Đặc điểm nội tiết của pha hoàng thể sớm sau khởi động trưởng thành noãn bằng hCG ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nồng độ các nội tiết progesterone, estradiol,

LH và hCG trong pha hoàng thể sớm ở bệnh nhân điều trị thụ tinh ống

nghiệm được khởi động trưởng thành noãn bằng hCG.

Phương pháp: Một nghiên cứu báo cáo loạt ca thực hiện tại IVFMD, bệnh

viện Mỹ Đức trên 20 bệnh nhân điều trị thụ tinh ống nghiệm từ tháng 6/2016

đến tháng 7/2016. Tiêu chuẩn nhận: bệnh nhân có chỉ định trữ phôi toàn

bộ trong chu kỳ hiện tại, tuổi 18 – 38, dự trữ buồng trứng bình thường, kích

thích buồng trứng sử dụng FSH tái tổ hợp với phác đồ GnRH antagonist và

khởi động trưởng thành noãn bằng hCG tái tổ hợp 250μg. Tiêu chuẩn loại:

tiền sử đáp ứng buồng trứng kém, đáp ứng buồng trứng nhiều trong chu

kỳ hiện tại. Bệnh nhân lấy máu ở 10 thời điểm từ trước khi tiêm hCG đến 6

ngày sau chọc hút noãn để định lượng progesterone, estradiol, LH và hCG.

Kết quả: Nồng độ hCG và LH đạt đỉnh (120 IU/L, 4,8IU/L, theo thứ

tự) vào 12 giờ sau tiêm hCG, tuy nhiên, đỉnh hCG được duy trì trong 24

giờ còn đỉnh LH giảm nhanh về mức cơ bản trong vòng 24 giờ sau đó.

Progesterone đạt đỉnh với nồng độ 60 ng/ml vào 1 ngày sau chọc hút noãn

(60 giờ sau tiêm hCG) và duy trì cao trong 5 ngày sau đó. Estradiol đạt 2

đỉnh trong máu, đỉnh cao (12.000 pg/ml) vào 12 giờ sau tiêm hCG và đỉnh

thấp (4.000 pg/ml) vào thời điểm sau chọc hút noãn 4 ngày.

Kết luận: Kiểu biến đổi nội tiết progesterone và estradiol trong chu kỳ

KTBT và khởi động trưởng thành noãn bằng hCG khá giống chu kỳ phóng

noãn tự nhiên nhưng nồng độ đỉnh estradiol và progesterone cao hơn.

Ngược lại, dạng của đỉnh LH và nồng độ đỉnh LH thấp hơn chu kỳ tự nhiên

nhiều lần. Các đặc điểm khác biệt này là cơ sở để xây dựng phác đồ hỗ trợ

hoàng thể trong thụ tinh ống nghiệm

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm nội tiết của pha hoàng thể sớm sau khởi động trưởng thành noãn bằng hCG ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm nội tiết của pha hoàng thể sớm sau khởi động trưởng thành noãn bằng hCG ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm

Đặc điểm nội tiết của pha hoàng thể sớm sau khởi động trưởng thành noãn bằng hCG ở bệnh nhân thụ tinh ống nghiệm
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 87 - 92, 2017
87
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
Hồ Ngọc Anh Vũ(1), Vương Thị Ngọc Lan(2), Phạm Dương Toàn(1), Hà Nhật Anh(1), Hồ Mạnh Tường(3)
(1) Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức, (2) Đại học Y Dược TP.HCM, (3) Đại học Quốc gia TP.HCM
ĐẶC ĐIỂM NỘI TIẾT CỦA PHA HOÀNG THỂ SỚM
SAU KHỞI ĐỘNG TRƯỞNG THÀNH NOÃN BẰNG hCG 
Ở BỆNH NHÂN THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hồ Ngọc Anh Vũ, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/01/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/02/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 10/02/2017
Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm, 
pha hoàng thể sớm, khởi 
động trưởng thành noãn hCG, 
progesterone, estradiol, LH.
Keywords: in-vitro fertilization, 
early luteal phase, hCG 
triggering, progesterone, 
estradiol, LH
Tóm tắt
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm nồng độ các nội tiết progesterone, estradiol, 
LH và hCG trong pha hoàng thể sớm ở bệnh nhân điều trị thụ tinh ống 
nghiệm được khởi động trưởng thành noãn bằng hCG. 
Phương pháp: Một nghiên cứu báo cáo loạt ca thực hiện tại IVFMD, bệnh 
viện Mỹ Đức trên 20 bệnh nhân điều trị thụ tinh ống nghiệm từ tháng 6/2016 
đến tháng 7/2016. Tiêu chuẩn nhận: bệnh nhân có chỉ định trữ phôi toàn 
bộ trong chu kỳ hiện tại, tuổi 18 – 38, dự trữ buồng trứng bình thường, kích 
thích buồng trứng sử dụng FSH tái tổ hợp với phác đồ GnRH antagonist và 
khởi động trưởng thành noãn bằng hCG tái tổ hợp 250μg. Tiêu chuẩn loại: 
tiền sử đáp ứng buồng trứng kém, đáp ứng buồng trứng nhiều trong chu 
kỳ hiện tại. Bệnh nhân lấy máu ở 10 thời điểm từ trước khi tiêm hCG đến 6 
ngày sau chọc hút noãn để định lượng progesterone, estradiol, LH và hCG. 
Kết quả: Nồng độ hCG và LH đạt đỉnh (120 IU/L, 4,8IU/L, theo thứ 
tự) vào 12 giờ sau tiêm hCG, tuy nhiên, đỉnh hCG được duy trì trong 24 
giờ còn đỉnh LH giảm nhanh về mức cơ bản trong vòng 24 giờ sau đó. 
Progesterone đạt đỉnh với nồng độ 60 ng/ml vào 1 ngày sau chọc hút noãn 
(60 giờ sau tiêm hCG) và duy trì cao trong 5 ngày sau đó. Estradiol đạt 2 
đỉnh trong máu, đỉnh cao (12.000 pg/ml) vào 12 giờ sau tiêm hCG và đỉnh 
thấp (4.000 pg/ml) vào thời điểm sau chọc hút noãn 4 ngày. 
Kết luận: Kiểu biến đổi nội tiết progesterone và estradiol trong chu kỳ 
KTBT và khởi động trưởng thành noãn bằng hCG khá giống chu kỳ phóng 
noãn tự nhiên nhưng nồng độ đỉnh estradiol và progesterone cao hơn. 
Ngược lại, dạng của đỉnh LH và nồng độ đỉnh LH thấp hơn chu kỳ tự nhiên 
nhiều lần. Các đặc điểm khác biệt này là cơ sở để xây dựng phác đồ hỗ trợ 
hoàng thể trong thụ tinh ống nghiệm. 
Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm, pha hoàng thể sớm, khởi động trưởng 
thành noãn hCG, progesterone, estradiol, LH. 
Abstract 
EARLY LUTEAL PHASE ENDOCRINE 
HỒ NGỌC ANH VŨ, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HÀ NHẬT ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG
88
