Đặc điểm và liên quan giữa yếu tố gia đình - xã hội và trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV

Đặt vấn đề: Nhiễm HIV có liên quan đến sự phát triển của trầm cảm

sau sinh (TCSS). TCSS không phổ biến ở phụ nữ bình thường nhưng

lại chiếm tỉ lệ cao ở phụ nữ nhiễm HIV (H) và đã được xác định là một

yếu tố dự báo mạnh mẽ không tuân thủ ART và liên quan đến khó khăn

trong việc chăm sóc con. Yếu tố gia đình và xã hội có vai trò quan trọng

trong chăm sóc và điều trị phụ nữ bị TCSS.

Mục tiêu: Xác định đặc điểm và mối liên quan của yếu tố gia đình xã

hội với TCSS ở phụ nữ nhiễm H.

Vật liệu và Phương pháp: Nghiên cứu thuần tập theo chiều dọc thực

hiện tại Đồng Nai và Bình Dương từ 30/11/2012 đến 30/3/2014. Tất cả

135 phụ nữ nhiễm H và 405 phụ nữ không nhiễm H (tỉ lệ 1: 3) đồng ý

tham gia đã được sàng lọc TCSS bằng cách sử dụng thang Edinburgh

(EPDS) từ khi nhập viện sinh đến 1 và 6 tuần sau khi sinh. TCSS được

đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có điễm cắt ≥ 13 được sử dụng để

xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập

viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu thu thập số liệu được sử dụng để

thu thập các đặc điểm của tất cả các mẫu nghiên cứu.

 

pdf 9 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm và liên quan giữa yếu tố gia đình - xã hội và trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm và liên quan giữa yếu tố gia đình - xã hội và trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV

