Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Đặt vấn đề: Bệnh nhân đến khám vì bệnh lý hạch cổ là bệnh cảnh lâm sàng thường gặp, tuy nhiên nguyên

nhân gây bệnh lý hạch cổ không phải lúc cũng dễ chẩn đoán.

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 101 bệnh nhân có

bệnh lý hạch cổ được chỉ định sinh thiết mở để chẩn đoán bệnh nguyên tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch.

Kết quả: lao hạch chiếm 43,56% bệnh nhân, Carcinoma di căn hạch cổ chiếm 31,68%. Tỷ lệ nam: nữ trong

nhóm bệnh nhân viêm hạch cổ do lao là 1:1,75. Ngược lại trong nhóm bệnh nhân carcinoma di căn hạch cổ tỷ lệ

nam: nữ là 4,33:1. Ở nhóm bệnh nhân nhỏ hơn 40 tuổi, lao hạch chiếm tỷ lệ 65,9% các nguyên nhân gây bệnh lý

hạch cổ. Tuy nhiên ở bệnh nhân trên 60 tuổi carcinoma di căn hạch chiếm 72% các nguyên nhân.

Kết Luận: Viêm hạch bạch huyết do lao là nguyên nhân thường gặp nhất gây bệnh lý hạch cổ. Tuy nhiên ở

những bệnh nhân trên 60 tuổi thì hạch di căn là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh lý hạch cổ mạn tính.

pdf 7 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 218 
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH LÝ HẠCH CỔ 
TRÊN BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ 
TẠI BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH 
Nguyễn Xuân Trí1, Nguyễn Thị Thu Ba2, Vũ Thị Hiếu3 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bệnh nhân đến khám vì bệnh lý hạch cổ là bệnh cảnh lâm sàng thường gặp, tuy nhiên nguyên 
nhân gây bệnh lý hạch cổ không phải lúc cũng dễ chẩn đoán. 
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 101 bệnh nhân có 
bệnh lý hạch cổ được chỉ định sinh thiết mở để chẩn đoán bệnh nguyên tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. 
Kết quả: lao hạch chiếm 43,56% bệnh nhân, Carcinoma di căn hạch cổ chiếm 31,68%. Tỷ lệ nam: nữ trong 
nhóm bệnh nhân viêm hạch cổ do lao là 1:1,75. Ngược lại trong nhóm bệnh nhân carcinoma di căn hạch cổ tỷ lệ 
nam: nữ là 4,33:1. Ở nhóm bệnh nhân nhỏ hơn 40 tuổi, lao hạch chiếm tỷ lệ 65,9% các nguyên nhân gây bệnh lý 
hạch cổ. Tuy nhiên ở bệnh nhân trên 60 tuổi carcinoma di căn hạch chiếm 72% các nguyên nhân. 
Kết Luận: Viêm hạch bạch huyết do lao là nguyên nhân thường gặp nhất gây bệnh lý hạch cổ. Tuy nhiên ở 
những bệnh nhân trên 60 tuổi thì hạch di căn là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh lý hạch cổ mạn tính. 
Từ khóa: bệnh lý hạch cổ, lao hạch, carcinoma di căn hạch 
ABSTRACT 
CLINICAL PATTERN AND ETIOLOGY OF CERVICAL LYMPHADENOPATHY 
IN PATIENTS ADMITTED TO PHẠM NGỌC THẠCH HOSPITAL 
Nguyen Xuan Tri, Nguyen Thi Thu Ba, Vu Thi Hieu 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 218 - 224 
Background: Cervical lymphadenopathy is a common problem in clinical practice, however the causes are 
difficult to be diagnosed. 
Objectives: To describe clinical manifestations and etiologies of cervical lymphadenopathy. 
Method: We conducted a cross sectional study (n=101) amongs patients who had chronic cervical 
lymphadenopathy admitted to Pham Ngoc Thach hospital to get open surgical biopsy to find out etiologies. 
Results: The most common diagnosis was tuberculous lymphadenitis (n=44, 43.56%). Carcinoma 
metastatic was the second common cause (n=32, 31.69%). Among tuberculous patients, the ratio of males to 
females is 1:1.75 whereas in carcinoma metastatic group this ratio is 4.33:1. In patients younger than 40 years of 
age, tuberculous lymphadenitis accounted for 65,9% of cases. However, patients who were over 60 years old, 
carcinoma metastatic lymphadenopathy accounted for 72% of cases. 
