Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị u dưới niêm thực quản

Mục tiêu: U dưới niêm thực quản đa số lành tính và phẫu thuật nội soi bóc u dưới niêm thực quản là một

phương pháp điều trị được chấp nhận rộng rãi. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả,

tính khả thi của phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị u dưới niêm thực quản.

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2020 có 27

trường hợp được PTNS bóc u điều trị u dưới niêm thực quản tại bệnh viện Chợ Rẫy được đưa vào nghiên cứu.

Kết quả: Có 16 nam và 11 nữ trong mẫu nghiên cứu với tuổi trung bình là 47,2 tuổi (từ 25 đến 76 tuổi).

92,6% bệnh nhân có triệu chứng, triệu chứng thương gặp nhất là nuốt nghẹn (n=19), tuy nhiên vẫn có 7,4%

bệnh nhân không có triệu chứng. Bóc u qua đường ngực phải được thực hiện ở 18 bệnh nhân, còn lại 9 bệnh

nhân được tiếp cận qua đường bụng, u lớn nhất có thể PTNS bóc u là 8 cm. Mô bệnh học sau mổ bao gồm u cơ

trơn 23 trường hợp (85,2%), u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) 3 trường hợp (11,1%), u tế bào Schwann 1

trường hợp (3,7%). Tổng kết không có trường hợp nào xì rò, có 1 trường hợp bị trào ngược dạ dày thực quản sau

mổ nhưng điều trị ổn với ức chế bơm proton trong 2 tuần.

Kết luận: PTNS bóc u là phương pháp an toàn, khả thi trong điều trị u dưới niêm thực quản

pdf 6 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị u dưới niêm thực quản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị u dưới niêm thực quản

Đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật nội soi điều trị u dưới niêm thực quản
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 280 
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ 
U DƯỚI NIÊM THỰC QUẢN 
Trần Nam1, Lâm Việt Trung2, Bùi Đức Ái2, Tiêu Loan Quang Lâm2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu: U dưới niêm thực quản đa số lành tính và phẫu thuật nội soi bóc u dưới niêm thực quản là một 
phương pháp điều trị được chấp nhận rộng rãi. Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả, 
tính khả thi của phẫu thuật nội soi (PTNS) điều trị u dưới niêm thực quản. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu từ tháng 01/2015 đến tháng 04/2020 có 27 
trường hợp được PTNS bóc u điều trị u dưới niêm thực quản tại bệnh viện Chợ Rẫy được đưa vào nghiên cứu. 
Kết quả: Có 16 nam và 11 nữ trong mẫu nghiên cứu với tuổi trung bình là 47,2 tuổi (từ 25 đến 76 tuổi). 
92,6% bệnh nhân có triệu chứng, triệu chứng thương gặp nhất là nuốt nghẹn (n=19), tuy nhiên vẫn có 7,4% 
bệnh nhân không có triệu chứng. Bóc u qua đường ngực phải được thực hiện ở 18 bệnh nhân, còn lại 9 bệnh 
nhân được tiếp cận qua đường bụng, u lớn nhất có thể PTNS bóc u là 8 cm. Mô bệnh học sau mổ bao gồm u cơ 
trơn 23 trường hợp (85,2%), u mô đệm đường tiêu hóa (GIST) 3 trường hợp (11,1%), u tế bào Schwann 1 
trường hợp (3,7%). Tổng kết không có trường hợp nào xì rò, có 1 trường hợp bị trào ngược dạ dày thực quản sau 
mổ nhưng điều trị ổn với ức chế bơm proton trong 2 tuần. 
Kết luận: PTNS bóc u là phương pháp an toàn, khả thi trong điều trị u dưới niêm thực quản. 
Từ khóa: u dưới niêm, thực quản, PTNS đường bụng, PTNS đường ngực 
ABSTRACT 
CLINICAL FEATURES AND RESULT OF 
MINIMALLY INVASIVE SURGICAL MANAGEMENT ESOPHAGEAL SUBMUCOSAL TUMORS 
Tran Nam, Lam Viet Trung, Bui Duc Ai, Tieu Loan Quang Lam 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 280 - 285 
Objectives: Esophageal submucosal tumors are usually benign, and minimally invasive enucleation is 
widely accepted as the treatment of choice. The goals of this study were to investigate clinical characteristics 
and surgical outcomes after enucleation of esophageal submucosal tumors to establish the feasibility of 
minimally invasive. 
Method: We performed a retrospective review of 27 patients who underwent minimally invasive enucleation 
of esophageal submucosal tumors between 01/2015 and 04/2020 at Cho Ray Hospital. 
Result: There were 16 men and 11 women in the study group, with a mean age of 47.2 years (range, 25-76 
years). About ninety-two (92.6%) patients were symptomatic, the most common symptom was dysphagia (n = 
19), however, 7.4% of patients were asymptomatic. Thoracoscopic approaches were used in 18 patients, 
laparoscopic approaches were performed in 9 patients. The largest tumor is 8 cm we can perform enucleation by 
thoracoscopic with no conversion to open surgery. Pathologic diagnosis included leiomyoma (n=23 [85.2%]), 
gastrointestinal stromal tumor (GIST) (n=3 [11.1%]) and schwannoma (n = 1 [3.7%]). Overall, there were no 
postoperative leaks and no other major complications. One patient has a new one-set gastroesophageal reflux 
disease after tumor resection; however, the symptom was adequately controlled with proton pump inhibiter 
