Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện Quân Y 87

Mục tiêu: Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng

kết hợp xương nẹp vít khóa và các biến chứng sau mổ.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 33 bệnh nhân gãy

đầu dưới xương chày, không phạm khớp, được phẫu thuật mổ mở và mổ nhỏ ít xâm lấn.

Theo dõi thường xuyên, kết quả xa được đánh giá sau 1 năm với 33 bệnh nhân.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện Quân Y 87", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện Quân Y 87

Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện Quân Y 87
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
33
1 Bệnh viện Quân y 87
Người phản hồi (Corresponding): Vũ Đình Sử ([email protected])
Ngày nhận bài: 2/5/2020, ngày phản biện: 6/5/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/6/2020
ĐÁNH GIÁ BƯỚC ĐẦU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN 
ĐẦU DƯỚI XƯƠNG CHÀY BẰNG KẾT HỢP XƯƠNG 
NẸP VÍT KHÓA TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 87
Vũ Đình Sử1, Bùi Mạch1, Lương Nam Khánh1, 
Nguyễn Tấn Lạc1, Nguyễn Hoàng Phong1
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá bước đầu kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng 
kết hợp xương nẹp vít khóa và các biến chứng sau mổ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu 33 bệnh nhân gãy 
đầu dưới xương chày, không phạm khớp, được phẫu thuật mổ mở và mổ nhỏ ít xâm lấn. 
Theo dõi thường xuyên, kết quả xa được đánh giá sau 1 năm với 33 bệnh nhân.
Kết quả : Kết quả liền xương sau 1 năm đạt 97%. Kết quả phục hồi chức năng 
đánh giá theo thang điểm American Orthopaedic Food and Ankle Score với các mức tốt 
và rất tốt đạt 88%, trung bình 6%, xấu 6%. Các biến chứng gặp gồm nhiễm khuẩn nông 
2 trường hợp (6%), viêm xương 1 trường hợp (3%), gãy nẹp 1 trường hợp (3%).
Kết luận Phẫu thuật điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp xương 
nẹp vít khóa cho kết quả liền xương và phục hồi chức năng tốt. bước đầu nhận thấy mổ 
mở gặp nhiều các biến chứng hơn mổ nhỏ ít xâm lấn.
Từ khóa: nẹp vít khóa xương chày.
INITIAL ASSESSMENT OF TREAMENT OF DISTAL TIBIAL 
FRACTURE BY LOCKING PLATES IN THE MILITARY HOSPITAL 87
SUMMARY
Objectives: To evaluate the results and complications.
Subjects and methods: Prospective study on 33 patients, from August 2017 to 
january 2019, Fractures of distal tibia without intra- articular extension were operated 
with locking plate with open and small invasive surgery. On follow-up regularly, distal 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
34
results were assessed after 1 year with 33 patients.
Results: The result of bone healing after 1 year reached 97%. functional results 
assessed on American Orthopaedic Food and Ankle Score with good and very good 
scores reached 88%, average 6%, bad 6%. Complications include superficial skin 
infections in 2 cases (6%), osteomyelitis in 1 case (3%), implant failure in 1 case (3%).
Conclusion: Treatment by locking plate for distal tibia fractures is associated 
with good funtional outcomes and is an effective. Open surgery encountered more 
complications than less invasive surgery.
Keywords: Tibia locking plates 
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy đầu dưới xương chày là loại 
gãy thuộc vùng hành xương, nằm trong 
giới hạn một đoạn 4 - 5 cm tính từ khe khớp 
cổ chân. Đây là loại thương tổn thường 
gặp, chiếm tỷ lệ 7- 10% các thương tổn hai 
xương cẳng chân và luôn đặt ra những khó 
khăn, thách thức trong điều trị [4].