Conclusion: Tuberculous lymphadenitis is still the most common cause of chronic cervical 
lymphadenopathy. However, in patients who were over 60 years old, carcinoma metastatic lymphadenophathy is 
1Bộ môn Miễn dịch - Di truyền học, Khoa Y Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh 
2Bộ Môn Lao - Bệnh Phổi, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh 
3Khoa Giải Phẫu Bệnh - Bệnh Viện Phạm Ngọc Thạch 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Nguyễn Xuân Trí ĐT: 0942723825 Email : [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 219 
the main cause. 
Keywords: cervical lymphadenopathy, tuberculous lymphadenitis, carcinoma metastatic lympadenopathy 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Bệnh lý hạch cổ là một trong những bệnh 
cảnh lâm hay gặp trong thực hành hằng ngày 
của bác sĩ Tai Mũi Họng, bác sĩ chuyên khoa 
Lao- Bệnh phổi cũng như bác sĩ Ung Bướu. Tại 
các nước có tần suất mắc lao cao, trong đó có 
Việt Nam, đa phần bệnh lý viêm hạch vùng cổ 
mạn thường do lao. Tác giả người Ấn Độ, 
Biswas G nghiên cứu cho thấy lao chiếm 45,4% 
các trường hợp bệnh lý hạch cổ tại quốc gia 
này(1). Tuy nhiên trong đa số các trường hợp biểu 
hiện lâm sàng của bệnh lý hạch do di căn ác tính 
từ nơi khác (ung thư vùng mũi hầu, ung thư 
phổi ) hay hạch bệnh lý ác tính nguyên phát 
cũng không có dấu hiệu lâm sàng đặc hiệu và rất 
khó có thể chẩn đoán. Nghiên cứu của chúng tôi 
muốn gớp phần mô tả đặc điểm lâm sàng và 
nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ mạn tính trên 
bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện 
Phạm Ngọc Thạch. 
ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tất cả các bệnh nhân từ 16 tuổi trở lên có 
hạch cổ đến khám tại bệnh viện Phạm Ngọc 
Thạch trong thời gian từ tháng 11 năm 2016 đến 
tháng 4 năm 2017. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Bệnh nhân khám và chỉ định thực hiện sinh 
thiết hạch cổ để chẩn đoán tại bệnh viện Phạm 
Ngọc Thạch trong thời gian từ tháng 11 năm 
2016 đến tháng 4 năm 2017. 
Được thực hiện sinh thiết hạch và làm giải 
phẫu bệnh lý. 
Có chẩn đoán cuối cùng qua giải phẫu bệnh lý. 
Đồng ý tham gia nghiên cứu, và có xác nhận 
bằng văn bản. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân không đồng ý làm thủ thuật để 
chẩn đoán bệnh lý hạch cổ. 
Thực hiện các thủ thuật chẩn đoán thất bại 
hoặc có chống chỉ định thực hiện các thủ thuật 
chẩn đoán 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Báo cáo hàng loạt các trường hợp. 
Định nghĩa các biến số chính 
Bệnh nhân có bệnh lý hạch cổ mạn tính chưa 
rõ nguyên nhân: Bệnh nhân có hạch vùng cổ >1 
cm kéo dài hơn 2 tuần chưa rõ nguyên nhân. 
Tuổi: Đây là biến định lượng, có giá trị bằng 
năm tiến hành sinh thiết trừ đi cho năm sinh, 
đơn vị là năm tuổi. 
Tiền căn lao: Là biến định tính, nhận 2 giá trị 
có hoặc không, Tiền căn lao được khai thác qua 
bệnh sử. Hỏi bệnh nhân có từng mắc lao hoặc 
được điều trị lao không. 
Số lượng hạch: Là biến bán định lượng, nhận 
2 giá trị là 1 hạch hoặc nhiều hạch, thu được qua 
thăm khám lâm sàng. 
Kích thước hạch: Là biến định lượng, thu 
được qua thăm khám lâm sàng, đơn vị cm. 
Kết quả mô bệnh học: Là biến định tính, thu 
được qua hình ảnh mô bệnh học của bệnh nhân. 