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
PROFILES AFTER hCG TRIGGERING IN PATIENTS UNDERGOING IN-
VITROFERTILIZATION 
Objective: To explore the early luteal phase progesterone, estradiol, LH and hCG profiles after 
hCG triggering in patients undergoing in-vitro fertilization. 
Methods: This was a case-series study conducted on 20 women undergoing IVF at IVFMD, My Duc 
Hospital from 6/2016 to 7/2016. Patients were recruited to the study if they had indication for freeze-all, 
age between 18 and 38 years, normal ovarian reserve, ovarian stimulation employed GnRH antagonist 
protocol and hCG triggering with rechCG 250μg. Exclusion criteria were history of poor response or 
excessive response in the ongoing cycle. Serum hCG, LH, progesterone, and estradiol concentrations 
were assessed 10 times from the time of hCG administration until 6 days after oocyte retrieval. 
Results: hCG and LH peaked (120 IU/L and 4.8 IU/L, respectively) at 12 hours after the hCG 
administration; however, hCG peak maintained for 24 hours while LH peak returned to the baseline 
level in 24 hours. Progesterone reached a peak of 60 ng/ml 1 day after the oocyte retrieval (about 60 
hours after hCG administration) and remained high for 5 days. Estradiol peaked twice, the higher peak 
(12,000 pg/ml) was observed at 12 hours after hCG and the lower one (4,000 pg/ml) was at 4 days 
after oocyte retrieval.
Conclusions: The patterns of the variability of progesterone and estradiol concentrations were similar 
with natural cycle, however, their concentrations were much higher in stimulated cycle with hCG 
triggering than natural cycle. The pattern of LH surge was different and the surge concentration was 
much lower than that in natural cycle. These distinctive findings are the ground for establishing different 
protocols for luteal support in IVF.
Keywords: in-vitro fertilization, early luteal phase, hCG triggering, progesterone, estradiol, LH.
đáng kể, cửa sổ làm tổ của phôi bị thay đổi làm 
giảm khả năng có thai, tăng khả năng sẩy thai [5]. 
Nồng độ progesterone trong pha hoàng thể bị thay 
đổi là do thiếu sự kích thích của LH. Đỉnh LH trong 
pha hoàng thể của chu kỳ KTBT bị thiếu hụt về nồng 
độ và thời gian được cho là do các nguyên nhân: (i) 
Tuyến yên bị ức chế sản xuất LH dưới tác động của 
GnRH đồng vận hay đối vận sử dụng trong phác đồ 
KTBT, (ii) Sự hình thành đa hoàng thể là kết quả của 
KTBT đa noãn và khởi động trưởng thành noãn bằng 
hCG đã đưa đến việc tăng nồng độ progesterone và 
estradiol trên mức sinh lý; thông qua cơ chế phản 
hồi âm lên tuyến yên, progesterone và estradiol ức 
chế chế tiết LH từ tuyến yên [2;7;8].
Như vậy, KTBT cùng với khởi động trưởng thành 
noãn bằng hCG đã được ghi nhận làm thay đổi sự 
1. Đặt vấn đề và mục tiêu 
nghiên cứu 
Pha hoàng thể là khoảng thời gian từ khi phóng 
noãn đến khi thiết lập thai kỳ hay khởi phát hành 
kinh vào 2 tuần sau đó [1]. Hoàng thể được hình 
thành sau phóng noãn có chức năng chế tiết 
progesterone và estradiol. Trong đó, progesterone 
có vai trò chính, đảm bảo cho nội mạc tử cung 
chuyển dạng chế tiết, cho phép phôi làm tổ và hỗ 
