Đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông

Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ chất lượng giấc

ngủ kém và đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên

bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi tại bệnh viện y học

cổ truyền Hà Đông. Đối tượng và phương

pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107

bệnh nhân ≥ 60 tuổi đến khám và điều trị tại

bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông. Đối

tượng nghiên cứu được phỏng vấn theo mẫu

bệnh án thống nhất, chẩn đoán chất lượng

giấc ngủ kém dựa trên thang điểm PSQI. Kết

quả: Tuổi trung bình là 66,1 ± 6,4 tuổi, tỷ lệ

nữ/nam là 1,97.Tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém

là 89,7%. Trên 7 phương diện đánh giá rối

loạn giấc ngủ, đa số các bệnh nhân có mức độ

chất lượng/rối loạn giấc ngủ ở mức tương đối

kém. Không có mối liên quan có ý nghĩa

thống kê giữa tuổi, giới, nơi sống, số bệnh

đồng mắc, thời gian mắc đái tháo đường, hạ

đường huyết và số biến chứng của ĐTĐ với tỉ

lệ chất lượng giấc ngủ kém ở đối tượng

nghiên cứu.

pdf 6 trang phuongnguyen 460
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông

Đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
5 
ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN GIẤC NGỦ TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 
CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN HÀ ĐÔNG 
Nguyễn Thị Thu Hương1,2, Nguyễn Thị Thùy Dương3, Nguyễn Trung Anh1,2 
1. Bệnh viện Lão khoa Trung ương 
 2. Trường Đại học Y Hà Nội 
 3. Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông 
DOI: 10.47122/vjde.2020.43.1 
ABSTRACT 
Characteristics of sleep disturbance in 
elderly diabetic patients at Ha Dong 
Traditional Medicine Hospital 
Objectives: To assess the rate of poor sleep 
quality and sleep disorder characteristics in 
elderly diabetic patients at Ha Dong 
Traditional Medicine Hospital. Methods: A 
cross-sectional study was performed in 107 
patients aged 60 years or older, who was 
examined and treated at the Ha Dong 
Traditional Medicine Hospital. The subjects 
were interviewed by the a unified medical 
record, sleep disturbances was diagnosed 
according to PSQI questionnaire. Results: 
The average age was 66.1 ± 6.4 years, the 
female/male ratio was 1.97. The rate of poor 
sleep quality was 89.7%. On the 7 dimensions 
of sleep disturbance evaluation, the majority 
of patients had relatively poor levels of 
quality of sleep. There was no statistically 
significant relationship between age, gender, 
living area, number of comorbidities, duration 
of diabetes, hypoglycemia and complications 
of diabetes with poor sleep quality. 
Conclusion: The incidence of poor sleep 
quality in elderly diabetic patients who were 
examined and treated at Ha Dong Traditional 
Medicine Hospital was high, therefore, it 
isnecessary for screening and early diagnosis 
of sleep disorders in this population. 
Key words: Sleep disorder, diabetes, older 
person 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: Đánh giá tỷ lệ chất lượng giấc 
ngủ kém và đặc điểm rối loạn giấc ngủ trên 
bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi tại bệnh viện y học 
cổ truyền Hà Đông. Đối tượng và phương 
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 107 
bệnh nhân ≥ 60 tuổi đến khám và điều trị tại 
bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông. Đối 
