Đặc điểm nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân Y 175

Mục tiêu: Đánh giá về chế độ nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình

trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân y 175 để thu thập dữ liệu

nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dinh dưỡng trong Bệnh viện.

Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 412

bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện Quân y 175 từ tháng 7-9/2017

Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo phương pháp SGA (Subjective Global

Assessement) và tính chu vi vòng cánh tay là 41,5%, theo BMI (Body Mass Index) là

19,4%. Tỷ lệ SDD ở nam cao hơn nữ, cũng như ở người lớn tuổi cao hơn người trẻ tuổi

hoặc nguời mắc bệnh lý mạn tính cao hơn nhóm bệnh lý cấp tính. Thời gian nằm viện

càng lâu thì tỷ lệ SDD càng cao. Người bệnh ăn dưới mức CHCB, chiếm 32,9%, có tỷ

lệ SDD cao hơn nhóm bệnh nhân ăn đủ và trên mức CHCB. Người bệnh chán ăn có tỷ

lệ SDD cao hơn nhóm người bệnh ăn bình thường. Khẩu phần ăn của bệnh nhân chưa

được phong phú đa dạng thực phẩm chiếm 72,6%, tỷ lệ được cung cấp suất ăn tại bệnh

viện là 1,8%

pdf 10 trang phuongnguyen 260
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân Y 175", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân Y 175