Đặc điểm và liên quan giữa yếu tố gia đình - xã hội và trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV
NGUYỄN MẠNH HOAN
68
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Mạnh Hoan 
Trường Đại học Y Dược Huế
ĐẶC ĐIỂM VÀ LIÊN QUAN GIỮA YẾU TỐ
GIA ĐÌNH - XÃ HỘI
VÀ TRẦM CẢM SAU SINH Ở PHỤ NỮ NHIỄM HIV 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Mạnh Hoan, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/06/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
24/06/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 30/06/2016
Từ khoá: Trầm cảm sau sinh 
(TCSS), trầm cảm sau sinh ở phụ 
nữ nhiễm HIV, hỗ trợ gia đình - 
xã hội. 
Key words: Postpartum 
depression, HIV - 
positivepostpartum women, 
family - social support.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Nhiễm HIV có liên quan đến sự phát triển của trầm cảm 
sau sinh (TCSS). TCSS không phổ biến ở phụ nữ bình thường nhưng 
lại chiếm tỉ lệ cao ở phụ nữ nhiễm HIV (H) và đã được xác định là một 
yếu tố dự báo mạnh mẽ không tuân thủ ART và liên quan đến khó khăn 
trong việc chăm sóc con. Yếu tố gia đình và xã hội có vai trò quan trọng 
trong chăm sóc và điều trị phụ nữ bị TCSS. 
Mục tiêu: Xác định đặc điểm và mối liên quan của yếu tố gia đình xã 
hội với TCSS ở phụ nữ nhiễm H. 
Vật liệu và Phương pháp: Nghiên cứu thuần tập theo chiều dọc thực 
hiện tại Đồng Nai và Bình Dương từ 30/11/2012 đến 30/3/2014. Tất cả 
135 phụ nữ nhiễm H và 405 phụ nữ không nhiễm H (tỉ lệ 1: 3) đồng ý 
tham gia đã được sàng lọc TCSS bằng cách sử dụng thang Edinburgh 
(EPDS) từ khi nhập viện sinh đến 1 và 6 tuần sau khi sinh. TCSS được 
đánh giá ở tất cả các lần, các EPDS có điễm cắt ≥ 13 được sử dụng để 
xác định trầm cảm có thể xảy ra. Mẫu có EPDS ≥ 13 ở thời điểm nhập 
viện được loại khỏi nghiên cứu. Phiếu thu thập số liệu được sử dụng để 
thu thập các đặc điểm của tất cả các mẫu nghiên cứu. 
Kết quả: Trong bài này chúng tôi chỉ trình bày đánh giá nhóm H ở thời 
điểm sau sinh 6 tuần: tỉ lệ TCSS ở nhóm nhiễm H là 61,2%. Phân tích 
đơn biến xác định một số yếu tố gia đình: quan hệ vợ chồng trước sinh, 
bạo lực gia đình, “quan hệ” ngoài chồng, mặc cảm bị bệnh H, và cảm 
thấy có lỗi với gia đình có liên quan đến trầm cảm sau sinh. Phân tích 
đa biến xác định sự hỗ trợ cộng đồng làm giảm nguy cơ TCSS. 
Kết luận: Tỉ lệ TCSS tại thời điểm 6 tuần ở nhóm nhiễm H là 61,2%. Các 
yếu tố giảm nguy cơ TCSS: người địa phương (RR=0,68; KTC 95%: 0,47-
0,98); quan hệ một chồng (RR=2,64; KTC 95%: 1,93-3,60); quan hệ vợ 
chồng trước sinh tốt (RR=0,44; KTC 95%: 0,30-0,64). Các yếu tố tăng nguy 
cơ TCSS: bạo lực gia đình (RR=2,2; KTC 95%:1,54-3,12); Mặc cảm bệnh 
H (RR=2,37; KTC 95%:1,41-3,99); Cảm thấy có lỗi với gia đình (RR=1,72; 
KTC 95%: 1,10-2,70); hỗ trợ xã hội (RR=0,75; KTC 95%: 0,56-0,99). 
của chúng tôi muốn tìm hiểu đặc điểm và đánh 
giá sự liên quan của yếu tố gia đình – xã hội đối 
với tình trạng TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV.
Mục tiêu cụ thể 
Nhận xét các đặc điểm nhân khẩu, hôn nhân 
gia đình, tâm lý xã hội và hỗ trợ cộng đồng của 
các sản phụ nhiễm H.
Xác định mối liên quan giữa TCSS và các yếu tố 
gia đình – xã hội. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu. Nghiên cứu thuần 
tập theo chiều dọc 
Đối tượng nghiên cứu 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 68 - 76, 2016
69
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Từ khóa: Trầm cảm sau sinh (TCSS), trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV, hỗ trợ gia đình-xã hội.
Abstract 
CHARACTERISTICS AND RELATIONSHIP BETWEEN FAMILY SOCIAL 
FACTORS AND POSTPARTUM DEPRESSION IN HIV INFECTED WOMEN
Background: HIV infection is also a cause of postpartum depression, however, in Vietnam, there 
has not yet the prevalence of postpartum depression in HIV infected women. 
Objective Reviews of characteristics and determine the relationship of family social factors with 
postpartum depression in HIV infected women. 
Materials and Methods: Since November 30th 2012 to March 30th 2014, a prospective cohort study is 
done at Dong Nai and Binh Duong province. The sample includes135HIV infected women and 405 non 
infected women (ratio 1/3) who accepted to participate to the research. We used “Edinburgh Postnatal 