tượng nghiên cứu được phỏng vấn theo mẫu 
bệnh án thống nhất, chẩn đoán chất lượng 
giấc ngủ kém dựa trên thang điểm PSQI. Kết 
quả: Tuổi trung bình là 66,1 ± 6,4 tuổi, tỷ lệ 
nữ/nam là 1,97.Tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém 
là 89,7%. Trên 7 phương diện đánh giá rối 
loạn giấc ngủ, đa số các bệnh nhân có mức độ 
chất lượng/rối loạn giấc ngủ ở mức tương đối 
kém. Không có mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê giữa tuổi, giới, nơi sống, số bệnh 
đồng mắc, thời gian mắc đái tháo đường, hạ 
đường huyết và số biến chứng của ĐTĐ với tỉ 
lệ chất lượng giấc ngủ kém ở đối tượng 
nghiên cứu. Kết luận: Tỷ lệ chất lượng giấc 
ngủ kém trên bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi khám 
và điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Hà 
Đông cao, do vậy cần sàng lọc và chẩn đoán 
sớm tình trạng rối loạn giấc ngủ trên người 
cao tuổi mắc ĐTĐ. 
Từ khóa: Rối loạn giấc ngủ, đái tháo 
đường, cao tuổi. 
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Thị Thu 
Hương 
Ngày nhận bài: 02/11/2020 
Ngày phản biện khoa học: 08/11/2020 
Ngày duyệt bài: 11/12/2020 
Email: [email protected] 
Điện thoại: 0973056334 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Đái tháo đường (ĐTĐ) đang ngày càng gia 
tăng trên toàn thế giới và là một gánh nặng 
lớn cho toàn xã hội. Theo Liên đoàn ĐTĐ thế 
giới (International Diabetes Federation – IDF) 
năm 2015 số người mắc ĐTĐ là 415 triệu 
người, dự kiến sẽ tăng lên 642 triệu vào năm 
2040 [1]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (World 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
6 
Health Organization – WHO) đến 2030 sẽ có 
hơn nửa số mắc ĐTĐ trên thế giới là dân châu 
Á và hơn phân nửa số bệnh nhân này trên tuổi 
60 (53%) [2]. ĐTĐ và các vấn đề sức khỏe 
liên quan gây ra gánh nặng đáng kể về khuyết 
tật và suy giảm chất lượng cuộc sống đặc biệt 
ở người cao tuổi [3].Rối loạn giấc ngủ là một 
tình trạng thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ đặc 
biệt ở người cao tuổi. Tình trạng khó bắt đầu 
và duy trì giấc ngủ, buồn ngủ ban ngày và 
chất lượng giấc ngủ kém đã được báo cáo bởi 
những người mắc ĐTĐ. Rối loạn giấc ngủ 
gây nhiều hậu quả tai hại đến sức khỏe, tâm 
lý, khả năng làm việc của bệnh nhân làm 
giảm chất lượng cuộc sống, làm ảnh hưởng 
không nhỏ đến hiệu quả điều trị bệnh chính. 
Bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông là 
bênh viện chuyên khoa tuyến tỉnh với quy mô 
150 giường bệnh và phòng khám đa khoa. 
Trong năm 2018-2019 số lượt bệnh nhân 
ĐTĐ khám và điều trị ngoại trú ngày càng 
tăng. Tuy nhiên, rối loạn giấc ngủ ở bệnh 
nhân cao tuổi có ĐTĐ chưa được quan tâm 
nhiều. Tìm hiểu về vấn đề này giúp nâng cao 
hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho 
bệnh nhân. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên 
cứu đề tài này với mục tiêu xác định tỷ lệ chất 
lượng giấc ngủ kém và đặc điểm rối loạn giấc 
ngủ trên bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi tại bệnh 
viện y học cổ truyền Hà Đông. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Nghiên cứu được thực hiện trên 107 bệnh 
nhân ĐTĐ cao tuổi khám và điều trị tại bệnh 
viện Y học cổ truyền Hà Đông từ tháng 
05/2019 đến tháng 11/2019. 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Tiêu chuẩn chọn đối 
tượngnghiêncứu:Bệnh nhân ĐTĐ ≥ 60 tuổi 
khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ 