Đặc điểm nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân Y 175
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
88
ĐẶC ĐIỂM NUÔI DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 
ĐẾN TỶ LỆ SUY DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN NỘI TRÚ 
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 175
Lê Thị Thu Hà1, Bùi Thị Duyên1, Bùi Hải Linh1, 
Nguyễn Văn Mạnh1, Nguyễn Văn Tỉnh1, Nguyễn Chí Tùng1 
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá về chế độ nuôi dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình 
trạng dinh dưỡng của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Quân y 175 để thu thập dữ liệu 
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dinh dưỡng trong Bệnh viện.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện trên 412 
bệnh nhân nằm điều trị tại bệnh viện Quân y 175 từ tháng 7-9/2017
Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) theo phương pháp SGA (Subjective Global 
Assessement) và tính chu vi vòng cánh tay là 41,5%, theo BMI (Body Mass Index) là 
19,4%. Tỷ lệ SDD ở nam cao hơn nữ, cũng như ở người lớn tuổi cao hơn người trẻ tuổi 
hoặc nguời mắc bệnh lý mạn tính cao hơn nhóm bệnh lý cấp tính. Thời gian nằm viện 
càng lâu thì tỷ lệ SDD càng cao. Người bệnh ăn dưới mức CHCB, chiếm 32,9%, có tỷ 
lệ SDD cao hơn nhóm bệnh nhân ăn đủ và trên mức CHCB. Người bệnh chán ăn có tỷ 
lệ SDD cao hơn nhóm người bệnh ăn bình thường. Khẩu phần ăn của bệnh nhân chưa 
được phong phú đa dạng thực phẩm chiếm 72,6%, tỷ lệ được cung cấp suất ăn tại bệnh 
viện là 1,8% 
Kết luận: Tỷ lệ SDD theo SGA là 41,5%, theo BMI là 19,4%. Có mối liên quan 
giữa một số yếu tố đến TTDD của người bệnh: giới tính, tuổi, bệnh lý, thời gian nằm 
viện. Bệnh nhân ăn dưới mức CHCB chiếm 32,9%, khẩu phần ăn của bệnh nhân chưa 
được phong phú đa dạng chiếm 72,6%
Từ khóa: SGA, nguy cơ suy dinh dưỡng, suy dinh dưỡng người bệnh
1 Bệnh viện Quân y 175
Người phản hồi (Corresponding): Lê Thị Thu Hà ([email protected])
Ngày nhận bài: 15/2/2020, ngày phản biện: 25/2/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/3/2020
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
89
DIETARY CHARACTERISTICS AND FACTORS ASSOCIATED WITH 
THE PREVALENCE OF MALNUTRITION IN HOSPITALIZED PATIENTS AT 
175 MILITARY HOSPITAL
SUMMARY 
Objectives: Survey of dietary characteristics and factors associated with the 
prevalence of malnutrition in hospitalized patientsat 175 Military Hospital in order to 
obtain data for quality improvement of nutrition activities in the hospital.
Subjects and Methods: Cross-sectional observation study on 412 hospitalized 
patients at Military Hospital 175 from July to September 2017.
Results: The prevalence of malnutrition was 41,5% according to SGA (Subjective 
Global Assessement) and mid – arm – circumference (MAC), and following BMI (Body 
Mass Index) was 19,4%. The prevalence of malnutrition of males was higher than 
females, and this pattern continued with the elder compared to younger or the chronic 
diseases in comparison with the acute. The percentage of malnutrition in patients 
increased with the length of hospital stay. The patients having below basic metabolic 
rate (BMR) dietary intake, which made up 32,9%, were tend to be malnutrition more 
than the other having sufficient or above BMR intake, as well as people with anorexia 
were likely to be malnutrition more than well-nourished group. 72,6% of patients had 