trợ cho thai kỳ ở giai đoạn sớm. Hoàng thể được duy 
trì và đảm bảo chức năng sản xuất progesterone là 
nhờ tác động kích thích của LH từ tuyến yên.
Kích thích buồng trứng (KTBT) trong hỗ trợ sinh 
sản gây rối loạn chức năng pha hoàng thể với biểu 
hiện là nồng độ progesterone tăng cao nhưng giảm 
sớm làm cho pha hoàng thể bị ngắn đi một cách 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 87 - 92, 2017
89
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
sản xuất nội tiết của pha hoàng thể. Đây cũng là 
phác đồ được thực hiện thường quy cho hầu hết 
các chu kỳ TTON. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên 
cứu về đặc điểm nội tiết của pha hoàng thể của các 
chu kỳ này được thực hiện, nhằm thiết lập cơ sở cho 
việc tối ưu hóa các phác đồ hỗ trợ hoàng thể cho 
bệnh nhân TTON. 
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm 
mục tiêu khảo sát đặc điểm nồng độ các nội tiết 
progesterone, estradiol, LH và hCG trong pha 
hoàng thể sớm ở bệnh nhân điều trị TTON được 
khởi động trưởng thành noãn bằng hCG.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu: báo cáo loạt ca
Dân số nghiên cứu: bệnh nhân điều trị thụ tinh 
ống nghiệm, thỏa các tiêu chuẩn chọn mẫu sau đây.
Tiêu chuẩn nhận:
o Kích thích buồng trứng sử dụng phác đồ 
GnRH antagonist
o Trữ phôi toàn bộ sau khi khởi động trưởng 
thành noãn bằng hCG 
o Tuổi 18 – 38
o BMI < 28 kg/m2
o Dự trữ buồng trứng bình thường: AMH > 1.25 
ng/ml hay AFC ≥ 6
Tiêu chuẩn loại: 
o Tiền căn đáp ứng kém (≤ 3 noãn) sau khi kích 
thích buồng trứng bằng phác đồ chuẩn
o Đáp ứng quá mức trong chu kỳ KTBT hiện tại: 
>20 nang kích thước ≥ 14 mm ở ngày khởi động 
trưởng thành noãn
o Tiền sử gần đây mắc các bệnh mãn tính đang 
điều trị
o Đang tham gia vào bất kỳ nghiên cứu can 
thiệp nào khác. 
Cỡ mẫu: nghiên cứu dẫn đường với cỡ mẫu 
20 bệnh nhân
Địa điểm và thời gian nghiên cứu: nghiên 
cứu được tiến hành tại IVFMD, Bệnh viện Mỹ Đức từ 
tháng 1/6/2016 đến tháng 15/7/2016.
Phương pháp tiến hành:
Chọn bệnh nhân, kích thích buồng trứng, chọc 
hút noãn và trữ phôi: 
Bệnh nhân có chỉ định TTON được chọn vào 
nghiên cứu khi thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, được 
tư vấn về nghiên cứu, ký cam kết đồng ý tham gia 
nghiên cứu bằng văn bản. Bệnh nhân được kích 
thích buồng trứng bằng phác đồ GnRH antagonist 
với liều đầu FSH được xác định theo tuổi và xét 
nghiệm dự trữ buồng trứng của bệnh nhân. Theo 
dõi KTBT được thực hiện bằng siêu âm đầu dò âm 
đạo và định lượng estradiol và progesterone. Khi 
có ít nhất 2 nang ≥17 mm trên siêu âm, bệnh nhân 
được khởi động trưởng thành noãn bằng tiêm dưới 
da 250 μg hCG tái tổ hợp (tương đương 6500 IU 
hCG nước tiểu). Chọc hút noãn được thực hiện 36 
giờ sau tiêm hCG. Trữ phôi toàn bộ được thực hiện 
vào ngày 3.
Xét nghiệm LH, hCG, estradiol và progesterone 
trong pha hoàng thể:
Bệnh nhân được lấy tổng cộng 10 mẫu máu 
(2ml mỗi lần lấy máu) để định lượng LH, hCG, 
estradiol và progesterone (hình 1). Các mẫu 
máu được lấy cùng giờ vào các ngày thực hiện 
xét nghiệm: 20g cho mẫu máu tại thời điểm tiêm 
hCG và hCG+24 giờ, 8g cho các mẫu máu tại các 
thời điểm hCG+12 giờ, chọc hút noãn (CH), CH+1 