Phương pháp thống kê 
Các số liệu được phân tích bằng phần mềm 
thống kê Stata 14.0. 
Y đức 
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức 
trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y 
Dược TP. Hồ Chí Minh, số 173/ĐHYD-HĐ. 
KẾT QUẢ 
Chúng tôi thu dung được 101 bệnh nhân 
thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. Tuổi nhỏ nhất là 18 
tuổi, lớn nhất là 79 tuổi, tuổi trung bình trong 
mẫu nghiên cứu là 46,4 ± 3,4 tuổi. 
Bảng 4: Nguyên nhân gây bệnh lý hạch cổ 
Hạch viêm lao 44 (43,56%) 
Carcinoma di căn 32 (31,68%) 
Viêm kinh niên 18 (17,82%) 
Viêm tăng sinh 7 (6,93%) 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 220 
Trong 101 trường hợp hạch cổ được sinh 
thiết, có 44 bệnh nhân ( 43,56%) được chẩn đoán 
mô bệnh học là hạch viêm lao, 32 bệnh nhân 
(31,68%) được chẩn đoán là hạch cổ bị xâm lấn 
ác tính bởi Carcinôm loại tuyến hoặc gai, có độ 
biệt hóa từ tốt ( grade I) cho đến không biệt hóa. 
Chúng tôi ghi nhận có 18 trường hợp cho hình 
ảnh mô bệnh học là hạch viêm mạn tính (Viêm 
kinh niên) với sự hiện diện của lympho bào ưu 
thế. Trong đó có 7 trường hợp tương ứng với 
6,93% các bệnh nhân được chẩn đoán là hạch 
viêm tăng sinh mạn tính. 
Trong 44 trường hợp được chẩn đoán mô 
bệnh học là viêm lao trong nghiên cứu. Có 21 
trường hợp chiếm 47,73% có sự hiện diện của 
đại bào Langhans, 23 trường hợp chiếm 52,27% 
không có hình ảnh của đại bào Langhans mà chỉ 
có hình ảnh viêm dạng hạt với các tế bào dạng 
biểu mô và hoại tử bã đậu. 
Hình 1: Hạch viêm mạn tính do lao ở bệnh nhân 
trong nghiêm cứu ( mẫu hạch cổ nhuộm HE độ 
phóng đại X400) Hình ảnh đại bào Langhans và tế 
bào biểu mô, 400X. Đại bào Langhans với nhiều nhân 
ở ngoại vi, xung quanh là những tế bào dạng biểu mô, 
ngoài cùng là lympho bào 
Bảng 5: Liên quan giữa giới tính và bệnh lý hạch cổ 
 Lao 
Carcinoma di 
căn 
Viêm kinh 
niên 
Viêm tăng 
sinh 
Tổng
Nam 
16 
(36,36%) 
26 (81,25%) 9 (50%) 
5 
71,43% 
56 
Nữ 
28 
63,63% 
6 
18,75% 
9 
50% 
2 
28,57% 
45 
Tổng 
44 
100% 
32 
100% 
18 
100% 
7 
100% 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ nam nữ 
trong từng nhóm bệnh lý có sự khác nhau có ý 
nghĩa thống kê ( Kruskal- Wallis test, p= 0.0012). 
Trong nhóm bệnh nhân hạch viêm lao, nữ chiếm 
tỉ lệ 63,63%, nam chiếm tỉ lệ 36.36%. Trong nhóm 
bệnh nhân carcinoma di căn hạch, nam chiếm tỉ 
lệ 81,25%, nữ chiếm tỉ lệ 18,75%. 
Hình 1: Liên quan giữa tuổi và bệnh lý hạch cổ 
Trong những bệnh nhân có bệnh lý hạch cổ 
nhỏ hơn hoặc bằng 40 tuổi, lao hạch chiếm 
67,44%. Trong những bệnh nhân có bệnh lý hạch 
cổ và tuổi từ 41 đến 60 tuổi, lao hạch chiếm 
39,39%, ung thư di căn chiếm 42,42% còn lại là 
hạch viêm kinh niên và viêm tăng sinh chiếm 
18,18%. Đặc biệt ở những bệnh nhân trên 60 tuổi 
có hạch cổ thì ung thư di căn chiếm tới 72%. Sự 
khác biệt này có ý nghĩa thống kê (Chi 2, 
p=0,000). 