Depression Scale (EPDS) as a screening test when women hospitalized for delivery and 1 week, 6weeks 
postpartum. Mother who score EPDS ≥ 13 are likely to be suffering from depression. We exclude women 
who have EPDS ≥ 13 since just hospitalize. Data are collected by a structural questionnaire.
Results: At 6 weeks postpartum, prevalence of depression in HIV infected women is 61%. Logistical 
regression analysis determine these factors are related with depression: address, child uninfected 
of HIV, feeling guilty of HIV infected, feeling guilty with their family, prenatal conjugal relationship, 
“external relations” husband, domestic violence and social support. Multivariate regression analysis 
showed that family-social support to reduce the risk of depression. 
Conclusion: prevalence of postpartum depression in HIV infected women is 61,2%. These factors 
reduce the risk of postpartum depression: domestic women, RR=0.68 (95% CI: 0.47-0.98); a married 
relationship, RR=2.64 (95% CI: 1.93-3.60); Prenatal conjugal relationship good, RR=0.44 (95% CI: 
0.30-0.64). Factors that increase the risk postpartum depression: domestic violence, RR=2.2 (95% 
CI: 1.54-3.12); feeling guilty of HIV infected, RR=2.37 (95% CI: 1.41-3.99); feeling guilty with their 
family, RR=1.72 (95% CI: 1.10-2.70); social support, RR = 0.75 (95% CI: 0.56 -0.99).
Keywords: postpartum depression, HIV-positivepostpartum women, family-social support.
1. Đặt vấn đề 
Tình trạng nhiễm HIV có liên quan đến sự 
phát triển của TCSS, sự hiện diện của TCSS đã 
gắn liền với chất lượng kém của cuộc sống, tiến 
triển của bệnh HIV và không tuân thủ điều trị 
ARV. Trên thế giới tỉ lệ TCSS từ 10 - 15%, thấp 
hơn tỉ lệ ở phụ nữ nhiễm H khoảng 2 - 4 lần 
[12,13]. Tại VN, tỉ lệ TCSS từ 5 - 15% [1,3] và 
chưa có báo cáo về tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm 
HIV. Điều trị chống trầm cảm cần kết hợp ba yếu 
tố bao gồm tâm lý trị liệu, thuốc đặc trị và hỗ trợ 
cộng đồng. Trong đó sự hỗ trợ của gia đình và 
xã hội rất cần thiết và đã chứng minh hiệu quả 
về kiểm soát và tăng cường sự tuân thủ ARV, dự 
phòng TCSS và phục hồi điều trị. Nghiên cứu 
NGUYỄN MẠNH HOAN
70
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Dân số mục tiêu. Các phụ nữ trong thời kỳ thai 
sản, đặc biệt là phụ nữ nhiễm HIV.
Dân số nghiên cứu. Các sản phụ sinh tại 
Đồng Nai và Bình Dương từ 30/11/2012 đến 
30/3/2014.
Tiêu chuẩn chọn. Khi sản phụ đồng ý tham gia 
và thực hiện các yêu cầu của nghiên cứu. 
Tiêu chuẩn loại. Khi sản phụ có một trong các 
yếu tố sau: đang mắc bệnh mãn tính; hoặc đang có 
các biểu hiện rối loạn tâm thần, nhất là trầm cảm 
(đã được Bs chuyên khoa xác định); hoặc sàng lọc 
trầm cảm theo thang EPDS khi vào viện có điểm cắt 
≥ 13; hoặc thai kỳ lần này có nguy cơ cao; hoặc bị 
tai biến sản khoa trong khi sinh. 
Tính cỡ mẫu. Thiết kế nghiên cứu là nghiên cứu 
thuần tập theo chiều dọc, so sánh tỉ lệ TCSS giữa 2 
nhóm nhiễm H và không nhiễm H. Giả thuyết của 
nghiên cứu, nguy cơ TCSS ở nhóm nhiễm H gấp 2 
lần ở nhóm không nhiễm H (RR=2). Xác suất TCSS 
ở nhóm không nhiễm 0.15 (Ng Mai Hạnh)[3], suy 
ra xác suất TCSS ở nhóm nhiễm H là 0.30. Lấy 
mẫu theo tỉ số không nhiễm H : nhiễm H = 3:1. Cỡ 
mẫu cần cho nhóm nhiễm H là 112. Theo nghiên 
cứu của Ng Manh Hoan (2005-2011)[4] tại Đồng 
Nai thì tỉ lệ mất dấu là 7% và tỉ lệ nhiễm H thực sự 
của các mẫu có test sàng lọc (+) là 90%, vậy cỡ 
mẫu của nhóm nhiễm H là 135 và nhóm không 
nhiễm H là 405.
Thu thập và xử lý số liệu 
Nhóm nhiễm H. gồm các sản phụ đã biết nhiễm 
H trước nhập viện và các sản phụ có sàng lọc HIV 
(+) khi nhập viện sau đó có khẳng định (+). Lấy đến 
khi đủ cỡ mẫu yêu cầu là 135.
Nhóm không nhiễm H. Các sản phụ có sàng lọc 
HIV (-) khi nhập viện. Cách lấy mẫu: cứ một sản phụ 
nhóm nhiễm H nhập viện thì sẽ lấy ngẫu nhiên đơn 
3 sản phụ nhóm không nhiễm H nhập viện ngay 
sau sản phụ trên. Các mẫu đã được chọn vẫn được 
đưa vào nghiên cứu dù các ca test sàng lọc (+) đứng 
trước nó sau này có kết quả khẳng định (-).
Tên của các sản phụ sẽ được mã hoá trong 
phiếu thu thập số liệu và thang sàng lọc EPDS. Tiêu 
chuẩn đánh giá dựa trên điểm EPDS: < 9 - không 
có rối loạn tâm thần; 9 đến 12 - buồn sau sinh 
(BSS); ≥ 13 - rất có thể TCSS. 
Tiến hành. Mỗi sản phụ được thực hiện EPDS 