ngày, CH+2 ngày, CH+3 ngày, CH+4 ngày, CH+5 
ngày và CH+6 ngày.
Kết cục nghiên cứu:
o Kết cục chính: Đặc điểm các nội tiết LH, hCG, 
estradiol và progesterone trong pha hoàng thể sớm 
o Kết cục phụ: Tương quan giữa số nang ≥ 11 
mm ở ngày tiêm hCG và nồng độ progesterone 
trong pha hoàng thể sớm
Phân tích số liệu: Kết quả được phân tích 
bằng phần mềm R (phiên bản 3.3.2).
Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được 
thông qua Hội đồng đạo đức của BV Mỹ Đức ngày 
31/05/2016, mã số HĐĐĐ 01/16/ĐĐ-BVMĐ
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm lâm sàng và kết quả 
kích thích buồng trứng:
Từ tháng 1/6/2015 đến tháng 15/7/2016, 
có 20 bệnh nhân được nhận vào nghiên cứu. Đặc 
Hình 1. Thời điểm thực hiện xét nghiệm LH, hCG, estradiol, progesterone trong pha hoàng thể
HỒ NGỌC ANH VŨ, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HÀ NHẬT ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG
90
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu 
được trình bày trong bảng 1. Đặc điểm kích thích 
buồng trứng và kết quả phôi học được trình bày 
trong bảng 2.
3.2. Đặc điểm nội tiết trong pha hoàng 
thể sớm:
Sự biến đổi của nồng độ các nội tiết LH, hCG, 
Đặc điểm Kết quả (n=20) Giá trị tối thiểu - Giá trị tối đa
Tuổi (năm) 32,4 ± 2,6 29 - 38
BMI (kg/m2) 20,3 ± 2,4 17,6 - 26,4
AMH (ng/ml) 5,4 ± 2,5 2,3 - 12,1
AFC 13,3 ± 5,4 5 - 24
Chỉ định IVF
 Vô sinh nam
 Lớn tuổi
 Ống dẫn trứng
 Chưa rõ nguyên nhân
7 (35%)
2 (10%)
8 (40%)
3 (15%)
Chỉ định trữ phôi toàn bộ
Tăng sinh NMTC 
 Ứ dịch ống dẫn trứng chưa nội soi
 Polyp lòng TC
 Yêu cầu của BN
 Hở sẹo mổ lấy thai cũ
6 (30%)
2 (10%)
2 (10%)
8 (40%)
2 (10%)
Số liệu được trình bày trung bình ± độ lệch chuẩn; n (%)
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân trong nghiên cứu
Đặc điểm Kết quả (n=20) Giá trị tối thiểu - Giá trị tối đa
Tổng đơn vị FSH sử dụng (IU/L) 2857,5 ± 838,7 1500 - 4800
Thời gian kích thích buồng trứng (ngày) 9,5 ± 1,2 8 - 12
Độ dài pha hoàng thể (ngày) 10,1 ± 1,3 8 - 20
Số nang có kích thước ≥11mm 14,2 ± 4 5 - 22
Số nang có kích thước ≥14mm 9,9 ± 3,7 3 - 18
Số trứng chọc hút 14,5 ± 7,3 4 - 36
Số trứng trưởng thành 12,1 ± 5,7 2 - 23
Số phôi 8,4 ± 4,6 2 - 18
Số phôi trữ 5.4 ± 2.3 0 - 7
Quá kích buồng trứng 1 (5%)
Số liệu được trình bày trung bình ± độ lệch chuẩn; n (%)
Bảng 2. Đặc điểm kích thích buồng trứng và kết quả phôi của bệnh nhân trong nghiên cứu
Biểu đồ 1: Sự biến đổi các nội tiết estradiol (a), progesterone (b), hCG (c) và LH (d) trong pha 
hoàng thể sớm sau khởi động trưởng thành noãn bằng hCG 6500 IU
estradiol và progesterone trong pha hoàng thể sớm 
được trình bày trong biểu đồ 1. 
3.3. Tương quan giữa số nang có 
đường kính ≥ 11mm ở ngày hCG và nồng 
độ progesterone ở các thời điểm khác 
nhau trong pha hoàng thể sớm:
Có sự tương quan thuận có ý nghĩa thống kê 
giữa số nang noãn có đường kính ≥ 11mm ở ngày 
hCG và nồng độ progesterone ở các thời điểm 
hCG+12 giờ, hCG+24 giờ, CH noãn (hCG+36 
giờ), CH+1 ngày, CH+2 ngày, CH+3 ngày và 
CH+4 ngày (biểu đồ 2). 
4. Bàn luận
Phác đồ lâm sàng của một chu kỳ TTON gồm 
2 phần, kích thích buồng trứng và hỗ trợ hoàng 