Điều trị gãy đầu xa hai xương cẳng 
chân bao gồm bảo tồn và phẫu thuật. Điều 
trị bảo tồn bằng nắn chỉnh kín, bó bột đã 
được Bohler đề xướng và thu được nhiều 
thành công [1]. Tuy nhiên khi ổ gãy phức 
tạp, đường gãy chéo xoắn dễ di lệch thứ 
phát trong bột, nhất là sau khi hết phù nề.
Phẫu thuật kết hợp xương bằng 
khung cố định ngoại vi và nẹp vít khóa. 
Khung cố định ngoại vi cồng kềnh, hay 
gặp biến chứng nhiễm trùng chân đinh và 
di lệch ổ gãy thứ phát do lỏng đinh. Nẹp 
vít khóa với thiết kết phù hợp giải phẫu 
đầu dưới xương chày, ôm sát xương, nẹp 
và vít tạo thành 1 khối vững chắc, giúp 
làm nhanh liền xương và tập phục hồi chức 
năng. Nhiều nghiên cứu trên thế giới và 
trong nước báo cáo về kết hợp xương đầu 
dưới xương chày bằng nẹp vít khóa cho 
kết quả điều trị khả quan [1], [2], [3], [5].
Bệnh viện Quân y 87 đã áp dụng 
phương pháp phẫu thuật kết hợp xương 
nẹp vít khóa đầu dưới xương chày từ tháng 
8 năm 2016, nhưng chưa có tổng kết, đánh 
giá. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài 
“Đánh giá bước đầu kết quả phẫu thuật 
điều trị gãy kín đầu dưới xương chày bằng 
kết hợp xương nẹp vít khóa tại Bệnh viện 
Quân y 87” với hai mục tiêu: 
Đánh giá bước đầu kết quả điều trị 
gãy kín đầu dưới xương chày bằng kết hợp 
xương nẹp vít khóa.
Đánh giá biến chứng sau phẫu 
thuật gãy kín đầu dưới xương chày. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
33 bệnh nhân chẩn đoán xác định 
gãy đầu dưới xương chày, được phẫu thuật 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
35
điều trị kết hợp xương bằng nẹp vít khóa, 
từ tháng 8/2016 đến tháng 1/2019.
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên.
Gãy kín đầu dưới xương chày loại 
A1, A2, A3 theo phân loại AO.
Có hoặc không gãy xương mác 
cùng bên kèm theo.
Bệnh nhân không có chống chỉ 
định vô cảm.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Gãy 
xương bệnh lý
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, 
tiến cứu.
2.3. Quy trình kỹ thuật
2.3.1. Phương tiện, dụng cụ 
phẫu thuật:
C - Arm, bàn mổ, dụng cụ phẫu 
thuật, khoan xương.
Nẹp vít khóa đầu dưới xương chày, 
loại đặt mặt trước và loại đặt mặt trong.
2.3.2. Phương pháp phẫu thuật
Trường hợp gãy xương mác 
Kết hợp xương mác bằng nẹp vít 
hoặc bằng đinh Kirschner, chỉ thép khi có 
gãy ⅓ dưới hoặc đầu dưới xương mác kèm 
theo.
Mổ vào xương chày bằng đường 
mổ nhỏ, ít xâm lấn.
Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa.
Chuẩn bị nẹp đầu xa xương chày, 
loại đặt mặt trong.
Định vị nẹp trên da sao cho nẹp 
luồn dưới da, bắt vít đầu gần, đầu xa thuận 
lợi.
Rạch da vị trí đầu xa và đầu gần 
của nẹp theo đường bên trong xương chày, 
mỗi đường rạch khoảng 3 cm, bóc tách 
tránh tĩnh mạch và thần kinh chày trước, 
hết toàn bộ lớp dưới da.
Ảnh: Nẹp vít khóa đầu dưới 
chày, loại đặt mặt trước và 
loại đặt mặt trong 
(Nguồn: tác giả)
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
36
Sử dụng dẫn khoan ren, vặn cố 
định vào đầu ngoại vi nẹp, luồn nẹp từ 
đầu xa, qua ổ gãy tới đầu gần, mặt trong 
xương.