Bảng 6: Liên quan giữa triệu chứng đau và nguyên 
nhân gây bệnh lý hạch cổ 
 Không đau Có đau Tổng 
Lao 
15 (30,61%) 
34,09% 
29 (55,77%) 
65,91% 
44 
100% 
Carcinoma di căn 
28 ( 57,14%) 
87,50% 
4 ( 7,69%) 
12,50% 
32 
100% 
Viêm kinh niên 
5 (10,2%) 
27,78% 
13 (25%) 
72,22% 
18 
100% 
Viêm tăng sinh 
1 (2,04%) 
14,29% 
6 ( 11,54%) 
85,71% 
7 
100% 
Tổng 49 ( 100%) 52 (100%) 
Triệu chứng đau chỉ xuất hiện trong 4 
trường hợp chiếm 12,50% bệnh nhân có hạch cổ 
di căn được chẩn đoán bằng mô bệnh học. 
Ngược lại trong bệnh lý lành tính khác như lao, 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 221 
viêm kinh niên và viên tăng sinh, triệu chứng 
đau hiện diện lần lượt trên 65,91%, 72,22% và 
85,71%. Mặc khác khi phân tích những bệnh 
nhân đến khám có triệu chứng đau tại hạch cổ 
thì chúng ta ghi nhận có 55,77% bệnh nhân có 
kết quả mô bệnh học là viêm hạch do lao, trong 
khi đó ở nhóm bệnh nhân có hạch cổ nhưng 
không có triệu chứng đau tại hạch, thì có 57,14% 
bệnh nhân có kết quả mô bệnh học là ung thư di 
căn hạch. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(Fisher’s extract test, p=0,000). 
Bảng 7: Liên quan giữa triệu chứng sốt và bệnh lý 
hạch cổ 
Không có triệu 
chứng sốt 
Có triệu chứng 
sốt 
Tổng 
Lao 
15 ( 27,78%) 
34,09% 
29 (61,70%) 
65,91% 
100% 
Carcinoma di căn 
28 ( 51,85%) 
87,50% 
4 (8,51%) 
12,50% 
100% 
Viên kinh niên 
9 (16,67%) 
50% 
9 (19,15%) 
50% 
100% 
Viên tăng sinh 
2 (3,70%) 
28,57% 
5 (10,64%) 
71,43% 
100% 
Tổng 54 (100%) 47 (100%) 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận: 
Trong số những bệnh nhân có hạch cổ và sốt, ớn 
lạnh,mệt mõi đặc biệt về chiều thì lao hạch 
chiếm tỉ lệ cao nhất tương ứng với 61,07%, kế 
tiếp là hạch viêm kinh niên, chiếm 19,15%, viêm 
tăng sinh chiếm 10,64%, và chỉ có 8,51% bệnh 
nhân sau đó được chẩn đoán là ung thư di căn 
hạch từ mẫu sinh thiết hạch. Trái lại, trong số 
những bệnh nhân có bệnh lý hạch cổ cần sinh 
thiết để chẩn đoán nhưng không có triệu chứng 
sốt thì 51,85% trong số ấy được chẩn đoán ung 
thư di căn hạch bằng mô bệnh học sau đó. Trong 
những bệnh nhân không có triệu chứng sốt thì 
lao hạch chiếm 27,78%. Trong những bệnh nhân 
được chẩn đoán hạch viêm lao thì chỉ có 65,91% 
bệnh nhân có triệu chứng sốt, ớn lạnh,mệt mõi 
về chiều. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 
(Fisher’s extract test, p=0,000) (Bảng 4). 
BÀN LUẬN 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, khi tiến 
hành sinh thiết hạch chẩn đoán 101 bệnh nhân 
có bệnh lý hạch cổ, viêm hạch cổ do lao là 
nguyên nhân chiếm tỉ lệ cao nhất, tương ứng 
43,56%. Bệnh lý hạch cổ thứ phát do ung thư di 
căn chiếm 31,68%. Còn lại 24,75% bệnh nhân 
được chẩn đoán viêm kinh niên hoặc viêm tăng 
sinh. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của 
các tác giả khác khi tiến hành sinh thiết hạch cổ 
để chẩn đoán bệnh lý hạch cổ trên những bệnh 
nhân đến khám tại các cơ sở y tế của Ấn Độ và 
Pakistan(2,3,4) (Bảng 5). 