truyền Hà Đông. 
Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân mắc bệnh 
cấp tính nặng không thể tham gia hoặc không 
thể hoàn thành bộ câu hỏi phỏng vấn; bệnh 
nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Phương pháp mô tả cắt ngang, chọn mẫu 
toàn bộ. Quá trình thăm khám được tiến hành 
theo mẫu bệnh án thống nhất. Các biến số 
nghiên cứu: Chẩn đoán rối loạn giấc ngủ theo 
chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh 
(Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI) [4]. 
PSQI được chia thành 7 lĩnh vực đánh giá: 
chất lượng giấc ngủ chủ quan, độ trễ giấc ngủ, 
thời gian ngủ, hiệu quả giấc ngủ và rối loạn 
giấc ngủ, sử dụng thuốc ngủ và rối loạn chức 
năng ban ngày. Kết quả dựa trên điểm số từ 0 
đến 3: điểm 0 tương ứng không rối loạn giấc 
ngủ/ngủ rất tốt/không có khó khăn gì, điểm 3 
tương ứng chất lượng giấc ngủ rất kém/ngủ 
rất khó khăn. Đánh giá tổng điểm PSQI: ≥ 8 
điểm là chất lượng giấc ngủ kém, < 8 điểm là 
giấc ngủ bình thường. Các thông tin chung về 
đối tượng: tuổi, giới, trình độ học vấn, nơi 
sống, bệnh đồng mắc, tiền sử ĐTĐ, thời gian 
phát hiện bệnh, tiền sử sử dụng thuốc điều trị 
ĐTĐ và rối loạn giấc ngủ, biến chứng của 
ĐTĐ. 
2.3. Xử lý số liệu: 
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần 
mềm thống kê y học SPSS 16.0. Sử dụng các 
thuật toán: tính tỷ lệ phần trăm, tính giá trị trung 
bình. Sử dụng test χ2 để phân tích mối liên 
quan giữa các biến. Sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê khi p < 0,05. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
3.1. Đặc điểm chung 
Qua nghiên cứu trên 107 bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi khám và điều trị tại Bệnh viện Y học cổ 
truyền Hà Đông từ tháng 05 đến tháng 11 năm 2019, chúng tôi đã thu được kết quả sau: 
Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (n = 107) 
Đặc điểm Số lượng (n) Tỉ lệ (%) 
Tuổi (Trung bình ± Độ lệch chuẩn) 66,1 ± 6,4 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
7 
Nhóm 
tuổi 
< 70 87 81,3 
≥ 70 20 18,7 
Giới 
Nam 36 33,6 
Nữ 71 66,4 
Khu vực 
sinh sống 
Nông thôn 64 59,8 
Thành thị 43 40,2 
Trình độ 
học vấn 
Chưa tốt nghiệp THPT 66 61,7 
Tốt nghiệp THPT 33 30,8 
Sau THPT 8 7,5 
Số bệnh đồng mắc 
(Trung bình ± Độ lệch chuẩn) 
2,72 ± 0,76 
Trong tống số 107 đối tượng nghiên cứu có 71 bệnh nhân nữ chiếm 66,4%, cao hơn so với 36 
bệnh nhân nam chiếm 33,6%.Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 66,1 ± 6,4. Nhóm < 70 tuổi 
chiếm tỷ lệ cao 81,3%.Nhóm bệnh nhân chưa tốt nghiệp PTTH chiếm tỷ lệ cao nhất 61,7%, 
nhóm học trên đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất 8,3%.59,8% bệnh nhân sống ở khu vực nông thôn. 
Số bệnh đồng mắc trung bình là 2,72 ± 0,76. 
Bảng 2: Đặc điểm về bệnh ĐTĐ (n=107) 
Đặc điểm Số lượng (n) Tỉ lệ (%) 
Thời gian mắc (năm) (Trung bình ±Độ lệch chuẩn) 9,63±4,99 
Điều trị ĐTĐ 
Thuốc viên 102 95,3 
Insulin 5 4,7 
Thuốc viên và insulin 3 2,8 
Có hạ đường huyết trong 6 tháng qua 22 20,6 
Số biến chứng (Trung bình ±Độ lệch chuẩn) 1,33±0,74 
Thời gian mắc ĐTĐ trung bình là 9,63±4,99 (năm). 95,3% bệnh nhân điều trị ĐTĐ bằng 
thuốc viên. 20,6% bệnh nhân có hạ đường huyết trong 6 tháng qua và số biến chứng trung bình 
là 1,33±0,74. 
3.2. Tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém và đặc điểm rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân ĐTĐ cao 
tuổi 
