City. Đối tượng: Tổng 
số 28 bệnh nhân được chẩn đoán bại não sau viêm não, 
viêm màng não đang theo dõi và điều trị tại Bệnh viện 
Đa khoa quốc tế Vinmec Times City từ tháng 04/2015 
đến tháng 07/2019. Phương pháp: Các bác sỹ chuyên 
ngành phục hồi chức năng tiến hành khám tổng quát 
và đánh giá chức năng vận động thô (GMFM) và phân 
loại trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não theo chức 
năng vận động thô (GMFCS). Kết quả: Điểm trung bình 
GMFM-88 của trẻ bị bại não sau viêm não, viêm màng 
não thấp ở các chức năng ngồi, bò, quỳ, đứng, đi, chạy, 
nhảy và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 
mức độ GMFCS với từng nhóm tuổi. Kết luận: Trong 
28 trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não GMFCS 
ở mức độ 4, 5 chiếm đa số theo phân loại và không có 
sự khác biệt giữa mức độ GMFCS với từng nhóm tuổi. 
Chức năng vận động thô GMFM của trẻ bại não sau 
viêm não, viêm màng não đều thấp.
Từ khóa: Bại não, viêm não, viêm màng não, trương 
lực cơ, vận động thô.
SUMMARY:
ASSeSSmenT of gRoSS moToR funCTIon 
In CHIlDRen CeReBRAl PAlSy RelATeD To 
menIngITIS oR enCePHAlITIS AT vInmeC 
TImeS CITy InTeRnATIonAl HoSPITAl
Objective: Assessment of gross motor function 
in children cerebral palsy related to meningitis or 
encephalitis at Vinmec Times City International Hospital. 
Subjects: 28 patients were diagnosed with cerebral palsy 
related to meningitis or encephalitis at Vinmec Times 
City International Hospital from April 2015 to July 2019. 
Method: Rehabilitation physicians in Vinmec Times 
City conducted a general examination, assess gross motor 
function (GMFM), and classify children with cerebral 
palsy related to meningitis or encephalitis by gross motor 
function (GMFCS). Result: GMFM-88
 average score of children with cerebral palsy related 
to meningitis or encephalitis was low in sitting, crawling, 
kneeling, standing, walking, running, jumping and there 
are not significant differences between the level GMFCS 
statistics for each age group. Conclusion: Among 28 
meningitis or encephalitis patients, the majority of them 
in level 4 and 5 according to GMFCS scale and there 
were not GMFCS differences between 3 age groups. Their 
GMFM gross motor function was much low.
Keywords: Meningitis or encephalitis, cerebral 
palsy, muscle tone, gross motor function.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm màng não là tình trạng viêm lớp màng mỏng 
bao bọc não và tủy sống (1). Trong khi đó, viêm não lại 
là một tình trạng viêm của nhu mô não, biểu hiện bằng 
sự rối loạn chức năng thần kinh-tâm thần khu trú hoặc 
lan tỏa (2). Cả hai nhóm bệnh này đều để lại nhiều di 
chứng thần kinh nặng nề cho người mắc như mất thính 
giác, mất thị lực, suy giảm nhận thức, rối loạn ngôn 
ngữ, các vấn đề hành vi, suy giảm vận động và co giật, 
thậm chí dẫn đến bại não ở trẻ (3). Năm 2015, số ca 
Ngày nhận bài: 07/08/2019 Ngày phản biện: 14/08/2019 Ngày duyệt đăng: 23/08/2019
1. Bệnh viện Vinmec Times City
Điện thoại: 0983 241 276
Email: [email protected]
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 23
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
mắc viêm màng não và viêm não trên toàn thế giới lần 
lươt là 8,7 triệu người và 4.3 triệu người(4, 5). Tại Việt 
Nam, tỷ lệ viêm não cấp trong khoảng 10 năm có xu 
hướng giảm dần từ 3/100.000 trường hợp/năm xuống 
còn 1,4/100.000 trường hợp/năm (6). Tuy nhiên, bệnh 
sẽ tiến triển nhanh chóng và có khả năng gây tổn thương 
thần kinh nghiêm trọng, có nguy cơ dẫn đến bại não nếu 
không được điều trị kịp thời. Các phương pháp điều trị 
hiện nay thường được sử dụng bao gồm: dùng thuốc, 
các phương pháp tập luyện phục hồi chức năng làm tăng 
khả năng vận động thô, ghép tế bào gốc(7). Thang đánh 
giá chức năng vận động thô (GMFCS) là một công cụ 
đánh giá chức năng vận động thô của trẻ bại não sau 
viêm não, viêm màng não chính xác, khách quan, cho 
phép lượng giá những thay đổi rất nhỏ về chức năng vận 
động thô của trẻ bại não như nằm, ngồi, bò, đứng, đi, 
chạy(8). Việc đánh giá chức năng vận động thô cho trẻ 
bại não do viêm não, viêm màng não đóng vai trò quan 
trọng trong việc xác định mức độ tổn thương về vận 
động thô của trẻ. Tuy nhiên, tại Việt Nam cũng như trên 
thế giới chưa có đánh giá nào về chức năng vận động 
thô của trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não. Vì 
vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích 
đánh giá tình trạng chức năng vận động thô của trẻ bại 
não sau viêm não, viêm màng não.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 28 trẻ bị bại 
não sau viêm não, viêm màng não được điều trị tại Bệnh 
viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City từ tháng 04/2015 
đến tháng 07/2019. Nghiên cứu được cho phép bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, Bệnh viện Đa 
khoa quốc tế Vinmec Times City số 381/2015/QD-Vinmec 
ngày 30/10/2014.