ở 3 giai đoạn. Giai đoạn 0. Lúc vào viện chưa 
chuyển dạ hoặc chuyển dạ tiềm thời, mục đích loại 
các ca có điểm EPDS ≥ 13. Giai đoạn 1 Sau sinh 
1 tuần đang nằm viện, mục đích tìm mẫu có EPDS 
≥ 9. Giai đoạn 2. Sau sinh 6 tuần, mục đích tìm tỉ 
lệ hiện mắc TCSS. 
Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê Epi Info, 
dùng phép kiểm chi bình phương và Fisher. 
Vấn đề y đức. Nghiên cứu không lộ tên và bí 
mật của người bệnh. Các sản phụ sàng lọc có nguy 
cơ TCSS sẽ được giới thiệu đến BV tâm thần TW2 
để chẩn đoán xác định và có hướng điều trị. 
3. Kết quả
3.1 Phân bố mẫu của nhóm nhiễm H 
Mẫu ban đầu bao gồm 135 sản phụ nhóm 
nhiễm H và 405 sản phụ nhóm không nhiễm H. 
Sau đó có 2 sản phụ nhóm không nhiễm H và 
6 sản phụ nhóm nhiễm H bị loại do có tiêu chuẩn 
loại. Còn lại 403 mẫu nhóm không nhiễm và 130 
mẫu nhóm nhiễm. Sau xét nghiệm khẳng định, có 
21 ca bị loại khỏi nhóm nhiễm do có kết quả (-), 
nên nhóm còn 109. Tỉ lệ mất dấu tại thời điểm 
6 tuần sau sinh ở nhóm không nhiễm là 11.7% 
(47/403) và ở nhóm nhiễm 10.1% (11/109).
Khoảng 50% (55/109) sản phụ nhiễm H được 
XN HIV lần đầu khi chuyển dạ, tương đương tỉ lệ 
(50%) báo cáo tại hội nghị đánh giá tình hình dịch 
HIV N %
Xét nghiệm (XN) sàng lọc H (+):
- XN khẳng định nhiễm H (+) 
- XN khẳng định nhiễm H (-)
76
55 
21
100,0
73,3
26.7
Biết nhiễm H trước khi nhập viện
Biết nhiễm H sau khi nhập viện 
Tổng
54
55
109
49,5
50,5
100,0
Nhiễm H (gđ sau sinh 1 tuần)
Không nhiễm 
Tổng
 109 
403
512
21,3
78,7
100,0
Nhiễm H (gđ sau sinh 6 tuần) 98 100.0
Bảng 1. Phân bố mẫu của nhóm nhiễm H
TCSS ở các nhóm N % Giá trị P
TCSS ở nhóm nhiễm H (n=98) 
. Không 
. Có
38 
60
38,8 
61,2
< 0,001
TCSS ở nhóm không nhiễm H (n=375) 
. Không 
. Có
341 
34
91,3 
8,7
TCSS ở hai nhóm (N = 473) 
. Không 
. Có
379 
94
80,1
19,9
Bảng 2. Tỉ lệ TCSS mới mắc theo điểm cắt EPDS ở giai đoạn sau sinh 6 tuần
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 68 - 76, 2016
71
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
Đặc điểm (N=98) N %
Nhóm tuổi
< 20
20 – < 35
≥ 35
Nơi cư trú
Trong tỉnh
Ngoài tỉnh
Tôn giáo
Không
Có 
Nghề nghiệp
Không nghề, nội trợ
Có nghề 
Kinh tế gia đình
Khó khăn
Đủ sống
Dư giả
Tình trạng hôn nhân hiện tại
Không chung sống
Chung sống 
Quan hệ vợ chồng trước sinh
Tốt, bình thường
Xấu
Bực lực gia đình
Không
Có 
 “Quan hệ” ngoài chồng
Không
Có
7 
82
 9 
62 
36 
68 
 30
32
66
26
69
3
8 
90
81
17
77
21
55
43
7,1
83,7
9.2
 63,3
36,7
69,4
30,6
32,7
 67,3
26,6
70,4
3,0
8,2
91,2
82,7
17,3
78,6
21,4
56,1
43,9
Báng 3. Đặc điểm nhân khẩu, hôn nhân - gia đình của nhóm HHIV/AIDS và đáp ứng của VN (14/1/2014)1, và 
gần 1/3 (21/75) sản phụ không nhiễm H nhưng 
có kết quả sàng lọc H (+). 
Trong giai đoạn chuyển dạ sản phụ được thông 
báo kết quả sàng lọc (+), để hóa dự phòng lây 
truyền mẹ - con, sẽ có nguy cơ bị stress rất cao và 
là yếu tố dự báo bị TCSS8. 
Tỉ lệ TCSS mới mắc (trầm cảm sau khi sinh được 
6 tuần) ở nhóm phụ nữ nhiễm H cao gấp 7 lần TCSS 
ở nhóm phụ nữ không nhiễm H (p < 0,001). Tỉ lệ 
TCSS ở mẫu nghiên cứu (tổng 2 nhóm) là 19,9%.
3.2 Nhận xét các đặc điểm của nhóm H 
3.2.1 Đặc điểm nhân khẩu, hôn nhân - gia đình 
Tuổi: Nhóm tuổi từ 20 đến 35, tuổi sinh sản, 
chiếm đa số (83,7%), tuổi trung bình 27.
Cư trú: Dân số sống trong tỉnh chiếm 63,3%, 
nhưng đa số ở ngoại thành, gần 60% (n=36). Dân 
nhập cư từ tỉnh khác có tỉ lệ trên 30%. Điều này 
được giải thích là do thiết kế nghiên cứu đa trung 
tâm, hai thành phố Biên Hòa và Thủ Dầu Một được 
chọn là nội thành. Mặt khác do đặc điểm kinh tế, tỉ 
lệ dân nhập cư từ ngoài tỉnh cao, trên 35%. 
Tôn giáo: trong nghiên cứu của chúng tôi, số 
sản phụ không theo tôn giáo nào có tỉ lệ cao hơn 
gấp hai lần (68%) nhóm theo một tôn giáo (30%).
Nghề nghiệp - kinh tế gia đình: tỉ lệ sản phụ 
có hoàn cảnh thu nhập thấp, kinh tế gia đình khó 
khăn ở nhóm nhiễm có tỉ lệ cao, gần 1/3 số mẩu.
Tình trạng hôn nhân hiện tại: tỉ lệ vợ chồng 
không còn chung sống ở nhóm nhiễm cao do các 
quan hệ phức tạp. Trong NC, tỉ lệ này cao gấp 8 
lần so với nhóm không nhiễm. 
Mối quan hệ vợ chồng trước khi sinh xấu là yếu 
tố dự báo TCSS29. Tỉ lệ quan hệ vợ chồng không 
hạnh phúc ở nhóm nhiễm H cao, có tỉ lệ 17,3%.
Bạo lực gia đình: Bạo lực từ người thân, nhất 
là từ chồng, là một nguyên nhân gây trầm cảm ở 