Biểu đồ 1. Tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém 
89,7%
10,3%
n = 107
Có
Không
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
8 
Trong số 107 bệnh nhân nghiên cứu thì có 89,7% bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém theo 
thang điểm PSQI. 
Biểu đồ 2. Đặc điểm của 7 phương diện đánh giá rối loạn giấc ngủ 
Trên 7 phương diện đánh giá rối loạn giấc ngủ, đa số các bệnh nhân có mức độ chất lượng/rối 
loạn giấc ngủ ở mức tương đối kém. 
3.3. Một số yếu tố liên quan với chất lượng giấc ngủ kém 
Bảng 3. Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và các đặc điểm chung 
Đặc điểm 
Chất lượng giấc ngủ 
tốt (n = 11) 
Chất lượng giấc ngủ 
kém (n = 96) 
p 
Tuổi trung bình 66,40±6,55 63,45±3,78 0,147 
Nhóm tuổi 
<70 11 (12,6%) 76 (87,4%) 
0,121 
≥70 0 (0,0%) 20 (100,0%) 
Giới 
Nam 6 (16,7%) 30 (83,3%) 
0,176 
Nữ 5 (7,0%) 66 (93,0%) 
Nơi sống 
Nông thôn 7 (63,6%) 57 (59,4%) 0,785 
Thành thị 4 (36,4%) 39 (40,6%) 
Số bệnh đồng mắc 
(Trung bình ±Độ lệch chuẩn) 
2,36±0,92 2,15±0,74 0,395 
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi, giới, nơi sống, số bệnh đồng mắc và 
tình trạng chất lượng giấc ngủ kém. 
Bảng 4. Mối liên quan giữa chất lượng giấc ngủ và các đặc điểm ĐTĐ 
Đặc điểm 
Chất lượng giấc ngủ 
tốt (n = 11) 
Chất lượng giấc ngủ 
kém (n = 96) 
p 
Thời gian mắc ĐTĐ (năm) 8,00±3,22 9,81±5,14 0,256 
Hạ đường huyết Có 1 (9,1%) 21 (21,9%) 0,454 
0
2.8
1.9
7.5
0
15
3.7
32.7
30.8
29
25.2
14
38.3
47.7
66.4
64.5
64.5
51.4
86
46.7
48.6
0.9
1.9
4.7
15.9
0
0
0
CLGN chủ quan
Độ trễ giấc ngủ
Thời gian ngủ
Hiệu quả giấc ngủ
Rối loạn giấc ngủ
Dùng thuốc ngủ
RLCN ban ngày 0: Rất tốt
1: Tương đối tốt
2: Tương đối kém
3: Rất kém
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
9 
Không 10 (90,9%) 75 (78,1%) 
Số biến chứng trung bình 1,00±0,89 1,37±0,71 0,111 
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian mắc ĐTĐ, hạ đường huyết và số 
biến chứng của ĐTĐ và tình trạng chất lượng giấc ngủ kém. 
4. BÀN LUẬN 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tuổi 
trung bình của các đối tượng nghiên cứu là 
66,1 ± 6,4 (năm). Kết quả này thấp hơn trong 
nghiên cứu trước đây ở Trung Quốc, độ tuổi 
trung bình của người tham gia là 72,2 ± 8,3 
(năm) [5]. Tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm 60-69 
tuổi chiếm 81,3%, nhóm ≥ 70 tuổi chiếm 
18,7%. Kết quả này trái ngược với nghiên cứu 
trên (ở Trung Quốc), tỷ lệ những người 60-69 
tuổi chiếm 32,1% và 52,5% ở những người ≥ 
80 tuổi [5]. Kết quả này có thể được giải thích 
bằng cỡ mẫu trong nghiên cứu này nhỏ hơn 
so với mẫu trong nghiên cứu trên (240 so với 
1086 bệnh nhân) và đối tượng nghiên cứu tại 
bệnh viện Y học cổ truyền Hà Đông với đối 
tượng đến khám đa dạng. Tỉ lệ nữ giới trong 
nghiên cứu là 66,4% cao hơn so với nam giới 
là 33,6%. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 
tỉ lệ bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ kém là 
89,7% với điểm cắt của chỉ số chất lượng giấc 
ngủ chất lượng giấc ngủ Pittsburgh 
(Pittsburgh Sleep Quality Index - PSQI) là 8 
điểm [6]. Tỷ lệ này cao hơn so với kết quả 
nghiên cứu của Bing-Qian Zhu và cộng sự 
(2014) với tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém là 
47,1%. Tổng điểm PSQI trung bình trong 
nghiên cứu của chúng tôi là 11,44±2,93 cao 
hơn so với nghiên cứu của Bing-Qian Zhu là 
8,3± 4,12 (điểm cắt PSQI là 8 điểm) [6] và 
cao hơn nghiên cứu của Luyster là 55% (điểm 