undiversified diet, and only 1,8% patients consumed diet in hospital. 
Conclusions: the prevalence of malnutrition was 41,5% and 19,4%, according 
to SGA and BMI, respectively. The factors associated with nutritional status of patients 
were: gender, age, pathology, length of hospital stay. 32,9% of patients have below BMR 
intake, and 72.6% of patients consumed undiversified diet.
Keywords: SGA, risks of malnutrition, malnutrition in patients. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) ở bệnh 
nhân nằm viện là một vấn đề phổ biến trên 
thế giới. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân 
nằm viện dao động trong khoảng từ 20 – 
50% tùy theo từng quốc gia, bệnh lý và 
thời gian năm viện. SDD ở bệnh nhân nằm 
viện khác với SDD mãn tính trong cộng 
đồng. Ngoài vấn đề nuôi dưỡng, chăm 
sóc và điều kiện kinh tế của mỗi gia đình 
thì còn nhiều yếu tố khác góp phần tạo 
nên bức tranh SDD bệnh viện bao gồm: 
do bệnh lý làm hạn chế ăn uống (chán 
ăn, chấn thương bệnh lý hầu họng, nhịn 
ăn trong các phẫu thuật), giảm hấp thu 
như (bệnh lý đường tiêu hóa, stress chuyển 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
90
hóa), làm gia tăng nhu cầu năng lượng 
và các chất dinh dưỡng (sốt, kích động,).
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy khi 
có các biện pháp can thiệp hỗ trợ dinh 
dưỡng kịp thời sẽ giúp mau hết bệnh, giảm 
thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị 
và giảm tỷ lệ tử vong. Tuy vậy vấn đề nuôi 
dưỡng, chế độ ăn hợp lý cho bệnh nhân 
nằm viện ở nước ta cũng còn nhiều hạn 
chế chưa đồng bộ, thống nhất, chưa hỗ trợ 
được nhiều trong điều trị bệnh. Hiện tại 
cũng đã có một vài nghiên cứu đánh giá về 
khẩu phần ăn cho bệnh nhân nhưng chưa 
toàn diện, còn ở số lượng ít. Trong các 
bệnh viện Quân đội hiện chưa có nghiên 
cứu nào. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên 
cứu nhằm: đánh giá về chế độ nuôi dưỡng 
và một số yếu tố liên quan đến tình trạng 
dinh dưỡng của bệnh nhân nội trú tại 
Bệnh viện Quân y 175 để đưa ra dữ liệu 
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dinh 
dưỡng trong Bệnh viện.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu:
* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng 
nghiên cứu:
- Bệnh nhân ≥ 18 tuổi.
- Đầy đủ bệnh án và hồ sơ nghiên 
cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu.
* Tiêu chuẩn loại trừ
- Bệnh nhân hôn mê, bệnh nhân 
nặng đang theo dõi tại các phòng hoặc 
giường cấp cứu
- Bệnh nhân có lịch phẫu thuật 
trong ngày khảo sát
- Bệnh nhân nữ mang thai
- Đo các chỉ số nhân trắc: cân 
nặng, chiều cao, chu vi vòng cánh tay. Từ 
đó tính BMI và chuyển hóa cơ bản. BMI 
<18,5 kg/m2 là có suy dinh dưỡng
- Tính chuyển hóa cơ bản BMR 
(Basal Metabolic Rate) theo công thức 
Harris - Benedict
- Đánh giá tình trạng dinh dưỡng: 
bằng bảng phỏng vấn và khám lâm sàng 
bằng công cụ đánh giá tình trạng dinh 
dưỡng (Subjective Global Assessment – 
SGA). SGA phân chia bệnh nhân thành 
3 nhóm: Nhóm A là có tình trạng dinh 
dưỡng (TTDD) bình thường, Nhóm B là 
SDD vừa, Nhóm C là SDD nặng.
- Khảo sát khẩu phần ăn:
+ Khẩu phần ăn chi tiết sẽ được 
khảo sát trên 274 bệnh nhân.
+ Khẩu phần ăn của bệnh nhân 
được khảo sát bằng bảng câu hỏi chế độ 
ăn 24 giờ qua.
+ Xác định mức tiêu thụ lương 
thực, thực phẩm, cơ cấu khẩu phần, tính 
cân đối khẩu phần, thông qua bảng thành 
phần thực phẩm Việt Nam năm 2007.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
91
- Thông tin về lâm sàng: sẽ được 
thu thập thông qua hồi cứu bệnh án: chẩn 