Bảng 5: Nhiên cứu của các tác giả khác 
 Lao 
Ung thư 
di căn 
Viêm không 
đặc hiệu٭ 
lymphoma
Melkundi RS
(2) 
(n=50) 
52% 20% 24% 4% 
Ismail M
(3)
(n=90) 
74,5% 6,7% 11,1% 4,4% 
Magsi PB
(4)
(n=140) 
74% 10% 12% 4% 
Chúng tôi 
(n=101) 
43,56% 31,68% 24,75% 
* Viêm kinh niên, viêm tăng sinh 
Lao chiếm 43,56% nguyên nhân gây bệnh lý 
hạch cổ trong nghiên cứu của chúng tôi. Tỷ lệ 
này tương tự trong một số nghiên cứu của các 
tác giả khác. Tác giả Biswas G tiến hành nghiên 
cứu 423 bệnh nhân có bệnh lý hạch cổ mạn tính 
chưa rõ nguyên nhân đến khám và điều trị tại 
một bệnh viện trường đại học ở Calcutta, Ấn Độ. 
Tác giả ghi nhận 45,4% bệnh nhân được chẩn 
đoán viêm hạch cổ cho lao, 21,2% bệnh nhân 
được chẩn đoán là hạch cổ bệnh lý thứ phát do 
ung thư di căn(1). Tỷ lệ này trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 31,68%. 
Trong một nghiên cứu được tiến hành trên 
những người trưởng thành thuộc tầng lớp trung 
lưu của thành phố Mumbai, Ấn Độ. Kết quả ghi 
nhận 38,7% bệnh nhân được chẩn đoán do lao(5). 
Tác giả Hernandez-Solis A đã tiến hành 
nghiên cứu tần suất bệnh lý nhiễm trùng trên 
những bệnh nhân trưởng thành người Mê Hi Cô 
có bệnh lý hạch cổ. Các tác giả ghi nhận 48% 
bệnh nhân được chẩn đoán phù hợp với viêm 
hạch do lao qua mô học. Những bệnh nhân này 
có 19% tìm thấy vi trùng kháng acide qua 
nhuộm, 55% bệnh nhân cấy dương tính với vi 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 222 
khuẩn lao, 81% bệnh nhân dương tính bằng 
phương pháp PCR(6). 
Các tác giả Trung Quốc cho thấy lao là 
nguyên nhân của 28% bệnh nhân có bệnh lý 
hạch cổ, ung thư di căn chiếm 37,5%, viêm phản 
ứng chiếm 27%(7). Trong một nghiên cứu khác 
của các tác giả Hàn Quốc, lao là nguyên nhân 
của 22,4% các trường hợp bệnh lý hạch cổ(8). 
Điều này cho thấy lao vẫn còn là một nguyên 
nhân đáng chú ý gây bệnh lý hạch cổ mạn tính 
tại các quốc gia Châu Á kể cả những quốc gia đã 
có nền công nghiệp hóa hiện đại như khu vực 
Đông Bắc Á. 
Các đại thực bào có thể hòa vào nhau để tạo 
thành những đại bào Langhans nhiều nhân, một 
đặc trưng của lao. Quá trình này được khởi động 
bởi lipomannan của mycobacteria (nhưng không 
phải là lipoarabinomannan)(9). Một nghiên cứu 
khác gần đây cho thấy có thể tạo ra đại bào 
langhans khi nuôi cấy đồng thời đại thực bào và 
tế bào T đã hoạt hóa(10). Những đại bào nhiều 
nhân chỉ được tìm thấy trong u hạt do 
Mycobacteria tuberculosis. Những dạng u hạt do 
các mycobacteria độc lực yếu hơn có thể chứa 
những tế bào nhiều nhân nhưng không bao giờ 
biệt hóa thành những tế bào khổng lồ nhiều 
nhân. Những tế bào khổng lồ nhiều nhân này 
không còn khả năng thu nhận vi khuẩn vì mất đi 
thụ thể đặc hiệu nhưng vẫn còn khả năng trình 
diện kháng nguyên(11). Đại bào Langhans được 
tạo thành để tiêu diệt những vi khuẩn đã được 
thực bào trong những giai đoạn biệt hóa trước 
đó của đại thực bào. Và đây là một chiến lược để 
chống lại vi khuẩn lao của cơ thể(12). 
Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận sự 
hiện diện của đại bào langhans trong 47,73% các 
trường hợp được chẩn đoán viêm hạch do lao. 
Tác giả Smaoui S hồi cứu những bệnh nhân chẩn 
đoán và điều trị viêm hạch do lao từ năm 2009 
đến 2013, đại bào Langhans hiện diện trong 
64,9% các trường hợp(13). Một nghiên cứu trên 
qui mô lớn hơn, khảo sát 550 trường hợp viêm 
hạch do lao, đại bào Langhans được ghi nhận 
trong 21,8% các trường hợp(14). Trong nghiên cứu 
của tác giả Phan Đăng, thực hiện năm 1994 tại 
Hà Nội, sự hiện diện của đại bào Langhans được 
ghi nhận trong 19,31% bệnh phẩm FNA hạch 
ngoại vi của bệnh nhân lao(15). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ 
lệ nam: nữ trong nhóm bệnh nhân lao hạch cổ là 
1:1,75. Tỷ lệ này phù hợp với ghi nhận của các 
tác giả khác. Tác giả Kamal MS tiến hành nghiên 
cứu tiến cứu 65 trường hợp viêm hạch cổ do lao 
đến khám và điều trị tại một bệnh viện tại 
Bangladesh ghi nhận tỉ lệ nam: nữ là 1:2,1(16). 
Trong một nghiên cứu của các tác giả Hoa Kỳ 
cho thấy tỉ lệ nam: nữ ở bệnh nhân lao hạch 
ngoại vi là 1:2,6(17). Trong báo cáo của Tổ Chức Y 
Tế Thế Giới (WHO) năm 2010 cũng đề cập đến 
tỷ lệ nam: nữ ở bệnh nhân lao hạch cổ là 1:2,14(18). 
Tác giả Dass A lý giải cho sự khác biệt này là do 
nữ giới lưu tâm đến vẻ ngoài của họ nhiều hơn 
và trong xã hội nam quyền thì nữ có tình trạng 
dinh dưỡng kém hơn(19). Còn tác giả người 
Pakistan, Ahmed I cho rằng sự khác biệt này là 
do động lực xã hội, trong đó người phụ nữ ở 
quốc gia này thường làm việc tại nhà, trong môi 
trường kín và thông khí kém khiến họ gia tăng 
nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm trong đó có 
lao(20). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, ở những 
bệnh nhân có bệnh lý hạch cổ do di căn từ một 
khối u ác tính ở vị trí khác, nam giới thường gặp 
hơn nữ và chiếm tỷ lệ gấp 4,33 lần nữ. Điều này 
cũng tương tự trong báo cáo của các tác giả khác. 
Kiran A cho cho thấy tần số bệnh nhân có bệnh 
lý ác tính ở hạch cổ ở nam cao hơn nữ (tỷ lệ 
nam:nữ=2,4:1). Trong nghiên cứu của tác giả 
Biswas G tỷ lệ này là 2,33:1(1). 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số bệnh 
nhân lao hạch cổ nằm trong nhóm tuổi dưới 40, 
chiếm 65,91%, tiếp theo là những bệnh nhân 
nằm trong nhóm tuổi từ trên 40 tuổi đến 60 tuổi, 
chiếm 29,55%. Những bệnh nhân trên 60% chỉ 
chiếm tỷ lệ nhỏ, tương ứng 4.,55%. Kết quả này 
tương đồng với các nghiên cứu của các tác giả 
khác trên thế giới. Như 2 tác giả người Ấn Độ 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 223 
Melkundi RS và Patel KR mà chúng tôi nêu tại 
biểu đồ trên đây(2,21). 