medications for 2 weeks. 
1Bệnh viện Quận Thủ Đức 2Bệnh viện Chợ Rẫy 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Trần Nam ĐT: 0962094547 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 281 
Conclusion: Minimal invasive enucleation tumors are technically safe and feasible for esophageal 
submucosal tumors. 
Key words: submucosal tumors, esophageal, laparoscopic, thoracoscopic 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
U dưới niêm thực quản là u trung mô ở 
thành thực quản, hiện diện thành một nhóm 
không đồng nhất chiếm ít hơn 1% của tất cả u 
thực quản và đa số lành tính(1,2). U cơ trơn u lành 
tính phổ biến nhất của u dưới niêm thực quản 
chiếm khoảng 70-80%(2). Các loại u khác như u 
mô đệm đường tiêu hóa (GIST), u tế bào 
Schwann rất hiếm gặp. Việc chẩn đoán gặp 
nhiều khó khăn vì các loại u dưới niêm thực 
quản có triệu chứng lâm sàng, đặc điểm trên nội 
soi tiêu hóa và hình ảnh học giống nhau nên 
chuẩn đoán xác định chính xác phải dựa vào mô 
bệnh học và hóa mô miễn dịch sau mổ(3). 
Phẫu thuật bóc u được chấp nhận rộng rãi 
như một phương pháp điều trị chuẩn(4,5). Tuy 
nhiên một số trường hợp u mô đệm đường tiêu 
hóa thực quản ác tính có thể phải cắt thực quản 
với tỉ lệ tai biến, biến chứng và tử vong cao 
hơn(3,5,6,7). Trước đây phẫu thuật bóc u qua đường 
mở ngực hoặc mở bụng kinh điển thường hay 
được áp dụng phổ biến(4, 5). Những báo cáo gần 
đây cho thấy tính khả thi của việc bóc u bằng 
phẫu thuật nội soi (PTNS), tuy nhiên kỹ thuật 
này có thể gặp khó khăn và tăng biến chứng 
phẫu thuật ở những u kích thước lớn. Chúng tôi 
thực hiện nghiên cứu này nhằm xem xét đánh 
giá tính khả thi và kết quả sớm PTNS điều trị u 
dưới niêm thực quản. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Những bệnh nhân đã được PTNS điều trị và 
chẩn đoán mô bệnh học sau mổ là u dưới niêm 
thực quản như u cơ trơn, GIST, u tế bào 
Schwann, u tế bào hạt, u máu, u mạch bạch 
huyết, u mỡ, sarcoma cơ trơn từ 01/01/2015 đến 
30/04/2020. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Ung thư di căn, các tổn thương khác từ ngoài 
đè ép vào thực quản như hạch trung thất, phình 
động mạch chủ ngực, hồ sơ bệnh án không đầy 
đủ như không có chụp cắt lớp vi tính ngực cản 
quang, siêu âm nội soi, mô bệnh học sau mổ. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Hồi cứu - báo cáo hàng loạt ca. 
Các bước thu thập số liệu 
Thu thập danh sách bệnh nhân có mã ICD 
tương ứng với các cụm từ: “U lành tính thực 
quản”, “U mô đệm đường tiêu hóa”, “U cơ 
trơn”, “GIST”, “U tân sinh chưa rõ tính chất 
thực ở thực quản” trong vòng 5 năm từ 
01/01/2015 đến 30/04/2020 tại bệnh viện Chợ 
Rẫy. Sàng lọc và chọn các hồ sơ thỏa tiêu 
chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ. Các 
biến số nghiên cứu được ghi nhận và tổng hợp 
theo biểu mẫu thu thập số liệu. 
Phương pháp mổ và kỹ thuật 
Đánh giá tiền phẫu đã được hội chẩn với ban 
lãnh đạo và các thành viên khoa Ngoại tiêu hóa. 
Chỉ định phẫu thuật bao gồm: Có triệu 
chứng lâm sàng, u tăng kích thước khi theo dõi 
và cần xác định chẩn đoán mô bệnh học. 
Phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào vị 
trí và kích thước u. Chúng tôi tiếp cận u ở vị trí 
gần vùng liên kết dạ dày thực quản bằng 
phương pháp PTNS đường bụng, u ở các vị trí 
còn lại chúng tôi tiếp cận bằng phương pháp 