đoán chính và phụ, phân loại chẩn đoán 
bằng ICD-10, thời gian nằm viện tính đến 
thời điểm khảo sát.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: mô 
tả cắt ngang
2.3. Xử lý số liệu: Dữ liệu về chế 
độ ăn sẽ được quy đổi tính toán dựa trên 
phần mềm tính toán khẩu phần ăn Eiyokun 
và cơ sở dữ liệu thành phần dinh dưỡng của 
400 món ăn thông dụng tại Việt Nam để 
tính năng lượng bệnh nhân ăn được trong 
1 ngày. Các dữ liệu khác sẽ được nhập 
bằng phần mềm Epi-Info và xử lý bằng 
phần mềm thống kê Stata 10.0. Ngưỡng 
ý nghĩa thống kê được chọn ở mức p < 
0,05. Phương pháp hồi quy đa biến được 
sử dụng để khảo sát mối tương quan giữa 
SDD bệnh viện và các yếu tố nguy cơ liên 
quan.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 1. Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân nghiên cứu (n=412)
Tuổi
Trung bình 53,9 ± 16,6
Giới
Nam 
Nữ
N
279
133
%
67,7
32,3
Bệnh lý
Mạn tính
Cấp tính
N
296
116
%
71,8
28,2
Nhận xét: Đặc điểm chung của 
nhóm nghiên cứu: độ tuổi trung bình của 
mẫu nghiên cứu là 53,9 ± 16,6 tuổi. Kết 
quả này tương tự như nghiên cứu của Lưu 
Ngân Tâm thực hiện tại bệnh viện Chợ Rẫy 
(năm 2009); Trần Quốc Cường (2016) [1], 
[4]. Như vậy trong nghiên cứu của chúng 
tôi cơ cấu độ tuổi của bệnh nhân tại Bệnh 
viện Quân y 175 cũng tương tự như các 
bệnh lớn khác trong khu vực. Tổng số 412 
bệnh nhân, trong đó có 133 nữ (32,3%), 
279 nam (67,7%), tỷ lệ nam/nữ là 2,1 lần. 
Khác hẳn với các nghiên cứu ở các viện 
khác là tỷ lệ nam nữ tương đương hoặc 
chênh lệch không nhiều. Có sự khác biệt 
này có thể là do Bệnh viện Quân y 175 
là viện quân đội nên tỷ lệ bệnh nhân nam 
nhiều hơn nữ. Tỷ lệ bệnh lý mạn tính trong 
nghiên cứu này cao gấp 2,5 lần bệnh lý 
cấp tính, do đây là bệnh viện tuyến cuối 
của Quân đội nên các bệnh lý nặng và mạn 
tính thường tập trung nhiều.
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
92
3.2. Tình trạng dinh dưỡng
Bảng 2. Tình trạng dinh dưỡng của người bệnh trong nhóm nghiên cứu (n=412)
 PP đánh giá
TTDD
BMI SGA CVVCT
n % n % n %
Thừa cân, béo phì 130 31.6 12 2,9
Bình thường 202 49 241 58,5 229 55,6
SDD 80 19.4 171 41,5 171 41,5
Nhận xét: Tỷ lệ SDD theo phương 
pháp tính BMI là 19,4%, bằng SGA là 
41,5%, tỷ lệ này cũng gần với nghiên cứu 
của Lưu Ngân Tâm tại bệnh viện Chợ Rẫy 
43%, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn so với 
nghiên cứu của Phạm Văn Năng tại bệnh 
viện Cần Thơ 55,7% [1], [5]. So sánh tỷ lệ 
này với các nghiên cứu ở nước ngoài thì 
tỷ lệ SDD trong nghiên cứu của chúng tôi 
cao hơn rất nhiều: tỷ lệ SDD ở Mỹ và các 
quốc gia châu Âu (tỷ lệ trung bình: 31,4%), 
nghiên cứu của Lim SL (2012) ở Singapo 
tỷ lệ là 29%; nghiên cứu của Komindr S 
(2013) ở Thái Lan là 40,5% [6], [7]. Có sự 
khác nhau về các tỷ lệ này có thể lý giải 
ở các nước phát triển vấn đề dinh dưỡng 
cho bệnh nhân nội trú được quan tâm và 
chú trọng từ sớm nên tỷ lệ SDD ở bệnh 
nhân nội trú thấp hơn so với các bệnh viện 
ở nước ta.
Tỷ lệ SDD theo phương pháp 
SGA cao hơn so với phương pháp BMI, 
điều này cũng phù hợp với nghiên cứu 
của Lưu Ngân Tâm (2009). Có thể thấy 
phương pháp đánh giá bằng SGA có khả 
năng tầm soát các đối tượng SDD tốt hơn, 
vì nó có thể phân loại sớm ngay khi bệnh 
nhân có vấn đề về dinh dưỡng mà chưa có 
sự thay đổi nhiều về cân nặng hay trong 
các trường hợp như: mất nước, phù, báng 
bụng...
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 
tỷ lệ SDD và nguy cơ SDD theo phương 
pháp tính chu vi vòng cánh tay là 41,5%, 