thể. Trái với KTBT đã được nghiên cứu rất nhiều, 
đặc điểm nội tiết trong pha hoàng thể của các chu 
kỳ khởi động trưởng thành noãn bằng hCG chưa 
được nghiên cứu nhiều. Xác định kiểu biến đổi của 
nồng độ các nội tiết estradiol, progesterone, LH và 
hCG trong pha hoàng thể sẽ là cơ sở cho việc xây 
dựng phác đồ hỗ trợ hoàng thể, hướng tới cá thể 
hóa hỗ trợ hoàng thể cho các bệnh nhân, tăng tỉ 
lệ có thai và giảm tỉ lệ sẩy thai của điều trị TTON. 
4.1. Đặc điểm nồng độ LH và hCG trong 
pha hoàng thể 
Đỉnh LH sau khởi động trưởng thành noãn bằng 
hCG có các đặc điểm sau khác với chu kỳ tự nhiên 
(i) Thời gian LH đạt nồng độ đỉnh là 12 giờ sau 
tiêm hCG, trong khi thời gian tăng LH để đạt nồng 
độ đỉnh của chu kỳ tự nhiên là 14 giờ, (ii) Nồng độ 
đỉnh LH sau tiêm hCG thấp hơn đáng kể (5 IU/L) 
Biểu đồ 2: Tương quan giữa số nang có đường kính ≥ 11 mm và nồng độ progesterone trong 
pha nang noãn sớm
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(04), 87 - 92, 2017
91
Tập 14, số 04
Tháng 02-2017
so với chu kỳ tự nhiên (80IU/L), (iii) Thời gian LH ở 
nồng độ đỉnh rất ngắn, không có giai đoạn bình 
nguyên như đối với chu kỳ tự nhiên, và (iv) Thời 
gian kết thúc đỉnh LH khoảng 24-28 giờ sau tiêm 
hCG so với chu kỳ tự nhiên là 48 giờ sau khởi phát 
đỉnh LH [4].
Như vậy, đỉnh LH sau tiêm hCG khác biệt đáng 
kể so với chu kỳ tự nhiên, đặc biệt là về nồng độ 
đỉnh, thời gian kéo dài nồng độ đỉnh và thời gian 
kết thúc đỉnh. Do đó, có thể nói, hoàng thể của chu 
kỳ KTBT được khởi động trưởng thành noãn bị thiếu 
kích thích của LH cả về cường độ và thời gian.
hCG có tác động giống LH nhưng mạnh hơn và 
thời gian bán hủy dài hơn nên được sử dụng thay 
thế LH khởi động trưởng thành noãn trong chu kỳ 
KTBT. Sau tiêm, hCG đạt nồng độ đỉnh vào khoảng 
12 giờ, sau đó, khác với LH, nồng độ đỉnh được 
duy trì trong 24 giờ, giảm dần và kết thúc vào thời 
điểm 3 ngày sau chọc hút noãn (4,5 ngày sau tiêm 
hCG). So với LH, đỉnh hCG xuất hiện đồng thời, có 
pha bình nguyên và kéo dài hơn khoảng 4 ngày. 
Việc kéo dài của hCG có thể thay thế LH kích thích 
hoàng thể sản xuất progesterone, tuy nhiên, hCG 
cũng giảm về mức < 5mIU/ml vào ngày 5 sau CH 
noãn (ngày 6,5 sau tiêm hCG), như vậy, có thể 
thấy rằng nửa sau của pha hoàng thể thiếu hụt 
hoàn toàn kích thích của LH cũng như hCG có tác 
động giống LH. Điều này có thể đưa đến thiếu hụt 
sản xuất progesterone, pha hoàng thể bị ngắn lại 
và người phụ nữ có hiện tượng chảy máu âm đạo 
sớm khi chưa đến ngày thử thai. Đây cũng là cơ sở 
cho việc sử dụng hCG trong một số phác đồ hỗ trợ 
hoàng thể đang sử dụng hiện nay.
4.2. Đặc điểm nồng độ estradiol và 
progesterone trong pha hoàng thể:
Dưới tác động của LH hay hCG có tác động 
giống LH, hoàng thể sản xuất progesterone và 
estradiol. Nồng độ progesterone chỉ đạt đỉnh sau 
khi có đỉnh LH và đỉnh hCG khoảng 2 ngày (sau 
tiêm hCG khoảng 2,5 ngày) và duy trì nồng độ 
đỉnh trong 3 ngày, sau đó, bắt đầu giảm dần từ 
ngày 4 sau chọc hút noãn (sau tiêm hCG khoảng 
5,5 ngày). Như vậy, nồng độ progesterone bắt 
đầu giảm từ giữa pha hoàng thể là hậu quả của 
thiếu kích thích của LH như đã trình bày ở trên. 