Nắn chỉnh trục xương và mảnh 
gãy dưới C arm theo bình diện trước sau, 
và trong ngoài, đến khi thẳng trục và đạt 
yêu cầu.
Bắt vít qua 2 đường rạch và các 
vết chọc da nhỏ, tương ứng lỗ nẹp.
Rửa vết mổ bằng nước muối sinh 
lý, khâu da.
Mổ mở xương chày
Tư thế bệnh nhân: nằm ngửa.
Chuẩn bị nẹp đầu xa xương chày, 
loại đặt mặt trước.
Rạch da đường trước ngoài cẳng 
chân, rạch cân, bóc tách đủ rộng, dài, tránh 
bó mạch thần kinh chày trước, bộc lộ ổ 
gãy.
Nắn xương về vị trí giải phẫu, 
Đặt nẹp mặt trước, bắt vít, đóng 
vết mổ. Cầm máu, rửa vết mổ bằng nước 
muối sinh lý, đặt dẫn lưu, khâu da.
2.4.5. Chăm sóc sau mổ
Sau mổ chân gãy được gác cao 
tránh phù nề, đọng dịch. Các khớp cổ 
chân, ngón chân được tập vận động ngay 
sau mổ. Thuốc kháng sinh điều trị, giảm 
đau, giảm nề.
2.4.6. Phục hồi chức năng sau mổ
Bệnh nhân được hướng dẫn tập 
thụ động sớm các khớp lân cận như khớp 
gối, khớp cổ chân ngay từ ngày đầu tiên 
sau mổ.
Hướng dẫn tập PHCN theo bài tập 
thể dục liệu pháp gồm 4 giai đoạn [1].
+ Giai đoạn 1: Tập vận động thụ 
động tại giường thời gian từ 3 - 4 tuần lễ 
đầu sau phẫu thuật. Các bài tập như gấp 
gối, gấp cổ chân, nâng chân khỏi giường 
+ Giai đoạn 2: Thời gian tập ngắn, 
đứng tỳ chống trên hai nạng, tập dậm chân 
tại chỗ, bắt đầu sau 1 tháng kể từ khi mổ 
kết hợp xương. Ban đầu chỉ tỳ nén nhẹ 
bằng một phần trọng lượng cơ thể, không 
gây đau đớn vùng gãy xương, sau đó tăng 
sức tỳ nén dần lên.
+ Giai đoạn 3: Tập đi có hỗ trợ 2 
nạng, rồi bỏ dần đi 1 nạng, thông thường 
sau 2 tháng từ khi KHX.
+ Giai đoạn 4: Tập đi tự do 
2.4. Các biến nghiên cứu
- Đặc điểm chung của mẫu nghiên 
cứu: Tuổi, giới, nguyên nhân, thời điểm 
phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật.
- Đánh giá kết quả gần: Theo 
Larson – Bostman [1], Các tiêu chuẩn 
đánh giá gồm tiến triển vết mổ và kết quả 
X - quang sau mổ với 4 mức là rất tốt, tốt, 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
37
trung bình, kém.
- Đánh giá kết quả xa (12 tháng)
Đánh giá can xương: dựa vào 
hình ảnh XQ sau mổ, chia làm 4 mức 
độ can xương [1]: can xương vững chắc, 
can xương chắc nhưng còn khe sáng, can 
xương mờ, không có can xương.
Đánh giá kết quả phục hồi 
chức năng: theo Thang điểm American 
Orthopaedic Food and Ankle Score [1], 
[2], [3] với 4 mức độ rất tốt, tốt, trung 
bình, kém.
Đánh giá biến chứng gần, biến 
chứng xa: nhiễm trùng vết mổ, viêm 
xương, khớp giả, gãy nẹp, liền lệch.
2.5. Xử lý số liệu: Phân tích, xử 
lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung
Tuổi: từ 18 đến 78, độ tuổi 18- 60 
chiếm 75,8%.