PTNS đường ngực phải. Khi tiếp cận u qua 
đường ngực phải tất cả đều được thực hiện ở tư 
thế bệnh nhân nằm nghiêng trái. Để thực hiện 
PTNS qua đường ngực phải, bệnh nhân được 
gây mê nội khí quản bằng ống 2 nòng, điều này 
cho phép thông khí 1 phổi trái, phổi phải xẹp để 
thuận tiện phẫu thuật. Chúng tôi sử dụng 3 đến 
4 trocar để phẫu thuật. Sau khi xác định được vị 
trí u, màng phổi trung thất được cắt mở dọc theo 
thực quản và mở lớp cơ bao phủ trên u. Khối u 
được bóc tách cẩn thận để tránh thủng lớp niêm 
mạc. Bơm khí vào thực quản qua ống thông mũi 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 282 
dạ dày được thực hiện để kiểm tra sự nguyên 
vẹn của lớp niêm mạc sau mổ bóc u. Tất cả bệnh 
nhân đều được khâu lại lớp cơ sau bóc u để 
tránh biến chứng hình thành túi thừa thực quản 
về sau. 
Định nghĩa các biến số 
U dưới niêm: Là thuật ngữ thường dùng trên 
lâm sàng để chỉ khối u có đặc điểm đại thể phát 
triển nhô vào trong lòng thực quản và nằm dưới 
lớp niêm mạc. 
Kích thước u: Đường kính lớn nhất của khối 
u đo được sau mổ. 
Phân loại u dưới niêm theo giải phẫu bệnh 
và hóa mô miễn dịch: 
U cơ trơn: Đại thể đặc chắc, có lớp bao trơn 
láng, mặt cắt có màu trắng, xám, nâu vàng. Vi 
thể thấy tế bào sợi cơ trơn bện xoắn hoặc đan 
xen với tế bào chất bạch cầu ái toan. Hóa mô 
miễn dịch dương tính (+) với SMA, desmin trong 
khi âm tính (-) với CD 117 và CD 34. 
U mô đệm đường tiêu hóa (GIST): Đại thể 
thường có lớp vỏ bao sợi collagen. Vi thể thấy tế 
bào hình thoi, dạng biểu mô hoặc đa hình. Hóa 
mô miễn dịch dương tính (+) với CD 117, CD 34 
trong khi âm tính (-) với desmin, SMA. 
U tế bào Schwann: Đại thể có màu vàng 
nhạt, bề mặt cắt nhẵn mịn. Vi thể chứa các tế bào 
của sợi thần kinh. Hóa mô miễn dịch dương tính 
(+) với S100, Vimentin trong khi âm tính (-) với 
SMA, desmin. 
U tế bào hạt: Đại thể có màu trắng vàng. Vi 
thể thấy tế bào hình ô van hoặc đa giác được 
phân chia bởi những sợi collagen. Hóa mô miễn 
dịch dương tính (+) với S100. 
Phân tích số liệu 
Xử lý và phân tích số liệu được thực hiện 
bằng phần mềm thống kê SPSS 22.0. Kiểm định 
mối tương quan giữa các biến định tính bằng 
phép kiểm Chi bình phường (Có hiệu chỉnh theo 
Exact’s Fisher trong trường hợp bảng 2x2 có ít 
nhất 1 ô có vọng trị <5). Kiểm định sự khác biệt 
giữa hai biến định lượng có phân phối chuẩn 
bằng phép kiểm T test, phân phối không chuẩn 
bằng phép kiểm Mann-Whitney. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm bệnh nhân 
Bảng 1: Đặc điểm 27 bệnh nhân u dưới niêm thực 
quản được PTNS bóc u 
Biến số Tần suất (%) 
Tuổi, năm (nhỏ nhất - lớn nhất) 47,2 (25-76) 
Giới tính 
Nam 
Nữ 
16 (59,3%) 
11 (40,7%) 
Triệu chứng 
Không triệu chứng 
Nuốt nghẹn 
Đau thượng vị 
Đau ngực 
Đau sau xương ức 
Ợ chua, ợ hơi 
2 (7,4%) 
19 (70,4%) 
7 (25,9%) 
2 (7,4%) 
1 (3,7%) 
1 (3,7%) 
Vị trí 
Thực quản 1/3 trên 
Thực quản 1/3 giữa 
Thực quản 1/3 dưới 
5 (18,5%) 
9 (33,3%) 
13 (48,2%) 
Kích thước trung vị u, cm (khoảng tứ phân 
vị) 
Tất cả bệnh nhân 
Bệnh nhân không triệu chứng 
Bệnh nhân có triệu chứng 
3,0 (2,0-5,0) 
5,5 (3,0-8,0) 
3,0 (2,0-5,0) 
Đặc điểm bệnh nhân được mô tả trong Bảng 
1. Trong mẫu nghiên cứu có 16 nam và 11 nữ với 
tuổi trung bình là 47,2 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi, lớn 