Nồng độ đỉnh progesterone của chu kỳ KTBT khởi 
động trưởng thành noãn bằng hCG đạt khoảng 
60 nmol/L, cao hơn khoảng 4 lần so với chu kỳ 
tự nhiên là 25 nmol/L [3]. Đây là kết quả của 
hiện tượng đa hoàng thể do KTBT. Nồng độ cao 
progesterone trong pha hoàng thể tạo ra phản hồi 
âm lên vùng dưới đồi và tuyến yên, càng làm giảm 
thêm sự sản xuất LH trong pha hoàng thể. 
Khác với progesterone, nồng độ estradiol đạt 
đỉnh cùng lúc với đỉnh LH và hCG (12 giờ sau tiêm 
hCG). Nồng độ estradiol của đỉnh thứ nhất này 
đạt khoảng 12000pg/ml, cao hơn chu kỳ tự nhiên 
(khoảng 300pg/ml) gấp nhiều lần [6]. Đây là kết 
quả của sự phát triển đa noãn do KTBT. Giống với 
chu kỳ tự nhiên, estradiol có đỉnh thứ hai xảy ra 
vào giữa pha hoàng thể vào ngày 4 sau CH noãn 
(ngày 5,5 sau tiêm hCG) và cũng bắt đầu giảm 
nồng độ sau đó, tuy nhiên, nồng độ estradiol ở 
đỉnh thứ 2 này cũng cao hơn trong chu kỳ tự nhiên 
nhiều lần (4000 pg/ml so với 10 pg/ml) [6]. Nhìn 
chung, trong chu kỳ KTBT được khởi động trưởng 
thành noãn bằng hCG, kiểu biến đổi của nồng độ 
progesterone và estradiol khá giống với tự nhiên 
nhưng thời gian duy trì nồng độ đỉnh ngắn hơn và 
nồng độ đỉnh cao hơn chu kỳ tự nhiên nhiều lần. 
4.3. Tương quan giữa số nang noãn 
≥11 mm với nồng độ progesterone trong 
pha hoàng thể:
Có sự tương quan thuận giữa số nang noãn và 
nồng độ progesterone từ sau tiêm hCG khoảng 12 
giờ cho đến ngày 4 sau chọc hút noãn (khoảng 
ngày 5,5 sau tiêm hCG). Số nang càng nhiều thì 
nồng độ progesterone càng tăng. Tuy nhiên, từ 
ngày thứ 5 sau chọc hút noãn trở đi (ngày 6,5 sau 
tiêm hCG), nồng độ progesterone bắt đầu giảm 
và mối tương quan với số nang noãn trước tiêm 
hCG không còn nữa. Về mặt lý thuyết, khi hoàng 
thể thoái hóa, nồng độ progesterone giảm thì ở 
giai đoạn này, tương quan nghịch giữa số nang 
noãn ở thời điểm tiêm hCG (hay số hoàng thể sau 
tiêm hCG) với nồng độ progesterone sẽ hiện diện. 
Thực tế không có mối tương quan nghịch này, có 
thể do sự thoái hóa của các hoàng thể không đồng 
bộ hay do sự sản xuất progesterone không giống 
nhau giữa các hoàng thể.
4.4. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào 
lâm sàng:
Kết quả nghiên cứu ghi nhận các đặc điểm 
chính như sau (i) Pha hoàng thể của chu kỳ KTBT 
HỒ NGỌC ANH VŨ, VƯƠNG THỊ NGỌC LAN, PHẠM DƯƠNG TOÀN, HÀ NHẬT ANH, HỒ MẠNH TƯỜNG
92
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
02
-2
01
7
P
H
Ụ
 K
H
O
A
 –
 N
Ộ
I 
TI
ẾT
, 
V
Ô
 S
IN
H
được khởi động trưởng thành noãn bằng hCG bị 
thiếu tác động của LH, (ii) Nồng độ estradiol và 
progesterone cao hơn nồng độ sinh lý nhiều lần 
tạo ra phản hồi âm lên vùng dưới đồi và tuyến 
yên, càng làm thiếu kích thích của LH, (iii) Đỉnh 
progesterone và estradiol giảm từ giữa pha hoàng 
thể, lý giải cho việc pha hoàng thể bị khiếm khuyết 
trong chu kỳ KTBT.
Kết quả tìm thấy từ nghiên cứu đã góp phần 
chứng minh các luận cứ đã nêu trong lý thuyết về 
pha hoàng thể của chu kỳ KTBT trong TTON, đồng 
thời cũng là cơ sở cho việc xây dựng các phác đồ 
hỗ trợ hoàng thể phù hợp. 
Phác đồ hỗ trợ hoàng thể cần cân nhắc việc sử 
dụng hCG với tác động giống LH vào thời điểm 2 
ngày trước khi progesterone giảm (khoảng ngày 3-4 