Giới: Nam chiếm 63,6%; Nữ 
39,4%.
Cơ chế chấn thương: Tai nạn giao 
thông 51,6%; Tai nạn sinh hoạt 33,3%; Tai 
nạn lao động 9,1%; Tai nạn thể thao 6%.
Thời điểm phẫu thuật: mổ trong 
tuần đầu 66,7%; ngày thứ 8 đến ngày thứ 
20 là 18,2%, trên 20 ngày 15,1%.
Kỹ thuật mổ xương chày: mổ 
nhỏ 39,4%; mổ mở thông thường 60,6%.
Gãy xương mác kèm theo: 27 
Bệnh nhân gãy xương mác kèm theo, 
chiếm 81,8%. trong số này, chỉ định mổ 
xương mác là 22 trường hơp, cụ thể: nẹp 
vít 11 bệnh nhân, đinh nội tủy 9 bệnh nhân, 
buộc chỉ thép đơn thuần 2 bệnh nhân. 5 
trường hợp không có chỉ định mổ xương 
mác, mang bột cẳng bàn chân 1 tháng.
3.2. Đánh giá kết quả gần
3.2.1. Diễn biến tại chỗ
Bảng 3.1. Diễn biến tại vết thương (n = 33)
Tình trạng vết mổ
Nhóm mổ nhỏ, ít 
xâm lấn (n=13)
Nhóm mổ 
mở (n=20)
Tổng
(n=33)
Tỷ lệ %
(n=33)
Liền kỳ đầu 13 18 31 93,9
Nhiễm khuẩn nông 0 2 2 6,1
Nhiễm khuẩn sâu 0 0 0 0
Tổng cộng 13 20 33 100
 Nhận xét: liền vết mổ kỳ đầu chiếm 93,9%.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
38
3.2.2. Nắn chỉnh ổ gãy theo giải phẫu
Bảng 3.2. Tình trạng nắn chỉnh ổ gãy, đánh giá trên phim Xquang (n = 33)
Mức độ
Nhóm mổ nhỏ, ít 
xâm lấn (n=13)
Nhóm mổ 
mở (n=20)
Tổng
(n=33)
Tỷ lệ %
(n=33)
Rất tốt 9 11 20 60,6
Tốt 4 7 11 33,3
Trung bình 0 2 2 6,1
Kém 0 0 0 0
Tổng cộng 13 20 33 100
 Nhận xét: Nắn chỉnh ổ gãy rất tốt + tốt chiếm 93,9%.
3. 3. Kết quả xa (12 tháng)
3.3.1. Kết quả can xương 
Can xương chắc chiếm tỉ lệ 97%. Khớp giả 1 trường hợp, chiếm 3%.
3.3.2. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng 
Bảng 3.4. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng (n = 33)
Kết quả
Nhóm mổ nhỏ, ít xâm 
lấn (n=13)
Nhóm mổ mở 
(n=20)
Tổng 
(n=33)
Tỷ lệ % 
(n=33)
Rất tốt 11 11 22 66,7
Tốt 2 5 7 21,3
Trung bình 0 2 2 6,0
Xấu 0 2 2 6,0
Tổng cộng 13 20 33 100
 Nhận xét: rất tốt + tốt chiếm tỉ lệ 88%.
3.4. Biến chứng 
Bảng 3.5. Biến chứng.
Biến chứng Nhóm mổ nhỏ ít xâm lấn (n=13) Nhóm mổ mở (n=20)
Gãy nẹp 0 1
Nhiễm khuẩn nông 0 2
Viêm xương 0 1
Nhận xét: tất cả các biến chứng 
đều nằm trong nhóm bệnh nhân mổ mở.
4. BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của mẫu 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
39
nghiên cứu
- Phần lớn chấn thương gặp ở lứa 
tuổi lao động, chủ yếu là nam giới.
- Nguyên nhân chủ yếu là do 
TNGT.