người phụ nữ, đặc biệt trong giai đoạn sau sinh29. 
Tỉ lệ bạo lực gia đình trong nghiên cứu của chúng 
tôi ở nhóm nhiễm rất cao, khoảng hơn 20%.
Tình trạng “quan hệ” ngoài chồng: trong nghiên 
cứu của chúng tôi cao, 43,9%; hầu hết là từ trước hôn 
nhân lần này, đa phần là với chồng trước 76.2%. 
3.2.2 Đặc điểm tâm lý xã hội và hỗ trợ cộng đồng
Bộc lộ bệnh với người khác: Trong NC này tỉ 
lệ không bộc lộ bệnh rất cao, khoảng 83,5 %. 
(Bảng 4)
Đặc điểm 
Tần số (tỉ lệ %)
Không Có
Bộc lộ bệnh với người khác 
Mặc cảm về căn bệnh H 
Cảm thấy có lỗi với gia đình 
Tâm trạng khi kết quả con không bị nhiễm H 
Tâm trạng có nguy cơ (còn lo sợ) 
Tâm trạng bảo vệ (rất mừng; bình thường) 
Tâm trạng khi kết quả con nhiễm H 
Tâm trạng nguy cơ (tuyệt vọng; bỏ con; có lỗi)
Tâm trạng bảo vệ (bình thường;)
Hỗ trợ gia gia đình-xã hội
 Hỗ trợ gia đình 
 Hỗ trợ xã hội
n = 97
16 (16,5)
30 (30,9)
28 (28,9)
n = 68
64 (94,1)
2 (2,9)
n = 9
mẫu quá nhỏ
n = 98
36 (36,7)
45 (45,9)
81 (83,5)
67 (69,1)
69 (71,1)
4 (5,9)
66 (97,1)
62 (63,3)
53 (54,1)
Bảng 4 Đặc điểm tâm lý xã hội và hỗ trợ cộng đồng
Mặc cảm về căn bệnh đang mang: Số phụ nữ có 
tâm trạng mặc cảm trong NC rất cao gần 70%. Đây 
là một yếu tố nguy cơ mạnh gây TCSS [13,18]. 
Cảm thấy có lỗi với gia đình: Tỉ lệ phụ nữ nhiễm 
H có hôn nhân không có hôn thú khoảng 30% (phần 
lớn ngoài sự đồng ý của gia đình), tỉ lệ tan vỡ hôn 
nhân cũng như tỉ lệ lây nhiễm H từ người chồng trước 
cũng cao (khoảng 44%), vì vậy các sản phụ này luôn 
có mặc cảm có lỗi với gia đình của họ! Trong nghiên 
cứu, tâm trạng này chiếm tỉ lệ hơn 70%.
Lq tôn giáo - TCSS: Có sự liên quan giữa tôn 
giáo với TCSS, P = 0,03; RR = 0,69 (0,47-1,02).
Lq nghề nghiệp - TCSS. NC không thấy có sự 
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng thất 
nghiệp và TCSS, RR = 0,86 (0,65-1,15).
Lq kinh tế - TCSS. NC không thấy có sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng kinh tế gia 
đình với TCSS, RR= 0,92 (0,67-1,26).
Lq tình trạng hôn nhân hiện tại - TCSS. Trong 
NC không thấy khác biệt với nguy cơ TCSS giữa 
sản phụ đơn thân và sản phụ có gia đìn ...  số phụ nữ 
có quan hệ vợ chồng hòa thuận trước khi sinh con 
chiếm tỉ lệ (72,7%) gấp 4 lần so với nhóm có tình 
trạng hôn nhân không tốt (17,3%).
Bạo lực gia đình: Bạo lực từ người thân, nhất 
là từ chồng, là một nguyên nhân gây trầm cảm ở 
NGUYỄN MẠNH HOAN
74
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
người phụ nữ, đặc biệt trong giai đoạn sau sinh 
[15]. Tỉ lệ bạo lực gia đình trong nghiên cứu của 
chúng tôi ở nhóm nhiêm rất cao, khoảng hơn 20%.
4.1.3 Đặc điểm tâm lý xã hội và hỗ trợ gia 
đình - xã hội
Bộc lộ bệnh với người khác: Bộc lộ bệnh với 
người khác không phải là dễ, nhất là bệnh H. 
Nguyên nhân là do các sai lầm khi mới phát hiện 
HIV, người ta cho rằng HIV/AIDS là căn bệnh 
của người có hành vi nguy cơ cao (ma túy, mại 
dâm, tình dục không an toàn). Trong NC này tỉ lệ 
không bộc lộ bệnh khoảng 18%. Trong đó, phần 
lớn sản phụ thổ lộ với chồng (88,9%) (33% biết 
chồng đã nhiễm) và người thân trong gia đình 
(cha mẹ 57.9%, anh chị em ruột 29.6%). Tỉ lệ 
bộc lộ với bạn tình rất thấp so với nhiều nghiên 
cứu khác (1,1% so với khoảng 84%); vì 76.2% số 
người mà sản phụ có “quan hệ” ngoài chồng là 
chồng trước.
Mặc cảm về căn bệnh đang mang: Số phụ nữ 
có tâm trạng mặc cảm trong NC rất cao gần 70%. 
Đây là một yếu tố nguy cơ mạnh gây TCSS [13][18]. 
Cảm thấy có lỗi với gia đình: Tỉ lệ phụ nữ nhiễm 
H có hôn nhân không có hôn thú khoảng 30% (phần 
lớn ngoài sự đồng ý của gia đình), tỉ lệ tan vỡ hôn 
nhân cũng như tỉ lệ lây nhiễm H từ người chồng 
trước cũng cao (khoảng 44%), vì vậy các sản phụ 
này luôn có mặc cảm có lỗi với gia đình của họ! 
Tâm trạng khi có kết quả nhiễm H của con: Tỉ 
lệ con có XN PCR1 (+) khoảng 8% (9 ca) so với tỉ 
lệ trong nước năm 2012 là 7%. Số phụ nữ có tâm 
trạng có nguy cơ khi biết kết quả xét nghiệm HIV 
của con không cao. Tuy nhiên, trong nghiên cứu, 
chỉ có khoảng 68,3% trẻ được làm XN; số trẻ không 
XN là do cha mẹ sợ con còn yếu hoặc vì chưa có 
kết quả XN vào thời điểm kết thúc nghiên cứu (trẻ 
được làm XN trễ). Tỉ lệ mẹ có tâm trạng bảo vệ 
trước TCSS rất cao khi con không nhiễm HIV.
Hỗ trợ gia đình-xã hội: Hỗ trợ gia đình, xã hội 
là rất quan trọng trong việc thúc đẩy mối quan hệ 