sau chọc hút noãn). Tuy nhiên, sử dụng hCG được 
ghi nhận làm tăng tỉ lệ QKBT do hCG tồn tại trong 
máu kéo dài [9]; do đó, không sử dụng hCG cho 
các đối tượng có nguy cơ cao QKBT. Ở các bệnh 
nhân đáp ứng buồng trứng nhiều như vậy, có thể trữ 
phôi toàn bộ để tránh QKBT và cũng tránh thiếu hụt 
của pha hoàng thể. Nội tiết chính trong phác đồ hỗ 
trợ hoàng thể là progesterone và cần kéo dài đến 
hết pha hoàng thể để tránh hiện tượng xuất huyết 
âm đạo sớm trước thời điểm thử thai, ảnh hưởng đến 
cơ hội làm tổ của phôi. Ngoài ra, việc xây dựng các 
biểu đồ nội tiết, nhất là hCG, có thể dùng để tham 
khảo trong các trường hợp chọc hút không noãn để 
biết bệnh nhân có thực hiện tiêm thuốc hCG đúng 
và đủ liều không. Biểu đồ các nội tiết tìm được từ 
nghiên cứu này có thể được sử dụng làm chuẩn tham 
khảo cho việc điều chỉnh loại và liều thuốc nội tiết 
cần thiết, hướng tới cá thể hóa hỗ trợ hoàng thể 
nhằm tăng tỉ lệ có thai, giảm tỉ lệ sẩy thai.
5. Kết luận 
Kiểu biến đổi nội tiết progesterone và estradiol 
trong chu kỳ KTBT và khởi động trưởng thành noãn 
bằng hCG khá giống chu kỳ phóng noãn tự nhiên 
nhưng nồng độ đỉnh estradiol và progesterone cao 
hơn và thời gian nồng độ đỉnh ngắn hơn. Ngược 
lại, dạng của đỉnh LH khác và nồng độ đỉnh LH 
thấp hơn chu kỳ tự nhiên nhiều lần. Các đặc điểm 
khác biệt này là cơ sở để xây dựng phác đồ hỗ trợ 
hoàng thể trong thụ tinh ống nghiệm.
Tài liệu tham khảo
1. Fatemi HM, Kolibianakis EM, Camus M, Tournaye H, Donoso P, 
Papanikolaou E, Devroey P. Addition of estradiol to progesterone for 
luteal supplementation in patients stimulated with GnRH antagonist/ rFSH 
for IVF: a randomized controlled trial. Hum Reprod. 2006; 2:2628-2632.
2. Fauser BC and Devroey P. Reproductive biology and IVF: ovarian 
stimulation and luteal phase consequences. Trends Endocrinology 
Metabolism. 2003; 14, 236-242.
3. Groome NP, Illingworth PJ, O’Brien M, Pai R, Rodger FE, Mather 
JP, McNeilly A. Measurement of dimeric inhibin B throughout the human 
menstrual cycle. J. Clin. Endocrinol Metab. 1996;81, 1401–1407.
4. Hoff JD, Quigley ME, Yen SS. Hormonal dynamics at mid-cycle: a re-
evaluation. Journal of Clinical Endocrinology Metabolism. 1983; 57:792–6.
5. Jones Jr HW. What has happened? Where are we? Hum Reprod 
1996;11(Suppl 1):7-24
6. Speroff L, Fritz MA. Clinical gynecologic endocrinology and infertility. 
9th ed. Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins. 2005
7. Tavaniotou A, Albano C, Smitz J, Devroey P. Impact of ovarian 
stimulation on corpus luteum function and embryonic implantation. J 
Reprod Immunol. 2002; 55:123-30
8. Van Der Gaast MH, Beckers NG, Beier-Hellwig K, Beier HM, Macklon 
NS, Fauser BC. Ovarian stimulation for IVF and endometrial receptivity – 
the missing link. Reprod Biomed Online. 2002; 5 01:36–43.
9. van der Linden M, Buckingham K, Farquhar C, Kremer JAM, Metwally 
M. Luteal phase support for assisted reproduction cycles. Cochrane 
Database of Systematic Reviews. 2015; Issue 7. Art. No.: CD009154.

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_noi_tiet_cua_pha_hoang_the_som_sau_khoi_dong_truong.pdf