nhất 76 tuổi. Đa số u ở vị trí thực quản 1/3 dưới 
(n=13 [48,2%]) và thực quản 1/3 giữa (n=9 
[33,3%]). 92,6% có biểu hiện triệu chứng lâm 
sàng, chỉ có 2 bệnh nhân (7,4%) không có triệu 
chứng, phát hiện u dưới niêm thực quản qua nội 
soi dạ dày tá tràng khi đi khám sức khỏe tổng 
quát. Triệu chứng thường gặp nhất là nuốt 
nghẹn (n = 19). Kích thước trung vị u ở tất cả 
bệnh nhân là 3,0 cm (2,0-5,0), u nhỏ nhất là 1,2 
cm, u lớn nhất là 8 cm. Khi so sánh kích thước 
trung vị để tìm mối liên quan với triệu chứng 
lâm sàng cho thấy kích thước trung vị u ở bệnh 
nhân có triệu chứng khác biệt không có ý nghĩa 
so với bệnh nhân không triệu chứng (3,0 cm (2,0-
5,0) với 5,5 cm (3,0-8,0), p=0,302). 
Phương pháp phẫu thuật và kết quả sau mổ 
PTNS bóc u qua đường ngực phải được thực 
hiện trên 18 bệnh nhân, còn lại 9 bệnh nhân 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 283 
được PTNS bóc u qua đường bụng. Thủng lớp 
niêm mạc trong mổ là 3 trường hợp (11,1%). Nếu 
thủng lớp niêm mạc được phát hiện trong mổ thì 
sẽ được khâu lại lớp niêm mạc, sau đó sẽ được 
kiểm tra bằng cách bơm khí vào ống thông mũi 
dạ dày để xác nhận lớp niêm mạc đã được khâu 
kín. Không có trường hợp nào bị xì rò sau bóc u. 
Có 1 trường hợp (3,7%) thủng khí quản là 
trường hợp bóc u cơ trơn ở thực quản 1/3 giữa 
kích thước 7 cm dính chặt vào gốc phế quản trái, 
trong quá trình bóc u đã làm thủng phế quản 
gốc trái, sau đó được khâu lại lỗ thủng phế quản 
gốc trái, hậu phẫu bệnh nhân khỏe, X quang 
ngực thẳng không có tràn khí, ống dẫn lưu 
màng phổi được rút ngày hậu phẫu thứ 7, bệnh 
nhân được xuất viện ở ngày hậu phẫu thứ 8. 
Không có biến chứng hậu phẫu nào đáng kể. 
Thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 5,2 
ngày, ngắn nhất là 3 ngày, dài nhất là 8 ngày. 
Bảng 2: Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị 27 ca u 
dưới niêm thực quản 
Biến số Tần suất (%) 
Phương pháp mổ 
Đường ngực phải 
Đường bụng 
18 (66,7%) 
9 (33,3%) 
Mô bệnh học sau mổ 
U cơ trơn 
U mô đệm đường tiêu hóa 
U tế bào Schwann 
23 (85,2%) 
3 (11,1%) 
1 (3,7%) 
Thời gian trung bình phẫu thuật, phút ± độ 
lệch chuẩn 
146,5 ± 37,5 
(90 – 210) 
Tai biến 
Thủng lớp niêm mạc 
Thủng phế quản 
3 (11,1%) 
1 (3,7%) 
Xì rò sau mổ 0 (0%) 
Thời gian nằm viện sau mổ, ngày (ngắn 
nhất – dài nhất) 
5,22 (3 – 8) 
Kết quả mô bệnh học sau mổ 
Mô bệnh học thường gặp nhất là u cơ trơn 23 
bệnh nhân (85,2%), u mô đệm đường tiêu hóa 
gặp ở 3 bệnh nhân (11,1%), u tế bào Schwann 
gặp ở 1 bệnh nhân (3,7%). 
Theo dõi 
Thời gian theo dõi trung bình là 21,4 tháng (2 
– 43 tháng). Trong quá trình theo dõi, 1 bệnh 
nhân xuất hiện triệu chứng trào ngược dạ dày 
thực quản 2 tuần sau phẫu thuật bóc u cơ trơn ở 
thực quản 1/3 dưới dù bệnh nhân trước đó 
không có triệu chứng này, tuy nhiên triệu chứng 
được cải thiện sau điều trị ức chế bơm proton. 
Tất cả trường hợp u mô đệm đường tiêu hóa 
đều không ghi nhận tái phát và không cần phải 
điều trị tân bổ trợ. 
BÀN LUẬN 
U dưới niêm thực quản là u trung mô hiếm 
gặp, hiện diện ít hơn 1% của tất cả các u thực 
quản và mô bệnh học rất đa dạng. Mặc dù u có 
thể gây triệu chứng như nuốt nghẹn, đau 
thượng vị, trào ngược nhưng chúng có thể vô 
tình phát hiện mà không có triệu chứng. Theo 
kết quả phẫu thuật bóc u dưới niêm thực quản ở 