Ngược lại trong nhóm những bệnh nhân 
được chẩn đoán là hạch di căn từ một ung thư ở 
vị trí khác, tuổi trung bình của bệnh nhân là 
61,72 tuổi và ở nhóm bệnh nhân trên 60 tuổi. Tỷ 
lệ mắc phải của bệnh lý này lên đến 72%. Kết 
quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các 
tác giả khác. Tác giả Qadri SK nghiên cứu bệnh 
lý hạch lympho do di căn tại vùng thung lũng 
Kashmir, Ấn Độ cho thấy tuổi trung bình của 
nhóm bệnh nhân này là 52,5 tuổi(22). Tỷ lệ mắc 
ung thư di căn ở những bệnh nhân có hạch 
thượng đòn trên 60 tuổi lên đến 95%(23). 
Chúng tôi ghi nhận 65,91% bệnh nhân lao 
hạch cổ có triệu chứng đau tại hạch. Tác giả Patel 
KR ghi nhận triệu chứng đau tại vùng cổ trong 
27% bệnh nhân lao hạch cổ (21). Tác giả Mutiullah 
S ghi nhận triệu chứng đau tại vị trí hạch cổ 
trong 14% trường hợp(24). 
Bảng 6: Liên quan giữa triệu chứng toàn thân và 
bệnh lý lao hạch cổ 
 Sốt Sụt cân Chán ăn 
Ra mồ hôi 
đêm 
Jha BC
(6)
 (n=87) 17,8% 14,3% _ _ 
Kamal MS
(16)
 (n=65) 87,8% 63,4% 80,5% 63,4% 
Patel KR
(21)
 (n=77) 60% 23% 16% _ 
Chúng tôi (n=44) 65,91% 31,82% 36,36% 18,18% 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, triệu chứng 
toàn thân thường gặp nhất trong nhóm bệnh 
nhân viêm hạch cổ do lao là sốt, kế đến là chán 
ăn, sụt cân và cuối cùng là ra mồ hôi đêm. Đây là 
những triệu chứng cơ năng kinh điển trong hội 
chứng nhiễm lao chung. Kết quả này cũng phù 
hợp với nghiên cứu tương tự của các tác giả khác 
trên thế giới khi nghiên cứu về bệnh lý hạch cổ 
do lao. Tuy có sự dao động trong tỷ lệ cụ thể của 
các triệu chứng nhưng nhìn chung triệu chứng 
thường gặp nhất vẫn là sốt kế đến lần lượt là 
chán ăn, sụt cân và ra mồ hôi đêm(16,19,21). 
KẾT LUẬN 
Viêm hạch bạch huyết vùng cổ do lao là 
nguyên nhân thường gặp nhất gây bệnh lý hạch 
cổ trên bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh 
Viện Phạm Ngọc Thạch đặc biệt trên những 
bệnh nhân nhỏ hơn 40 tuổi. Tuy nhiên 
Carcinoma di căn hạch cổ là nguyên nhân 
thường gặp thứ 2 gây bệnh lý hạch cổ mạn tính 
đặc biệt ở những bệnh nhân trên 60 tuổi. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Biswas G, Haldar D, Mukherjee A, Dutta S, Sinha R (2013). 
Clinico-Pathological correlates of cervical lymphadenopathy: a 
hospital based study. Indian J Otolaryngol Head Neck Surg, 
65(1):42-47. 
2. Melkundi RS (2017). Clinicopathological sutdy of cervical 
lymphadenopathy. International Journal of Otorhinolaryngology 
and Head and neck Surgery, 3(2):244-249. 
3. Ismail M, Muhammad M (2013). Frequency of tuberculosis in 
cervical lymphadenopathy. J Postgrad Med Inst, 27(3):342-346. 
4. Magsi PB (2013). An audit of 140 cases of cervical 
lymphadenopathy at tertiary care hospital. Gomad J Med Sci, 
11:47-56. 
5. Khajanchi M, Bambarkar S, et al (2016). Cervical Node 
Tuberculosis in Adults of an Urban Middle Class Community: 
Incidence and Management. Indian J Otolaryngol Head Neck Surg, 
68(3):345-51. 
6. Cicero-Sabido R, Hernandez A- Solis,Olivera H, Rivero V, 
Ramirez E, Escobar-Gutierrez A (2003), Tuberculosis is still a 
majr cause of cervical lymphadenopathies in adults from 
developing countries. Epidemiol Infect, 131(3):1071–1076. 