tỷ lệ này bằng với phương pháp đánh giá 
TTDD theo SGA. So sánh với nghiên cứu 
của Lưu Ngân Tâm (2009) tại bệnh viện 
Chợ Rẫy thì tỷ lệ SDD theo phương pháp 
tính chu vi vòng cánh tay cao hơn rất nhiều 
so với phương pháp SGA (63% so với 
43%) [1].
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
93
3.3. Khảo sát chế độ nuôi dưỡng:
Bảng 3. Khảo sát chế độ nuôi dưỡng bệnh nhân (n=274)
Nguồn cung cấp thức ăn cho BN
Tự túc
Canteen
Bệnh viện
N
183
86
5
%
66,8%
31,4%
1,8%
Tình trạng ăn uống của bệnh nhân 
Ăn cơm bình thường
Ăn ít hơn nhu cầu
Ăn mềm lỏng
Không ăn uống gì
N
129
90
52
3
%
47,1%
32,8%
19%
1,1%
Mức năng lượng bệnh nhân ăn được
Dưới CHCB
Trên CHCB
N
90
184
%
32,9%
67,1%
Vấn đề đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn
Chưa đa dạng (<15 thực phẩm)
Đa dạng (≥ 15 thực phẩm)
N
199
75
%
72,6%
27,4%
Nhận xét: tỷ lệ bệnh nhân báo ăn 
tại bệnh viện là 1,8%. Tỷ lệ ăn tại canteen 
bệnh viện là 31,4%, các trường hợp còn 
lại là bệnh nhân tự mua ở ngoài hoặc nấu 
ở nhà đem đến chiếm 66,8%. Tỷ lệ này 
gần giống với nghiên cứu của tác giả Trần 
Khánh Thu (2015) thực hiện tại bệnh viện 
Đa khoa tỉnh Thái Bình là: 66% bệnh nhân 
nội trú tự mua thức ăn hoặc nấu ở nhà đem 
đến, chỉ có 34% bệnh nhân ăn tại bếp ăn 
bệnh viện [4]. Để nâng cao chất lượng 
chăm sóc dinh dưỡng, Bộ Y tế đã quy định 
tất cả bệnh nhân nội trú đều phải được cung 
cấp suất ăn tại bệnh viện. Khi người bệnh 
tự túc ăn uống vấn đề VSATTP không đảm 
bảo và khẩu phần ăn không phù hợp chế 
độ bệnh lý, làm hạn chế công tác hỗ trợ 
điều trị bệnh.
Tỷ lệ bệnh ăn ít hơn nhu cầu và ăn 
chế độ mềm lỏng chiếm lần lượt là 32,8% 
và 19%.. Tỷ lệ bệnh nhân ăn dưới mức so 
với chuyển hóa cơ bản là 32.9% . Đây là 
một tỷ lệ khá cao và đáng báo động. Khi 1 
người ăn dưới mức CHCB thì tức là năng 
lượng nạp vào không đủ để duy trì hoạt 
động của các cơ quan trong cơ thể, gây ảnh 
hưởng không nhỏ tới chức năng cơ thể và 
tới tình trạng bệnh lý của bệnh nhân.
Có 72,6% trường hợp có khẩu 
phần ăn chưa đa dạng thực phẩm. Theo 
các khuyến cáo dinh dưỡng, khẩu phần ăn 
của 1 người trong ngày phải có từ 15 – 20 
loại thực phẩm khác nhau, càng đa dạng 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
94
càng có lợi cho sức khỏe
Bảng 4. Liên quan giữa đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn và tình trạng 
ăn uống của bệnh nhân
TT ăn uống của 
bệnh nhân
Đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn
Tổng
Đa dạng Không đa dạng 
Chán ăn 
Ăn BT
Tổng
22 (29,3)
53 (70,7)
75 (100)
122 (61,3)
77 (38,7)
199 (100)
144 (52,5)
130 (47,5)
274 (100)
p<0,05
Nhận xét: ở nhóm bệnh nhân có 
khẩu phần ăn đa dạng chỉ có 29,3% trường 
hợp chán ăn; còn lại ăn uống bình thường 
(70,7%). Ngược lại ở nhóm có khẩu 
phần ăn không đa dạng tỷ lệ chán ăn là 
61,3%; trong khi đó tỷ lệ ăn bình thưởng 
giảm xuống còn 38,7%. Sự khác biệt về 
đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn và 
tình trạng ăn uống của bệnh nhân là có ý 
nghĩa thống kê (p<0,05). Từ đó có thể thấy 
việc ăn uống đa dạng thực phẩm trong 
khẩu phần ăn không những cung cấp đầy 
đủ chất dinh dưỡng mà còn cải thiện tình 
trạng chán ăn, giúp người bệnh cảm giác 
ngon miệng hơn.
3.4. Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng:
Bảng 5. Một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng
Các yếu tố 
liên quan
Đánh giá SGA
Tổng p
A B C
Giới tính
Nam
Nữ
Tổng
N (%)
154 ( 63,9)
87 (36,1)
241 (100)
N (%)
98 (72,1)
38 (27,9)
136 (100)
N (%)
27 (77,1)
8 (22,9) 
35 (100)
N (%)