87 ca được báo cáo bởi tác giả Shin, 66,7% trường 
hợp không triệu chứng và những bệnh nhân có 
triệu chứng thì u lớn hơn có ý nghĩa so với 
những bệnh nhân không triệu chứng. Chẩn 
đoán xác định u dưới niêm thực quản phải dựa 
bào mô bệnh học sau mổ. Bonavina L(4) khuyến 
cáo không nên thực hiện nội soi sinh thiết u dưới 
niêm thực quản, bởi vì nội soi sinh thiết có thể 
làm viêm hoặc tổn thương lớp niêm mạc, điều 
này có thể làm tăng nguy cơ thủng lớp niêm mạc 
trong quá trình bóc u. Chúng tôi không nội soi 
sinh thiết thường quy nếu u dưới niêm có kiểu 
hình lành tính trên chụp cắt lớp vi tính hoặc siêu 
âm nội soi. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp 
khó phân biệt chính ác u lành tính hay ác tính 
trên siêu âm nội soi, từ đó sinh thiết sẽ được 
thực hiện trong những trường hợp u có kiểu 
hình chưa loại trừ ác tính với xác xuất cao hơn. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi PTNS bóc u 
được tiếp cận qua đường ngực phải và đường 
bụng kể cả với khối u kích thước lớn 8cm mà 
không có biến chứng nào đáng kể, với thời gian 
nằm viện sau mổ trung vị chỉ 5,2 ngày. 
Có nhiều lựa chọn điều trị u dưới niêm 
thực quản như theo dõi, nội soi tiêu hóa điều 
trị và phẫu thuật điều trị(5). Phẫu thuật là một 
lựa chọn điều trị u dưới niêm thực quản và 
bóc u được chấp nhận rộng rãi như một điều 
trị chuẩn(4,5). Mổ mở bóc u là phương pháp 
thực hiện phổ biến trước đây(4,5). Kể từ khi 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Ngoại Khoa 284 
Everitt NJ(8) thực hiện ca bóc u dưới niêm thực 
quản bằng PTNS năm 1992, phương pháp 
PTNS bằng đường ngực ngày càng được sử 
dụng nhiều và một vài nghiên cứu đã kiểm tra 
tính khả thi và an toàn(8,9,10,11,12,13). Nghiên cứu 
của tác giả von Rahden BH(12) khi so sánh với 
mổ mở, bóc u dưới niêm thực quản nội soi 
giảm biến chứng phổi, thời gian nằm viện và ít 
đau sau mổ. Nghiên cứu của tác giả Kent M(10) 
cũng cho kết quả PTNS có thời gian nằm viện 
ngắn hơn khi so sánh với nhóm mổ mở. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi thời gian trung bình 
nằm viện sau mổ chỉ 5,2 ngày. 
Về chỉ định bóc u nội soi chưa được thống 
nhất. Jiang G(9) đề nghị u cơ trơn thực quản từ 
1-5 cm là lý tưởng nhất cho PTNS bóc u đường 
ngực. U kích thước lớn hơn 5 cm cũng có thể 
bóc u nội soi, mặc dù điều này có thể làm tăng 
khả năng chuyển mổ mở(10). Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, chúng tôi thực hiện PTNS bóc u 
qua đường ngực phải với u kích thước lớn 
nhất là 8 cm mà không phải chuyển mổ mở 
hay có tai biến, biến chứng nào nghiêm trọng. 
Tỉ lệ chuyển mổ mở là 0%. Tất cả các trường 
hợp thủng niêm mạc trong quá trình bóc u đều 
được khâu lại và hầu hết bệnh nhân xuất viện 
không có biến chứng. 
Thời gian theo dõi sau mổ u dưới niêm thực 
quản lành tính không được cụ thể. Trong những 
trường hợp GIST, theo dõi thường xuyên được 
khuyến cáo dựa vào khả năng ác tính. Ngược lại, 
sự tái phát các u dưới niêm thực quản còn lại 
hiếm khi được báo cáo, nên chúng có thể không 
cần theo dõi về mặt ung thư học. Thay vào đó, 
chức năng tiêu hóa sau mổ như trào ngược dạ 
dày thực quản sau mổ nên được quan tâm. Kent 
M(10) báo cáo kết quả sau bóc u 20 trường hợp u 
dưới niêm thực quản, có 5 trường hợp phải phẫu 
thuật tạo van chống trào ngược sau mổ do xuất 