- Thời điểm phẫu thuật: trong tuần 
đầu chiếm 66,7%.
- Nghiên cứu của chúng tôi có 
27/33 ca có gãy xương mác kèm theo: 
22/27 ca gãy xương mác di lệch nhiều 
và mất vững khớp cổ chân, nên được mổ 
kết hợp xương mác. Kết hợp xương mác 
nhằm duy trì chiều dài và sự ổn định của 
mộng chày mác, chống di lệch xoay cẳng 
chân. Khi cố định được xương mác, khối 
cổ chân trở về vị trí giải phẫu tương đối 
tốt, dễ dàng hơn cho việc nắn chỉnh ổ gãy 
và kết hợp xương chày.
4.2. Kết quả gần, diễn biến tại 
vết mổ
Có 93,9% bệnh nhân không có 
biểu hiện nhiễm trùng sau mổ. So sánh 
với Bùi Mạnh Hà [1], tỉ lệ này là 91,4%. 
Kỹ thuật mổ ít sang chấn phần mềm, dù 
mổ mở hay mổ nhỏ là quan trọng. Ngoài 
ra, công tác chuẩn bị bệnh nhân được tiến 
hành theo qui trình có kiểm tra chặt chẽ, 
kết hợp kháng sinh là những yếu tố ngăn 
ngừa biến chứng nhiễm khuẩn có hiệu quả. 
4.3. Kết quả xa, mức độ can 
xương (1 năm)
Thời điểm 1 năm 97% các bệnh 
nhân được đánh giá có can xương chắc.
So sánh với Bùi Mạnh Hà (2015) 
Tỷ lệ can xương chắc là 100% [1]. 
A.Dhakar, R. Annappa, M. Gupta 
(2016),), tỷ lệ này là 92% [3].
Quá trình phẫu thuật được chúng 
tôi thực hiện theo 4 nguyên tắc AO đề ra 
gồm ít bầm dập phần mềm, nắn xương về 
giải phẫu, kết xương vững chắc, vận động 
sớm không đau đã đem lại kết quả liền 
xương tốt trong điều trị loại gãy này.
4.4. Kết quả xa, phục hồi chức 
năng (1 năm)
88% các trường hợp đạt kết quả 
phục hồi chức năng tốt và rất tốt.
Theo nghiên cứu của Bùi Mạnh 
Hà (2015) Tỷ lệ này là 91,4% [1].
A.Dhakar, R. Annappa, M. Gupta 
(2016), tỷ lệ này là 94% [3].
Kết quả phục hồi chức năng trong 
nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn của các 
tác giả khác. Nguyên nhân do có 1 trường 
hợp gãy nẹp, một trường hợp viêm xương, 
hai bệnh nhân này tập đau nhiều nên hạn 
chế vận động, kết quả đạt mức kém. Hai 
trường hợp khác, bệnh nhân không đến tái 
khám định kỳ nên tập luyện không đúng 
gây hạn chế vận động khớp cổ chân, kết 
quả đạt trung bình.
 4.5. Biến chứng
Biến chứng sớm: Trong nghiên 
cứu có 2 trường hợp nhiễm trùng nông, 
chiếm 4,5%. Cả 2 bệnh nhân mổ mở trong 
tuần đầu, phần mềm còn sưng nề vừa và có 
kèm xây sát da. Sau mổ sưng nóng đỏ đau, 
đã được nẹp bột bất động, tăng liều kháng 
sinh, chống viêm, kê cao chân, sau 3 ngày 
hết tình trạng nhiễm khuẩn nông, vết mổ 
liền kỳ đầu. 
Biến chứng muộn
Một trường hợp bệnh nhân nữ 62 
tuổi, đái tháo đường, mổ mở đặt nẹp mặt 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 22 - 6/2020
40
trong, tháng thứ 3 bệnh nhân xuất hiện 1 lỗ 
dò, gần mắt cá trong, từng đợt sưng nóng 
đỏ đau, dùng kháng sinh thì giảm, tại thời 
điểm tháng thứ 12, chụp X Quang đã có 
can độ III, không có hình mảnh xương chết. 