279 (67,8)
133 (32,2) 
412 (100)
< 0,05
Tuổi
< 65
≥ 65
Tổng
N (%)
183(75,9)
58(24,1)
241(100)
N (%)
98(72,1)
38(27,9) 
136(100)
N (%)
20(57,1)
15(42,9) 
35(100)
N (%)
301(73,1)
111(26,9) 
412(100)
< 0,05
Bệnh lý
Cấp tính
Mạn tính
Tổng
N (%)
76 (31,5) 
165 (68,5)
241 (100)
N (%)
35 (25,7)
101 (74,3) 
136 (100)
N (%)
5 (14,3) 
30 (85,7) 
35 (100)
N (%)
116 (28,1) 
296 (71,9) 
412 (100)
< 0,05
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
95
Thời gian nằm viện
< 7 ngày
7 – 30 ngày
>30 ngày
Tổng
N (%)
156 (64,7)
80 ( 33,2) 
5 (2,1)
241 (100)
N (%)
81 (59,6) 
46 (33,8) 
9 (6,6) 
136 (100)
N (%)
18 (51,4) 
13 (37,1) 
4 (11,5) 
35 (100)
N (%)
255 (62) 
139 (33,8) 
18 (4,2) 
412 (100)
< 0,05
Năng lượng 
BN ăn được
Trên CHCB
Dưới CHCB
Tổng
N (%)
115 (74,7) 
39 (25,3) 
154 (100)
N (%)
58 (63)
34 (37)
92(100)
N (%)
11 (39,3)
17 (60,7)
28 (100)
N (%)
184 (67,2)
90 (32,8)
274 (100)
< 0,05
Tình trạng ăn 
uống của BN
Chán ăn
Ăn BT
Tổng
N (%)
39 (25,3)
115 (74,7)
154 (100)
N (%)
78 (84,8)
14 (15,2)
92 (100)
N (%)
27 (96,4)
1 (3,6)
28 (100)
N (%)
144 (52,6)
144 (52,6)
274 (100)
< 0,05
* Giới tính, tuổi:
Trong nhóm SGA A bệnh nhân 
nam chiếm 63,9%, trong khi ở nhóm SGA 
B và C tỷ lệ này tăng dần lần luợt là 72,1% 
và 77,1% . Ngược lại, bệnh nhân nữ trong 
3 nhóm SGA A, B, C lần lượt là 36,1%; 
27,9% và 22,9%. Sự khác biệt về tỷ lệ 
SGA ở nam và nữ khác nhau có ý nghĩa 
thống kê (p<0,05). Kết quả bảng trên cho 
thấy: người càng lớn tuổi có tình trạng 
dinh dưỡng càng xấu. Kết quả này tương 
tự như trong nghiên cứu của Nguyễn Thùy 
An (2010). Theo nghiên cứu của Matthias 
Pirlich M.D (2005) người bệnh trên 60 
tuổi là một trong những yếu tố nguy cơ 
cao của SDD. Theo nhiều nghiên cứu dịch 
tễ tại nhiều quốc gia cho thấy có ít nhất 
1/3 số người cao tuổi có nguy cơ SDD và 
nếu không được can thiệp kịp thời thì tình 
trạng SDD sẽ tiếp tục tăng. Do đó chăm 
sóc dinh dưỡng có vai trò quan trọng giúp 
người cao tuổi duy trì sức khỏe, giảm nguy 
cơ mắc các bệnh không lây nhiễm, giảm 
các biến chứng của các bệnh lý thường 
gặp ở người cao tuổi, duy trì khối cơ, khối 
xương để hạn chế tàn phế, gãy xương, làm 
chậm quá trình lão hóa và kéo dài tuổi thọ.
* Bệnh lý:
So sánh mối liên quan giữa bệnh 
lý cấp và mạn với phân nhóm SGA chúng 
tôi thấy có sự khác biệt về phân loại SGA 
ở 2 nhóm bệnh lý (p< 0,05). Nhóm bệnh 
lý mạn tính có tỷ lệ SDD (SGA C) cao 
hơn nhóm bệnh lý cấp tính (85,7% so với 
14,3%). Tình trạng dinh dưỡng ở nhóm 
bệnh nhân có bệnh lý cấp tính tốt hơn so 
với nhóm có bệnh lý mạn tính. Kết quả 
này phù hợp với nhiều kết quả nghiên cứu 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 21 - 3/2020
96
trong và ngoài nước: tỷ lệ SDD cao tập 
trung ở nhóm bệnh lý ác tính và mạn tính. 
Lý giải điều này là do đa số các bệnh lý 
mạn tính gây ảnh hưởng tới khả năng ăn 
uống, vị giác, người bệnh phải kiêng khem 
nhiều và tình trạng bệnh kéo dài nhiều 
tháng nhiều năm nên dễ dẫn đến thiếu 
năng lượng trường diễn.
*Thời gian nằm viện:
Ở nhóm bệnh nhân có SGA A, 
thời gian nằm viện nhỏ hơn 7 ngày chiếm 
đa số (64,7%) trong khi đó ở nhóm bệnh 
nhân có SGA B và C tỷ lệ này giảm lần 
lượt là 59,6% và 51,4%. Ngược lại lượng 
bệnh nhân nằm viện trên 30 ngảy trong 
các phân nhóm SGA A, B, C tăng dần lần 
lượt là 2,1%; 6,6% và 11,5%. Sự khác biệt 
giữa các nhóm này là có ý nghĩa thống kê 
(p<0,05). Với nghiên cứu tương tự, tác giả 
Nguyễn Đỗ Huy (2012) [2] có kết luận: tỷ 
lệ bệnh nhân SDD và nguy cơ SDD có xu 
hướng tăng lên theo thời gian nằm viện. 