2.2. Phương pháp và công cụ nghiên cứu
Các bác sỹ chuyên ngành phục hồi chức năng tiến 
hành khám tổng quát và đánh giá chức năng vận động 
thô (GMFM) và phân loại trẻ bại não sau viêm não, viêm 
màng não theo chức năng vận động thô (GMFCS). Phân 
loại chức năng vận động thô ở trẻ bại não (GMFCS) được 
phát triển đầu tiên năm 1997, mở rộng năm 2007 bởi 
Robert P, giáo sư vật lý trị liệu tại Đại học Drexel, Bỉ. Sự 
phân loại theo GMFCS giải quyết các mục tiêu thiết lập 
bởi Tổ chức Y tế thế giới về phân loại khuyết tật ở trẻ em, 
một hệ thống phân loại tập trung vào những gì trẻ bại não 
có thể thực hiện gắn với những yếu tố môi trường sống, 
sinh hoạt. GMFCS đặc biệt chú trọng đến khả năng ngồi 
và đi. Với 5 mức độ, phân biệt các mức độ rõ ràng, dễ ứng 
dụng trên lâm sàng. 
Khả năng vận động thô của trẻ được đánh giá trên 
5 lĩnh vực với tổng điểm tối đa 264 điểm gồm các phần: 
nằm và lẫy gồm 17 mục với tổng điểm từ 0 đến 51; ngồi 
gồm 20 mục với tổng điểm từ 0 đến 60; bò và quỳ gồm 
14 mục với tổng điểm từ 0 đến 42; đứng gồm 13 mục với 
tổng điểm từ 0 đến 39; đi, chạy, nhảy gồm 24 mục với 
tổng điểm từ 0 đến 72. Cách cho điểm từng mục như sau 
(mỗi mục là một động tác): 0= Trẻ không thể khởi đầu 
một hoạt động; 1= Trẻ có thể khởi đầu một hoạt động 
và thực hiện được < 10% hoạt động; 2= Trẻ có thể thực 
hiện một phần hoạt động (10 đến dưới 100% hoạt động); 
3= Trẻ có thể thực hiện hoàn toàn một hoạt động (100% 
hoạt động) (8).
Điểm thô sẽ được nhập vào máy tính bằng phần mềm 
ứơc tính khả năng vận động GMAE để tính toán tổng điểm 
của từng lĩnh vực hay chuyển đổi GMFM-88.
2.3. Phân tích thống kê
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả đặc điểm của 
trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não. Kiểm định khi 
bình phương được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa 
tuổi với mức độ GMFCS. Mức ý nghĩa thống kê đạt được 
khi giá trị p nhỏ hơn 0.05. Phân tích số liệu được thực hiện 
sử dụng phần mềm thống kê STATA phiên bản 12.0.
III. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Tổng số 28 trẻ bại não sau viêm não, viêm màng 
não tham gia vào nghiên cứu. Trong đó, trẻ nữ chiếm tỷ 
lệ nhiều nhất 56.6%, còn lại trẻ nam chiếm 46.4%. Trẻ 
nằm trong độ tuổi từ 5 tuổi trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất 
50.0%, tiếp đến trẻ ở độ tuổi từ 5-10 tuổi chiếm 35.7%, trẻ 
có độ tuổi trên 10 chiếm tỷ lệ thấp nhất 14.3%. Trong đó, 
điểm đánh giá GMFCS mức 5 chiếm tỷ lệ lớn nhất 64.3%, 
tiếp theo GMFCS mức 3 và 4 đều chiếm 14.3%, còn lại 
mức 2 chiếm 7.1%. Trong nghiên cứu của GS. Liêm và 
cộng sự, tỷ lệ GMFCS mức 5 chiếm 60%, mức 4 chiếm 
35% và mức 2 chiếm 5%, không có mức 1 và 2 (7).