giữa các cá nhân và là rất cần thiết trong quá trình 
mang thai và sau sinh. Tỉ lệ các sản phụ nhận được 
sự hỗ trợ từ phía gia đình và xã hội, trong NC này, 
lần lượt là 63,3% và 54,1%.
Tỉ lệ TCSS mới mắc theo điểm cắt EPDS
Tỉ lệ TCSS mới mắc (trầm cảm sau khi sinh 
6 tuần ở nhóm nhiễm cao gần gấp 7 lần nhóm 
không nhiễm (61,2:8,7), với p<0.001. Qua các 
NC tại VN, tỉ lệ TCSS trong khoảng từ 5,1% - 
15%, thấp so với tỉ lệ TCSS ở phụ nữ nhiễm HIV 
qua các nghiên cứu thế giới là 22% - 74,1%. Tỉ 
lệ TCSS của mẫu nghiên cứu (bao gồm 2 nhóm) 
là 19,9%.
4.2 Liên quan giữa các đặc điểm của 
nhóm nhiễm H với TCSS
4.2.1 Liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu và TCSS 
Lq giữa tuổi và TCSS: Trong cộng đồng, phụ 
nữ lứa tuổi từ 25 -44 có tỉ lệ bị trầm cảm cao nhất. 
Tuy nhiên, trong y văn, tỉ lệ trầm cảm ở phụ nữ sau 
sinh không có sự khác biệt giữa các nhóm tuổi [1]
[3][8]. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả 
tương tự.
Lq nơi cư trú-TCSS: Tỉ lệ TCSS ở nhóm sản phụ 
ở địa phương (trong tỉnh) là 56,5%, thấp hơn 0.68 
lần so với nhóm sản phụ nhập cư (ngoài tỉnh). 
Tương tự NC của Ng Mai Hạnh [3], Ng thi Ngọc 
Trang [5], Hartley M & cs,Eastwood JG& cs [17]
[18]. Cuộc sống của các sản phụ đến nhập cư gặp 
nhiều bất lợi hơn các sản phụ ở địa phương, nên 
họ có nhiều nguy cơ TCSS [8]. 
Lq nghề nghiệp, kinh tế gia đình – TCSS: Chúng 
tôi chưa thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
giữa tình trạng thất nghiệp và TCSS, p = 0,34; 
0,86 (0,65-1,15). Một số nghiên cứu khác cho 
thấy có sự khác biệt như các NC của Nguyễn Thi 
Thu Phong, Hartley M & cs, Eastwood JG& cs [6]
[12][15]. Có thể do số lượng mẫu của chúng tôi 
chưa đủ lớn. 
Phụ nữ có thu nhập gia đình thấp có nguy cơ 
TCSS cao gấp đôi phụ nữ có thu nhập khá (Đinh 
Thị Tố Trinh, Blaney NT,Grussu P) [2][10][14]. Tuy 
nhiên, trong NC của chúng tôi không nhận thấy có 
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
4.2.2 Liên quan giữa đặc điểm hôn nhân – gia 
đình và TCSS 
Lq tình trạng hôn nhân - TCSS: Không thấy 
có khác biệt liên quan TCSS giữa hai nhóm sản 
phụ không còn chung sống và sản phụ có gia đình 
ổn định, RR=0,86 (KTC 95%: 0,56-1,32). Tương 
tự, kết quả NC của Nguyễn thị Ngọc Trang [5], 
Kosinska Kaczynska (2008) không thấy có mối liên 
quan giữa tình trạng hôn nhân với TCSS. 
Lq quan hệ vợ chồng trước sinh – TCSS: NC 
nhận thấy phụ nữ có cuộc sống vợ chồng hòa hợp, 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(03), 68 - 76, 2016
75
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
ổn định trược khi sinh con sẽ giảm nguy cơ TCSS 
hơn 50%, RR = 0,44 (KTC 95%: 0,30-0,64). 
Lq “quan hệ” ngoài chồng – TCSS: NC ghi 
nhận sản phụ “quan hệ” ngoài chồng có nguy 
cơ TCSS gấp 2,64 lần sản phụ chỉ có một chồng 
(KTC 95%: 2,07-4,18). Sản phụ có hôn nhân 
không hôn thú có thể nguy cơ bị TCSS gấp 2 
lần người có hôn thú ((Milgrom J và cs, 2008)
[16]. Tình trạng bất mãn trong hôn nhân có liên 
quan đến TCSS và quan hệ xấu là yếu tố dự báo 
TCSS29. Theo Sierra Manzano JM, sự xung đột 
trong quan hệ vợ chồng là một biến số độc lập 
có liên quan đến TCSS [24]. 
Lq bạo lực gia đình - TCSS: Bạo lực từ người 
thân, nhất là từ chồng, là một nguyên nhân gây 
trầm cảm ở người phụ nữ, đặc biệt trong giai 
đoạn sau sinh. NC của Hartley, Mary và cs 
(2011)[15], nhận thấy các yếu tố dự báo mạnh 
cho tâm trạng trầm cảm ở các phụ nữ là thiếu sự 
hỗ trợ và/hoặc bị bạo lực từ chồng của họ. Tỉ lệ 
bạo lực gia đình trong nghiên cứu của chúng tôi 
ở nhóm nhiễm rất cao, khoảng hơn 20%, trong 
đó tỉ lệ TCSS ở các sản phụ bị bạo lực cao hơn 
2 lần so với sản phụ không bị bạo hành, RR=2,2 
(KTC 95%: 1,54-3,12).
4.2.3 Liên quan giữa đặc điểm tâm lý xã hội, 
hỗ trợ gia đình xã hội và TCSS
Lq bộc lộ bệnh với người khác: Về tâm lý học, 
thổ lộ bệnh với người khác không dễ, nhất là 
bệnh H. Nguyên nhân là do các sai lầm khi mới 
phát hiện HIV, người ta cho rằng HIV/AIDS là 
căn bệnh của người có hành vi nguy cơ cao (ma 
túy, mại dâm, tình dục không an toàn). Trong 
một nghiên cứu ở Malawi, nguy cơ TCSS tăng 
gấp 3 lần ở nhóm không thổ lộ bệnh được với 
người khác (OR=3.05; KTC 95%:1,39-7,24) 
[11]. Trong NC của chúng tôi không thấy có 
khác biệt về liên quan TCSS giữa người bộc lộ 
bệnh và người không bộc bệnh RR=0,84 (KTC 
95%: 0,60-1,16). 