Nói cách khác, thời gian nằm viện càng 
lâu thì nguy cơ SDD càng cao, kết quả này 
phù hợp với nghiên cứu tìm hiểu mối liên 
quan giữa thời gian nằm viện, tình trạng 
SDD ở Tây Ban Nha của Lobo Tamer và 
nghiên cứu của Riccardo Caccialanza năm 
2009.
* Tình trạng ăn uống của bệnh 
nhân:
Kết quả cho thấy ở nhóm bệnh 
nhân có SGA A mức ăn của bệnh nhân trên 
chuyển hóa cơ bản chiếm đa số (74,7%) 
trong khi đó ở nhóm bệnh nhân có SGA 
B và C tỷ lệ này giảm lần lượt là 63% và 
39,3%. Ngược lại, tỷ lệ ăn dưới chuyển 
hóa cơ bản trong các phân nhóm SGA A, 
B, C tăng dần lần lượt là 25,3%; 37% và 
60,7%. Sự khác biệt giữa các nhóm này là 
có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Nghiên cứu liên quan giữa tình 
trạng ăn uống của bệnh nhân với phân loại 
SGA chúng tôi thấy có mối liên quan giá trị 
(p< 0,05). Nhóm chán ăn tỷ lệ SDD (SGA 
C) là rất cao (96,4%) trong khi đó nhóm ăn 
uống bình thường thì tỷ lệ này chỉ có 3,6%. 
Nghiên cứu cũng cho thấy nếu bệnh nhân 
ăn được bằng và trên mức CHCB thì tỷ lệ 
SDD cũng sẽ giảm hơn so với nhóm bệnh 
nhân ăn không đủ mức CHCB (39,3% so 
với 60,7%).
4. KẾT LUẬN
Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở mức cao 
41,5% theo phương pháp đánh giá toàn 
diện chủ quan SGA (Subjective Global 
Assessement) và 19,4% theo chỉ số khối 
cơ thể BMI (Body Mass Index). 
Tỷ lệ SDD ở nữ giới thấp hơn nam 
giới (p<0,05), nhóm bệnh nhân lớn tuổi có 
tỷ lệ SDD cao hơn (p<0,05), tỷ lệ SDD 
ở bệnh nhân mắc bệnh mạn tính cao hơn 
nhóm bệnh lý cấp tính (p<0,05), thời gian 
nằm viện càng lâu thì tỷ lệ suy dinh dưỡng 
càng cao
Nhóm bệnh nhân ăn dưới mức 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
97
CHCB khá cao (32,9%) có tỷ lệ SDD cao 
hơn nhóm bệnh nhân ăn bằng và trên mức 
CHCB, bệnh nhân chán ăn có tỷ lệ SDD 
cao hơn nhóm bệnh nhân ăn bình thường 
(p<0,05). Khẩu phần ăn của bệnh nhân 
chưa được phong phú đa dạng thực phẩm 
chiếm 72,6%, tỷ lệ được cung cấp suất ăn 
tại bệnh viện là 1,8% rất thấp so với quy 
định của Bộ Y Tế và Cục Quân Y.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lưu Ngân Tâm, Hoa Nguyễn 
Thị Quỳnh (2009), "Tình trạng dinh duỡng 
bệnh nhân lúc nhập viện tại bệnh viện Chợ 
Rẫy", Tạp chí Y học, Ðại học Y Duợc 
TP.HCM, 13, 305-312.
2. Nguyển Đỗ Huy, Ngọc Phạm 
Thị Bích (2013), "Thực trạng dinh dưỡng 
của bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa tỉnh 
bắc giang năm 2012", Y học thực hành, 
874(6), 82-85.
3. Trần Khánh Thu (2017), 
"Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh 
viện đa khoa Tỉnh Thái Bình và kết quả 
can thiệp dinh dưỡng cho người bệnh thận 
nhân tạo chu kỳ", Luận án Tiến sỹ y học.
4. Trần Quốc Cường, et al. 
(2018), "Tần suất suy dinh dưỡng và 
phương pháp sàng lọc dinh dưỡng ở người 
bệnh nằm viện tại Việt Nam", Tạp chí Dinh 
dưỡng và Thực phẩm, 14(4), 25-33.
5. Pham N. V., et al. (2006), 
"Application of subjective global 
assessment as a screening tool for 
malnutrition in surgical patients in 
Vietnam", Clinical Nutrition, 25(1), 102-
8.
6. Komindrg S., 
Tangsermwong T., Janepanish P. (2013), 
"Simplified malnutrition tool for Thai 
patients", Asia Pac J Clin Nutr, 22(4), 516-
21.
7. Lim S. L., et al. (2012), 
"Malnutrition and its impact on cost of 
hospitalization, length of stay, readmission 
and 3-year mortality", Clinical Nutrition, 
31(3), 345-50.

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_nuoi_duong_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_ty_le_suy.pdf