Dự kiến sẽ nhập viện tháo phương tiện và 
nạo đường rò. Bệnh nhân cũng chính là 
1 trong hai trường hợp nhiễm khuẩn nông 
đã mô tả. Nguyên nhân một phần do bệnh 
nhân không tuân thủ chỉ định điều trị đái 
tháo đường.
So sánh Bùi Mạnh Hà [1], tỉ tệ 
nhiễm khuẩn nông chiếm 8,6%. Tác giả 
A.Dhakar, R. Annappa, M. Gupta (2016) 
[3], nhiễm khuẩn nông 4%, viêm xương 
4%, một số tác giả khác cũng công bố tỉ lệ 
nhiễm khuẩn 5-15% [3], [5]
Gãy nẹp 1 trường hợp, chiếm 3%, 
đây là bệnh nhân gãy nhóm A3, mổ mở, 
đặt nẹp vít mặt trong. Tháng thứ 5 sau mổ, 
khi xương chưa liền vững, bệnh nhân đã 
bỏ nạng đi lao động nặng dẫn đến gãy nẹp
A.Dhakar, R. Annappa, M. Gupta 
(2016), tỉ lệ này là 8% [3].
 5. KẾT LUẬN
Từ tháng 8 năm 2016 đến tháng 
1 năm 2019, chúng tôi đã phẫu thuật 33 
bệnh nhân gãy đầu dưới xương chày bằng 
kết hợp xương nẹp vít khóa. Rút ra một số 
kết luận sau:
Tỉ lệ can xương vững chắc đạt 97%
Phục hồi chức năng đạt kết quả rất 
tốt và tốt, chiếm 88%.
Biến chứng nhiễm trùng nông 6%, 
gãy nẹp 3%, viêm xương 3%. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Mạnh Hà (2017). Đánh giá 
kết quả điều trị phẫu thuật gãy đầu dưới 
xương chày bằng kết xương nẹp khóa với 
đường mổ tối thiểu tại Bệnh viện TWQĐ 
108 , Luận văn chuyên khoa cấp II, Học 
viện Quân y.
2. Phan Văn Ngọc, Lê Xuân Sơn, 
Hồ Sỹ Nam, Lê Phúc (2019) “Điều trị 
phẫu thuật gãy đầu dưới xương chày bằng 
kỹ thuật ít xâm lấn tại Bệnh Viện Saigon_
Ito Phú Nhuận” kỷ yếu hội nghị khoa học 
chấn thương chỉnh hình việt nam lần thứ 
18, tr 75.
3. Ajeet Dhakar, Rajendra 
Annappa, Mahesh Gupta (2016) 
“Minimally Invasive Plate Osteosynthesis 
With Locking plate for Distal Tibia 
Fractures”, journal of Clinical and 
Diagnostic Research. 2016 Mar, Vol-10.
4. Christoph Sommer and Thomas 
P. Ruedi (2001) “Tibia, Distal”, AO 
Principles of Fracture Management. pp 
544 - 562,
5. N Hosangadi, K Shetty, J 
Nicholl, B Singh (2018) “ Tibia locking 
plates for fractures of distal tibia 
using MIPO technique – results and 
complication”. Orthopaedic Proceedings. 
Vol. 94 - B. 
6. Hazarika S, Chakravarthy J, 
Cooper J. Minimally invasive locking 
plate osteosynthesis for fractures of the 
distal tibia – Injury. 2006; pp 877-87.
7. Wasudeo Gadegone, Yogesh 
Salphale, Vijayanand Lokhande (2015) 
“Results of Dynamic Interlock Nailing in 
Distal Tibial Fractures”. Surgical Science, 
July 2015, pp 317-326. 

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_buoc_dau_ket_qua_dieu_tri_gay_kin_dau_duoi_xuong_ch.pdf