7. Ying M, Ahuja A, Brook F (2004). Accuracy of sonographic 
vascular features in differentiating different causes of cervical 
lymphadenopathy. Ultrasound Med Biol, 30(4):441-448. 
8. Song JY, Cheong HJ, và Kee SY (2007). Disease spectrum of 
cervical lymphadenitis: analysis based on ultrasound- guided 
core needle gun biopsy. J Infect, 50(4):310-316. 
9. Puissegur MP, Lay G, Gilleron M (2007). Mycobacterial 
lipomannan induces granuloma macrophage fusion via a TLR2-
dependent, ADAM9- and beta1 integrin-mediated pathway. J 
Immunol, 178(5):3161-3170. 
10. Sakai H, Okafuji I, Nishikomori R (2012). The CD40-CD40L axis 
and IFN-gamma play critical roles in Langhans giant cell 
formation. Int Immunol, 24(1):5-15. 
11. Lay G, Poquet Y (2007). Langhans giant cells from M. 
tuberculosis induced human granulomas cannot mediate 
mycobacterial uptake. J Pathol, 211(1):76-85. 
12. Silva MM, Breiman A, Allain S (2012). The tuberculous 
granuloma: an unsuccessful host defence mechanism providing 
a safety shelter for the bacteria? Clin Dev Immunol, 
doi:10.1155/2012/139127. 
13. Smaoui S, Mezghanni MA (2015). Tuberculosis lymphadenitis 
in a southeastern region in Tunisia: Epidemiology, clinical 
features, diagnosis and treatment. International Journal of 
Mycobacteriology, 4(3):196-201. 
14. Chand P, Dogra R, Chauhan N, Gupta R, Khare P (2014). 
Cytopathological Pattern of Tubercular Lymphadenopathy on 
FNAC: Analysis of 550 Consecutive Cases. J Clin Diagn Res, 
8(9):16-9. 
15. Phan Đăng (1994). Giá trị chẩn đoán tế bào học lao hạch ngoại 
biên qua chọc hút kim nhỏ. Luận án Phó Tiến sĩ, Đại học Y Hà 
Nội. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 224 
16. Kamal MS (2016). Cervical tuberculous lymphadenitis: Clinico-
demographic profiles of patients in a secondary level hospital of 
Bangladesh. Pak J Med Sci, 32(3):4. 
17. Gonzalez OY, LD Teeter, Musser JM, et al (2003). Extrathoracic 
tuberculosis lymphadenitis in adult HIV seronegative patients: 
a population-based analysis in Houston, Texas, USA. Int J 
Tuberc Lung Dis, 7(10):987-93. 
18. Chand P, Dogra R, Chauhan N, Gupta R, Khare P (2014). 
Cytopathological Pattern of Tubercular Lymphadenopathy on 
FNAC: Analysis of 550 Consecutive Cases. J Clin Diagn Res, 
8(9):Fc16-Fc9. 
19. Dass A, Jha BC, Nagarkar NM (2001). Cervical tuberculous 
lymphadenopathy: changing clinical pattern and concepts in 
management. Postgrad Med J, 77(905):185-187. 
20. Ahmed I, Hashmi S (2013). Tuberculosis and Cervical 
Lymphadenopathy- A study of 175 cases in a Tertiary care 
hospital, Tawir Oral Hyg Health, 13(1):11-19. 
21. Patel KR, Sisodia JA (2014). A Retrospective analysis of 
prospectively collected data of patients of tuberculous cervical 
lymphadenopathy confirmed by FNAC carried out at Medical 
college, Baroda, Gujarat. Int J Res Med, 3(4):124-136. 
22. Qadri SK, Hamdani NH (2014). Metastatic Lymhadenopathy in 
Kashmir Valley: A clinicopathological study. Asian Pac J Cancer 
Prev, 15(1):419-422. 
23. Mitra S, Ray S, và Mitra P (2011). Fine needle aspiration 
cytology of supraclavicular lymph nodes: Our experience over a 
three-year period, J Cytol, 28(3):108-110. 
24. Mutiullah S, Ahmed Z, và Yunus M (2009). Evaluation of 
tuberculosis cervical lymphadenopathy. Pakistan Journal of 
Surgery, 25(3):419-422. 
Ngày nhận bài báo: 08/08/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_va_nguyen_nhan_gay_benh_ly_hach_co_tren_be.pdf