Mặc cảm về căn bệnh đang mang: Số sản phụ 
có tâm trạng mặc cảm trong NC rất cao gần 70%, 
và nguy cơ họ bị TCSS cao gấp 2,37 lần người 
không bị mặc cảm, tương tự NC ở Malawi nếu 
người nhiễm H có mặc cảm về căn bệnh của mình 
thì nguy cơ TCSS tăng hơn 3 lần (OR =3,44; KTC 
95% 1,34-9,75).
Cảm thấy có lỗi với gia đình: Trong NC, tỉ lệ 
phụ nữ nhiễm H có hôn nhân không có hôn thú 
khoảng 30% (phần lớn ngoài sự đồng ý của gia 
đình), tỉ lệ tan vỡ hôn nhân cũng như tỉ lệ lây 
nhiễm H từ người chồng trước cũng cao (khoảng 
44%), vì vậy các sản phụ này luôn có mặc cảm 
có lỗi với gia đình của họ. Nguy cơ TCSS của 
các sản phụ mang mặc cảm có lỗi hơn gần gấp 
2 lần ở các sản phu không có mặc cảm trên, 
RR=1,72 (KTC 95%: 1,10-2,70). tương tự NC ở 
Malawi nếu người nhiễm H có mặc cảm về căn 
bệnh của mình thì nguy cơ TCSS tăng hơn 3 lần 
(OR =3,44; KTC 95% 1,34-9,75).
Tâm trạng khi có kết quả nhiễm H của con: 
Chúng tôi thấy có mối liên quan giữa tình trạng 
con bị nhiễm H và TCSS: sản phụ có con bị nhiễm 
H có nguy cơ trầm cảm cao hơn sản phụ có con 
không nhiễm H. Trong NC, có đến 77% sản phụ có 
thai là do mong muốn, vì vậy khi sinh ra con gặp 
bất hạnh nhiễm H chắc chắn người mẹ có nguy cơ 
cao bị trầm cảm. NC của chúng tôi sản phụ có tâm 
trang tốt khi con không bị nhiễm H ít nguy cơ TCSS 
hơn (p=0,02); NC của Grussu P và Ozbasaran F 
[17] cũng cho kết quả tương tự. 
Liên quan giữa tâm trạng con không nhiễm H 
và TCSS không xác định được do mẫu quan sát 
quá nhỏ (n=9). 
Hỗ trợ cộng đồng: Hỗ trợ cộng đồng, bao 
gồm hỗ trợ gia đình, xã hội, là rất quan trọng 
trong việc thúc đẩy mối quan hệ giữa các cá 
nhân và là rất cần thiết trong quá trình mang 
thai và sau sinh. Nó được kết hợp với việc tiết 
lộ tình trạng nhiễm HIV, hành vi đối phó, và sự 
ổn định của tâm lý và thể chất tốt của người mẹ. 
Tình trạng giảm hoặc thiếu sự hỗ trợ xã hội là 
một yếu tố nguy cơ của TCSS; sự kết hợp giữa 
hỗ trợ xã hội ngay từ trước khi sinh và TCSS là 
mạnh hơn rất nhiều so với các hỗ trợ xã hội chỉ 
sau khi sinh (OR lần lượt là 9,64 (95% CI:4,09-
22,69) và 3,38 (95% CI: 1,64-6,98) Xie H, He 
G, Koszycki D[25] Tương tự, NC của chúng tôi 
sản phụ được hỗ trợ xã hội ít nguy cơ TCSS so 
hơn sản phụ không được hỗ trợ xã hội, RR = 0,75 
(KTC 95%: 0,56-0,99).
4.2.4 Mối liên quan giữa một số đặc điểm và 
TCSS trong mô hình hồi qui đa biến
Sau khi kiểm soát các biến số nhóm tuổi, nơi 
NGUYỄN MẠNH HOAN
76
Tậ
p 
14
, s
ố 
03
Th
án
g 
07
-2
01
6
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
cư trú, tôn giáo, nghề nghiệp; sản phụ được hỗ trợ 
xã hội giảm nguy cơ bị TCSS 37% (RR=0,63; KTC 
95%: 0,46-0,85) so với các sản phụ thiếu sự hỗ trợ 
xạ hội, với p =0,003.
5. Kết luận
Từ kết quả nghiên cứu 98 sản phụ nhiễm H sinh 
tại Đồng Nai và Bình Dương từ 31/11/2012 đến 
31/3/2014. Chúng tôi có kết luận về đặc điểm và 
liên quan của yếu tố gia đình-xã hội với TCSS ở 
thời điểm sau sinh 6 tuần như sau:
1. Phụ nữ nhiễm H có nguy cơ bị TCSS là 61,2%, 
cao gấp 6,4 lần phụ nữ không nhiễm H (p<0,001).
2. Các yếu tố giảm nguy cơ TCSS: người địa 
phương (RR=0,68; KTC 95%: 0,47-0,98); quan 
hệ một chồng (RR= 2,64; KTC 95%: 1,93-3,60) ; 
quan hệ vợ chồng trước sinh tốt (RR= 0,44; KTC 
95%: 0,30-0,64). Các yếu tố tăng nguy cơ TCSS: 
bạo lực gia đình (RR=2,2; KTC 95%: 1,54-3,12); 
Mặc cảm bệnh H (RR= 2,37; KTC 95%: 1,41-
3,99); Cảm thấy có lỗi với gia đình (RR=1,72; 
KTC 95%:1,10-2,70); hỗ trợ xã hội (RR=0,75; KTC 
95%: 0,56-0,99). 
3. Hỗ trợ gia đình – xã hội là yếu tố cần thiết 
trong việc chăm sóc điều trị phụ nữ sau sinh, đặc 
biệt là phụ nữ nhiễm HIV.
Tài liệu tham khảo
1. Đinh Thị Tố Trinh (2003), Tỉ lệ trầm cảm sau sinh và các yếu tố liên quan. 
Luận án tốt nghiệp chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD TP.HCM, tr 20-50.
2. Nguyễn Mạnh Hoan, Đặc điễm dịch tễ và tâm lý xã hội ở phụ nữ 
nhiễm HIV trầm cảm sai sinh. Tạp chí Phụ Sản,07-2014, 12 (03): 58-63 
(ISSN:1859-3844).
3. Nguyễn Mai Hạnh (2005), yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh, 
Luận án chuyên khoa cấp II. Trường ĐHYD TP.HCM, tr 33-90.
4. Nguyễn Mạnh Hoan, Tình hình chuyển dạ và dự phòng lây truyền HIV 
của sản phụ có chẩn đoán sàng lọc HIV(+) sinh tại BVĐK tỉnh Đồng 
Nai 2005-2010. Tạp chí Phụ Sản, 2012; 10 (1): 31-36 (ISSN: 1859-3844).