hiện triệu chứng trào ngược hoặc triệu chứng 
trào ngược nặng thêm. Trong nghiên cứu của 
chúng tôi, chỉ có 1 bệnh nhân xuất hiện triệu 
chứng mới trào ngược sau mổ, và được điều trị 
ổn bằng PPI trong 2 tuần. 
KẾT LUẬN 
Chúng tôi nhận thấy, phẫu thuật bóc u dưới 
niêm thực quản là một phương pháp đủ để điều 
trị đa số u dưới niêm thực quản. Tiếp cận bằng 
phương pháp nội soi thì cũng khả thi cho bệnh 
nhân được chọn lựa và kết quả cho thời gian 
nằm viện ngắn. Theo dõi về mặt ung thư học là 
không cần thiết đối với u cơ trơn bởi vì tỉ lệ rất 
nhỏ tái phát nhưng chức năng tiêu hóa sau mổ 
nên được theo dõi. 
Trong nghiên cứu hồi cứu của chúng tôi còn 
tồn tại nhiều mặt hạn chế. Vì thông tin, dữ liệu 
mà chúng tôi thu thập được dựa trên hồ sơ cũ, 
nên trong nghiên cứu còn nhiều mặt khiếm 
khuyết. Nhưng chúng tôi đã cố gắng thu thập 
dữ liệu đầy đủ, chính xác nhất có thể để hoàn 
thành nghiên cứu này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Postlethwait RW, Musser AW (1974). "Changes in the 
esophagus in 1,000 autopsy specimens". J Thorac Cardiovasc 
Surg, 68(6):953-6. 
2. Seremetis MG, Lyons WS, deGuzman VC, Peabody JW (1976). 
"Leiomyomata of the esophagus. An analysis of 838 cases". 
Cancer, 38(5):2166-77. 
3. Blum MG, Bilimoria KY, Wayne JD, de Hoyos AL, Talamonti 
MS, Adley B (2007). "Surgical considerations for the 
management and resection of esophageal gastrointestinal 
stromal tumors". Ann Thorac Surg, 84(5):1717-23. 
4. Bonavina L, Segalin A, Rosati R, Pavanello M, Peracchia A 
(1995). "Surgical therapy of esophageal leiomyoma". J Am Coll 
Surg, 181(3):257-62. 
5. Lee LS, Singhal S, Brinster CJ, Kucharczuk JC (2004). "Current 
management of esophageal leiomyoma". J Am Coll Surg, 
198(1):136-46. 
6. Coccolini F, Catena F, Ansaloni L, Lazzareschi D, Pinna AD 
(2010). "Esophagogastric junction gastrointestinal stromal 
tumor: resection vs enucleation". World J Gastroenterol, 
16(35):4374-6. 
7. Lee HJ, Park SI, Kim DK, Kim YH (2009). "Surgical resection of 
esophageal gastrointestinal stromal tumors". Ann Thorac Surg, 
87(5):1569-71. 
8. Everitt NJ, Glinatsis M, McMahon MJ (1992). "Thoracoscopic 
enucleation of leiomyoma of the oesophagus". Br J Surg, 
79(7):643. 
9. Jiang G, Zhao H, Yang F, Wang J (2009). "Thoracoscopic 
enucleation of esophageal leiomyoma: a retrospective study on 
40 cases". Dis Esophagus, 22(3):279-83. 
10. Kent M, d'Amato T, Nordman C, Alvelo-Rivera M, Luketich J 
(2007). "Minimally invasive resection of benign esophageal 
tumors". J Thorac Cardiovasc Surg, 134(1):176-81. 
11. Obuchi T, Sasaki A, Nitta H, Koeda K, Ikeda K, Wakabayashi 
G (2010). "Minimally invasive surgical enucleation for 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021 Nghiên cứu Y học
Chuyên Đề Ngoại Khoa 285 
esophageal leiomyoma: report of seven cases". Dis Esophagus, 
23(1):E1-4. 
12. von Rahden BH, Stein HJ, Feussner H, Siewert JR (2004). 
"Enucleation of submucosal tumors of the esophagus: 
minimally invasive versus open approach". Surg Endosc, 
18(6):924-30. 
13. Zaninotto G, Portale G, Costantini M, Ancona E (2006). 
"Minimally invasive enucleation of esophageal leiomyoma". 
Surg Endosc, 20(12):1904-8. 
Ngày nhận bài báo: 04/08/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_va_ket_qua_phau_thuat_noi_soi_dieu_tri_u_d.pdf