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn24
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung N = 28 (100%)
Giới tính Nam 13 (46.4%)
 Nữ 15 (53.6%)
Độ tuổi Dưới 5 tuổi 14 (50.0%)
 5-10 tuổi 10 (35.7%)
 Trên 10 tuổi 4 (14.3%)
Mức độ GMFCS Mức 2 3 (7.1%)
 Mức 3 4 (14.3%)
 Mức 4 4 (14.3%)
 Mức 5 18 (64.3%)
Bảng 2: Đánh giá chức năng vận động thô của trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não
 Chức năng vận động thô n=28 mean (SD)
Tổng điểm GMFM-88 27.3 (24.3)
Nằm và lẫy 32.6 (12.9)
Ngồi 21.3 (21.1)
Quỳ và bò 8.1 (14.3)
Đứng 4.0 (9.3)
Đi, đứng, chạy, nhảy 5.3 (13.2)
Đánh giá chức năng vận động thô 
Khi đánh giá chức năng vận động thô của trẻ bại 
não sau viêm não, viêm màng não, điểm GMFM-88 
của trẻ trung bình là 27.3 điểm. Trong đó, chức năng 
nằm và lẫy có điểm trung bình cao nhất 32.6 điểm, 
tiếp theo chức năng ngồi trung bình 21.3 điểm, các 
chức năng còn lại bò, quỳ, đi, đứng, chạy trung bình 
dưới 8.2 điểm. Tỷ lệ thực hiện được các động tác vận 
động thô trong nghiên cứu của GS. Liêm và cộng sự 
trên những trẻ bại não liên quan đến ngạt oxy là 12% 
và thực hiện được 32% động tác 6 tháng sau khi ghép 
tế bào gốc (7).
Mối liên quan giữa mức độ theo thang GMFCS 
theo nhóm tuổi 
Liên quan đến mức độ nặng của trẻ bại não sau viêm 
não, viêm màng não, trẻ dưới 10 tuổi đa số ở mức độ 5, 
mức độ 4 chiếm tỷ lệ cao nhất ở trẻ trên 10 tuổi. Tuy nhiên, 
không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ 
GMFCS và nhóm tuổi với giá trị p>0.05. (xem chi tiết 
trong bảng 3)
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 25
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bảng 3: Mối liên quan giữa mức độ bại não theo thang GMFCS và độ tuổi
Mức độ GMFCS
Nhóm tuổi
p-value
Dưới 5 tuổi N (%) 5-10 tuổi N(%) Trên 10 tuổi N(%)
Mức II 0 (0%) 1 (10.0%) 1 (25.0%)
0.053
Mức III 3 (21.4%) 0 (0.0%) 1 (25.0%)
Mức IV 1 (7.1%) 1 (10.0%) 2 (50.0%)
Mức V 10 (71.4%) 8 (80.0%) 0 (0.0%)
IV. KẾT LUẬN
Trong 28 trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não, 
GMFCS ở mức độ 4, 5 chiếm đa số theo phân loại và 
không có sự khác biệt rõ rệt giữa mức độ GMFCS theo 
từng nhóm tuổi. Chức năng vận động thô GMFM của trẻ 
bại não sau viêm não, viêm màng não đều thấp. Qua đánh 
giá cho thấy, trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não chỉ 
thực hiện được các động tác nằm lẫy là chính, còn lại các 
động tác bò, quỳ, đi, đứng, chạy thì trẻ thực hiện được rất 
ít động tác. Cần tiến hành đánh giá sớm chức năng vận 
động thô cho trẻ bại não sau viêm não, viêm màng não 
sớm có thể cải thiện mức độ GMFCS thông qua các biện 
pháp can thiệp sớm như giáo dục phục hồi chức năng, 
ghép tế bào gốc. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. CDC. Meningitis 2017 [Available from: https://www.cdc.gov/meningitis/.
2. Karen C, Bloch, Carol A, GlaserAllan R, Tunkel. Encephalitis and Myelitis: Infectious Disease; 2017.
3. Namani SA, Koci BM, Milenkovic Z, Koci R, Qehaja-Bucaj E, Ajazaj L, et al. Early neurologic complications 
and long-term sequelae of childhood bacterial meningitis in a limited-resource country (Kosovo). Childs Nerv Syst. 
2013;29(2):275-80.
4. Global, regional, and national incidence, prevalence, and years lived with disability for 310 diseases and injuries, 
1990-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015. Lancet. 2016;388(10053):1545-602.
5. Global, regional, and national life expectancy, all-cause mortality, and cause-specific mortality for 249 causes of 
death, 1980-2015: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2015. Lancet. 2016;388(10053):1459-544.
6. Nguyen Thu Yen, Mark R. Duffy, Nguyen Minh Hong, Nguyen Tran Hien, Marc Fischer, Hills* SL. 
Surveillance for Japanese Encephalitis in Vietnam, 1998–2007. The American journal of tropical medicine and hygiene. 
2010;83(4):816-9.
7. Nguyen LT, Nguyen AT, Vu CD, Ngo DV, Bui AV. Outcomes of autologous bone marrow mononuclear cells 
for cerebral palsy: an open label uncontrolled clinical trial. BMC pediatrics. 2017;17(1):104.
8. Sharma A, Sane H, Gokulchandran N, Kulkarni P, Gandhi S. A clinical study of autologous bone marrow 
mononuclear cells for cerebral palsy patients: a new frontier. 2015;2015:905874.

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_chuc_nang_van_dong_tho_tren_tre_bi_bai_nao_sau_viem.pdf