5. Nguyễn Thị Ngọc Trang (2001), So sánh tỉ lệ tcss giữa nhóm thai kỳ 
nguy cơ và hai kì bình thườngtại BVTD.Luận án tốt nghiệp CK II ĐHYD 
TP HCM, tr 51,58.
6. Nguyễn Thi Thu Phong (2007), Nghiên cứu tình hình buồn, trầm cảm 
sau sinh và một số yếu tố liên quan. Luận văn thac sĩ Y học, ĐHYD 
Huế,tr 34, 54.
7. Trần Thị Lợi (2004), Tình hình phòng chống lây truyền HIV từ mẹ 
sang con taï Việt Nam,NTLT: Lây truyền HIV từ me sang con. Bộ môn 
Phụ sản – ÑHYD kỳ 19, tr 3.
8. Appleby L, Gregoire A, Platz C, Prince M, Kumar R (1994), Screening 
women for high risk of postnatal depression, J Psychosom Res, 38 
(6):539-45.
9. Brugha, TS, Sharp, HM, Cooper, SA, et al. (1998), The Leicester 500 
Project. Social support and the development of postnatal depressive 
symptoms, a prospective cohort survey. Psychol Med, 28:63.Callahan 
JL, Hynan MT(2002), Postpartum psychiatric illness, Sep: 7191-3:169-80.
10. Blaney NT; Fernandez MI; Psychosocial and behavioral correlates 
of depression among HIV-infected pregnant women. AIDS Patient Care 
STDS. 2004; 18(7):405-15 (ISSN: 1087-2914).
11. Dow A; Dube Q; Pence BW, Postpartum Depression and HIV 
Infection Among Women in Malawi.J Acquir Immune Defic Syndr. 2014; 
65(3):359-65 (ISSN: 1944-7884).
12. Eastwood JG; Phung H; Barnett Postnatal depression and socio-
demographic risk: factors associated with Edinburgh Depression Scale 
scores in a metropolitan area of New South Wales, Australia. Aust N Z J 
Psychiatry. 2011; 45(12):1040-6 (ISSN: 1440-1614)
13. Gausia K; Fisher C; Ali M; Oosthuizen J,Magnitude and contributory factors 
of postnatal depression: a community-based cohort study from a rural subdistrict 
of Bangladesh. Psychol Med. 2009; 39(6):999-1007 (ISSN: 1469-8978).
14. Grussu P; Quatraro RM, Prevalence and risk factors for a high level of 
postnatal depression symptomatology in Italian women: a sample drawn from 
ante-natal classes. Eur Psychiatry. 2009; 24(5):327-33 (ISSN: 0924-9338)
15. Hartley M; Tomlinson M; Depressed mood in pregnancy: Prevalence 
and correlates in two Cape Town peri-urban settlements....home-based 
intervention for preventing and managing illnesses related to HIV, TB, 
alcohol use and malnutrition in pregnant mothers and their infants. Reprod 
Health. 2011; 8:9 (ISSN: 1742-4755).
16. Milgrom J, Gemmill AW, Bilszta JL et al. Antenatal risk factors for 
postnatal depression: a large prospective study. J Affect Disord. 2008 
May;108(1-2):147-57. Epub 2007 Dec 18.
17. Ozbaşaran F; Coban A; Kucuk M, Prevalence and risk factors concerning 
postpartum depression among women within early postnatal periods in 
Turkey. Arch Gynecol Obstet. 2011; 283(3):483-90 (ISSN: 1432-0711).
18. Piacentini D; Leveni, Prevalence and risk factors of postnatal 
depression among women attending antenatal courses]Epidemiol 
Psichiatr Soc. 2009; 18(3):214-20 (ISSN: 1121-189X)
19. Psaros C; Geller PA; Aaron E The importance of identifying and 
treating depression in HIV infected, pregnant women: a review. J 
Psychosom Obstet Gynaecol. 2009; 30(4):275-81 (ISSN: 1743-8942)
20. Ross R; Sawatphanit W, Depressive symptoms among HIV-positive 
postpartum women in Thailand.Arch Psychiatr Nurs. 2011; 25(1):36-42 
(ISSN: 1532-8228)
21. Rochat TJ; Tomlinson M; Newell ML Detection of antenatal depression 
in rural HIV-affected populations with short and ultrashort versions of the 
Edinburgh Postnatal Depression Scale (EPDS). Arch Womens Ment 
Health. 2013; 16(5):401-10 (ISSN: 1435-1102)
22. Refugee, asylum seeker, immigrant women and postnatal depression: 
rates and risk factorsPostnatal depression (PND) Arch Womens Ment 
Health, February 2011
23. Rosa Maria González-Guarda. Substance Abuse, Violence, HIV, and 
Depression. Nurs Res. 2011 May-Jun 60 (3): 182-189. doi: 10,1097 / 
NNR.0b013e318216d5f4. 
24. Sierra Manzano JM, Cairo Garcia T, Ladron Moreno E. (2002), 
Variables associated with the risk of postpartum depression. Aten Primaria 
Jun 30; 30 (2): 103-11 
25. Xie H, He G và Koszycki D Xie H, He G và Koszycki D. Prenatal 
social support, postnatal social support, and postpartum depression. Ann 
Epidemiol. 2009; 19(9): 637-43 (ISSN: 1873-2585).

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_va_lien_quan_giua_yeu_to_gia_dinh_xa_hoi_va_tram_ca.pdf