cắt PSQI là 5 điểm) [7]. Kết quả này có thể là 
do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là 
bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi nên chất lượng giấc 
ngủ bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi 
cao, nhiều bệnh lý mắc kèm và các hội chứng 
lão khoa. 
Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trên 7 
phương diện đánh giá rối loạn giấc ngủ (rối 
loạn giấc ngủ chủ quan, độ trễ giấc ngủ, thời 
gian ngủ, rối loạn giấc ngủ, dùng thuốc ngủ, 
hiệu quả giấc ngủ, rối loạn chức năng ban 
ngày), đa số các bệnh nhân có mức độ chất 
lượng/rối loạn giấc ngủ ở mức tương đối kém. 
Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu 
trước đây trên người cao tuổi trên thế giới. 
 Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi 
nhận không có mối liên quan có ý nghĩa 
thống kê giữa tuổi trung bình, nhóm tuổi, 
giới, nơi sống, số bệnh đồng mắc và tỉ lệ chất 
lượng giấc ngủ kém ở đối tượng bệnh nhân 
ĐTĐ typ 2 cao tuổi điều trị tại bệnh viện Y 
học cổ truyền Hà Đông. Kết quả này khác với 
kết quả của nghiên cứu tại Trung Quốc rằng 
có mối liên quan giữa tỉ lệ chất lượng giấc 
ngủ kém và tuổi [5]. Kết quả này có thể do cỡ 
mẫu của chúng tôi còn nhỏ và là nghiên cứu 
cắt ngang. 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 
không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê 
giữa thời gian mắc ĐTĐ trung bình, cơn hạ 
đường huyết và số biến chứng mạn tính trung 
bình của ĐTĐ và tỉ lệ chất lượng giấc ngủ 
kém ở đối tượng bệnh nhân ĐTĐ cao tuổi 
điều trị tại bệnh viện Y học cổ truyền Hà 
Đông. Kết quả này tượng tự với kết quả của 
nghiên cứu của Luyster và cộng sự (2011) 
rằng không có mối liên quan giữa tỉ lệ chất 
lượng giấc ngủ kém và thời gian mắc ĐTĐ có 
ý nghĩa thống kê (p>0,05) [7]. Kết quả này có 
thể do cỡ mẫu của chúng tôi còn nhỏ và là 
nghiên cứu cắt ngang. 
5. KẾT LUẬN 
Tỷ lệ chất lượng giấc ngủ kém trên bệnh 
nhân ĐTĐ cao tuổi khám và điều trị tại bệnh 
viện Y học cổ truyền Hà Đông cao, do vậy 
cần sàng lọc và chẩn đoán sớm tình trạng rối 
loạn giấc ngủ trên người cao tuổi mắc ĐTĐ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. International Diabetes Federation 
(2015). IDF Diabetes Atlas 7th edition. 
Tạp chí “Nội tiết và Đái tháo đường” Số 43 - Năm 2020 
10 
71-73. 
2. Gupta V, Suri P (2002). Diabetes in 
Elderly patients. JK Pract, 91(4), 258 - 
259. 
3. M. C. Volpato S, Fellin R (2010). Type 2 
diabetes and risk for functional decline 
and disability in older persons. Curr 
Diabetes Rev; 6:134–143. 
4. D. J. R. Buysse, Charles F.; Monk, 
Timothy H.; Berman, Susan R.; 
Kupfer, David J (1989). "The 
Pittsburgh sleep quality index: A new 
instrument for psychiatric practice and 
research". Psychiatry Research. 28 (2): 
193–213. 
5. J. Luo, et al. (2013) Prevalence and risk 
factors of poor sleep quality among 
Chinese elderly in an urban community: 
results from the Shanghai aging study. 
PloS one, 2013. 8(11): p. e81261 
6. X.-M. Bing-QianZhu, DanWang, Xing-
FengYu (2014). Sleep quality and its 
impact on glycaemic control in patients 
with type 2 diabetes mellitus. 
International Journal of Nursing 
Sciences, 1(3), 260-265 
7. F. S. Luyster, J. Dunbar-Jacob (2011). 
Sleep quality and quality of life in adults 
with type 2 diabetes. Diabetes Educ, 
37(3), 347-355. 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_roi_loan_giac_ngu_tren_benh_nhan_dai_thao_duong_cao.pdf