Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng
Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh các trường
hợp ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc tử cung và ở buồng trứng.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện dựa trên
bệnh án của 27 người bệnh đã được chẩn đoán là ung thư đồng thời nội
mạc tử cung và buồng trứng nguyên phát từ năm 2002 đến năm 2017.
Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình của người bệnh ở thời điểm chẩn
đoán là 49. Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, ra máu âm
đạo bất thường là dấu hiệu phổ biến nhất (70,4%). Nồng độ CA-125
tăng ở hầu hết các trường hợp (86,7%), nồng độ CA-125 trung bình là
173,7U/ml. Siêu âm phát hiện 21 trường họp có u tiểu khung (77,8%),
20 trường hợp nội mạc tử cung dày hoặc có u (40,7%) và 16 trường
hợp thấy dịch cổ chướng (59,3%). Ung thư týp dạng nội mạc ở tử cung
gặp phổ biến nhất (70,4%), tiếp theo là týp thanh dịch (18,5%), tế bào
sáng (7,4 %), và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư buồng
trứng, hai týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu mô tuyến dạng nội
mạc và ung thư biểu mô tuyến thanh dịch có tỷ lệ lần lượt là 63,0% và
22,2%. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, 20
trường hợp ung thư nội mạc tử cung ở giai đoạn I (74,1%), 23 trường
hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn I (85,2%).
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng
NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH 122 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A Nguyễn Thị Tuyền(1), Phùng Quang Thuỷ(3), Đào Duy Quân(2), Lưu Thị Hồng(1), Phạm Thị Thanh Yên(2), Lê Hoàng Linh(2), Trần Thị Hải Yến(2), Nguyễn Đình Quyết(2), Trần Tuấn Vũ(2), Nguyễn Việt Thắng(2), Lê Quang Vinh(2) (1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (3) Bệnh viện Vinmec ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG GIẢI PHẪU BỆNH UNG THƯ NGUYÊN PHÁT ĐỒNG THỜI Ở TỬ CUNG VÀ BUỒNG TRỨNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Lê Quang Vinh, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: ung thư đồng thời, Ung thư tuyến nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng. Keywords: Coexisting cancer, Endometrial adenocarcinoma, ovarian cancer. Tóm tắt Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh các trường hợp ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc tử cung và ở buồng trứng. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện dựa trên bệnh án của 27 người bệnh đã được chẩn đoán là ung thư đồng thời nội mạc tử cung và buồng trứng nguyên phát từ năm 2002 đến năm 2017. Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình của người bệnh ở thời điểm chẩn đoán là 49. Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, ra máu âm đạo bất thường là dấu hiệu phổ biến nhất (70,4%). Nồng độ CA-125 tăng ở hầu hết các trường hợp (86,7%), nồng độ CA-125 trung bình là 173,7U/ml. Siêu âm phát hiện 21 trường họp có u tiểu khung (77,8%), 20 trường hợp nội mạc tử cung dày hoặc có u (40,7%) và 16 trường hợp thấy dịch cổ chướng (59,3%). Ung thư týp dạng nội mạc ở tử cung gặp phổ biến nhất (70,4%), tiếp theo là týp thanh dịch (18,5%), tế bào sáng (7,4 %), và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư buồng trứng, hai týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc và ung thư biểu mô tuyến thanh dịch có tỷ lệ lần lượt là 63,0% và 22,2%. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, 20 trường hợp ung thư nội mạc tử cung ở giai đoạn I (74,1%), 23 trường hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn I (85,2%). Tử khoá: ung thư đồng thời, Ung thư tuyến nội mạc tử cung, ung thư buồng trứng. Abstract CLINICOPATHOLOGICAL CHARACTERISTICS OF PATIENTS WITH PRIMARY SYNCHRONOUS ENDOMETRIAL AND OVARIAN CANCERS Objectives: To determine the clinical characteristics and pathology of synchronous primary andometrial and ovarian cancers. Subjects and methods: Retrospective study on 27 patients diagnosed with primary endometrial and ovarian cancers ovaries from 2002 to 2017. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 122 - 126, 2018 123 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Results and conclusion: The average age of patients was 49 years. Non-specific clinical symptoms, abnormal vaginal bleeding is the most common sign (70.4%). CA-125 concentrations increased in almost all cases (86.7%), mean CA-125 was 173.7 U / ml. Ultrasonography revealed 21 cases with tumors in pelvic cavity (77.8%), 20 cases with endometrial thickening or with mass in the uterine cavity (40.7%). and 16 cases with ascite (59.3%). In 27 cases of uterine cancer, the most common type of endometrioid cancer (70.4%), followed by the serous adenocrcinom (18.5%), the clear cell carcinoma (7.4%), and the carcinosarcoma (3.7%). The two most common types of histopathology of the ovarian cancers were endometrioid adenocarcinoma and serous adenocarcinoma at 63.0% and 22.2%, respectively. According to FGO stage, almost cases are diagnosed at an early stage, 20 cases of endometrial cancer in stage I (74.1%). For ovarian cancer, 23 cases of ovarian cancers in stage I (85.2%). Key words: Coexisting cancer, Endometrial adenocarcinoma, ovarian cancer. 1. Đặt vấn đề Ung thư nguyên phát đồng thời ở buồng trứng và nội mạc tử cung hiếm gặp. Bệnh này thấy khoảng 10% ở các trường hợp ung thư buồng trứng và khoảng 5% ở các trường hợp ung thư nội mạc tử cung. Xác định giai đoạn FIGO thường nhầm sang giai đoạn III của ung thư nội mạc tử cung hoặc giai đoạn II của ung thư buồng trứng [1]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các trường hợp ung thư nguyên phát đồng thời về tổng thể có tiên lượng tốt hơn các trường hợp ung thư nội mạc tử cung hay buồng trứng độc lập, một trong 2 cơ quan là tổn thương thứ phát [2]. Dù đã có nhiều tiến bộ trong xét nghiệm sinh học phân tử, hoá mô miễn dịch, nhưng cho đến nay, việc chẩn đoán ung thư đồng thời nguyên phát ở tử cung và buồng trứng còn gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích “Đánh giá đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh của các bệnh nhân bị ung thư đồng thời nội mạc tử cung và buồng trứng nguyên phát”. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu - Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu 27 bệnh án ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc tử cung và buồng trứng đã điều trị tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương từ năm 2002 đến 2017. - Tiêu chuẩn lựa chọn: Các trường hợp được phẫu thuật tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương vì ung thư buồng trứng xảy ra đồng thời với ung thư nội mạc tử cung. Hồ sơ bệnh án có đầy đủ thông tin lâm sàng, cận lâm sàng, có đủ tiêu bản và khối nến. - Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp ung thư di căn tử cung và buồng trứng. - Quy trình nghiên cứu: Hồi cứu bệnh án lưu trữ để thu thập các thông tin về tuổi người bệnh ở thời điểm chẩn đoán bệnh, các triệu chứng lâm sàng, tiền sử sản khoa, các kết quả cận lâm sàng, phương pháp điều trị, kết quả điều trị và kết quả giải phẫu bệnh của 27 người bệnh. Xem lại các tiêu bản nhuộm HE/hoá mô miễn dịch lưu trữ tại khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện Phụ sản Trung ương. Sử dụng các tiêu chuẩn mô bệnh học của Young và Scully [3] để xác định là u nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng. Xếp loại mô học và giai đoạn FIGO theo phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới các u cơ quan sinh dục nữ năm 2014 [4]. - Phân tích thống kê sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để tính tuổi trung bình của bệnh nhân, xác định tỷ lệ phân bố các týp mô học, mối liên quan của các biến số lâm sàng, cận lâm sàng và mô học. NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH 124 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A 3. Kết quả Tuổi trung bình của 43 bệnh nhân tại thời điểm chẩn đoán là 49 năm, bệnh nhân có tuổi trẻ nhất là 31 tuổi, cao tuổi nhất là 69 tuổi. Có 4 (14,8%) trường hợp <40 năm, 13 (48,2%) trường hợp trong độ tuổi từ 40-50 năm và có 10 (37,0%) trong độ tuổi >50 năm. Tổng số 8 bệnh nhân mãn kinh chiếm 29,6%, 4 trường hợp không sinh đẻ 14,8%. Nhận xét: Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là chảy máu âm đạo bất thường thường gặp ở 19 trường hợp (70,4%), tiếp theo là đau bụng và/hoặc đầy bụng và u ở tiểu khung chiếm tỷ lệ lần lượt là 40,7% và 25,9%. Kết quả xét nghiệm CA-125 được thực hiện ở 15 trường hợp, trong đó 13 trường hợp có mức CA-125 cao >35U/ ml (86,7%), bao gồm 7 trường hợp có nồng độ CA-125<500U/ml và 6 trường hợp có nồng độ CA-125>500U/ml. Nồng độ CA-125 trung bình là 173,7U/ml. Tổng cộng có 27 trường hợp được khám siêu âm vùng chậu, kết quả cho thấy 21 bệnh nhân có khối u bụng (77,8%), 11 bệnh nhân bị dày nội mạc tử cung (40,7%), 9 bệnh nhân có u trong buồng tử cung (33,3%) và 16 bệnh nhân có dịch ổ bụng (59,3%). Nhận xét: Ung thư týp dạng nội mạc và týp thanh dịch là phổ biến nhất, chiếm lần lượt 70,4% Các đặc điểm Số lượng Tỷ lệ % Triệu chứng lâm sàng (n=27) Chảy máu âm đạo 19 70,4 Đau và đầy bụng 11 40,7 U ở tiểu khung 7 25,9 CA-125 (n=15) Bình thường (35U/ml<) 2 13,3 <500U/ml 7 46,7 >500U/ml 6 40,0 Siêu âm (n=27) U trong tiểu khung 21 77,8 Dày nội mạc 11 40,7 U trong buồng tử cung 9 33,3 Dịch cổ chướng 16 59,3 Bảng 1. Đặc điểm của bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng đồng thời. Týp mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ % Ung thư biểu mô dạng nội mạc 19 70,4 Ung thư biểu mô thanh dịch 5 18,5 Ung thư biểu mô tế bào sáng 2 7,4 Các loại khác 1 3,7 Tổng 27 100 Bảng 2. Sự phân bố các týp mô bệnh học ở bệnh nhân bị ung thư nội mạc tử cung và 18,5%. Ngoài ra, gặp 2 týp chiếm tỷ lệ thấp hơn là ung thư biểu mô tế bào sáng (7,4%) và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Nhận xét: Hai týp ung thư dạng nội mạc và thanh dịch chiếm đa số các trường hợp với tỷ lệ lần lượt là 63,0% và 22,2 %, Các týp ung thư biểu mô khác ít gặp chiếm 14,7%. Nhận xét: Hầu hết các trường hợp ung thư tử cung, buồng trứng đều được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn I chiếm tỷ lệ lần lượt là 74,1% và 85,2%. Chỉ có 2 trường hợp ung thư tử cung ở giai đoạn III và 2 trường hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn III và IV. Nhận Xét: Tống số 27 trường hợp đều được phẫu thuật cắt tử cung buồng trứng và mạc nối lớn. Trong đó, có 3 (11,1%) trường hợp được điều trị tân bổ trợ trước mổ, 27 (100%) trường hợp được điều trị hoá chất sau mổ trong đó có 2 (7,4%) trường hợp điều trị phối hợp hoá chất và tia xạ. 4. Bàn luận Đồng ung thư nội mạc và buồng trứng không giống ung thư buồng trứng hoặc tử cung đơn độc. Young và Scully [3] đã xây dựng một số tiêu chuẩn để chẩn đoán đồng ung thư nguyên phát ở tử cung và buồng trứng, các tiêu chuẩn Týp mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ % Ung thư biểu mô dạng nội mạc 17 63,0 Ung thư biểu mô thanh dịch 6 22,2 Ung thư biểu mô tế bào sáng 3 11,1 Các loại khác 1 3,7 Tổng 27 100 Bảng 3. Sự phân bố các týp mô bệnh học ở bệnh nhân bị ung thư buồng trứng Giai đoạn FIGO Ung thư nội mạc tử cung Ung thư buồng trứng Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % I 20 74,1 23 85,2 II 5 18,5 2 5,4 III 2 5,4 1 3,7 IV 0 1 3,7 V 0 0 Bảng 4. Xác định giai đoạn lâm sàng theo FIGO Điều trị bổ trợ Số lượng Tỷ lệ % Hoá trị trước mổ 3 11,1 Hoá trị sau mổ 27 100 Hoá trị và xạ trị 2 7,4 Bảng 5. Điều trị bổ trợ các trường hợp đồng ung thư tử cung và buồng trứng TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 122 - 126, 2018 125 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 đó bao gồm: i) Không có sự tương đồng mô học trên u ở 2 cơ quan; ii) Không có hoặc chỉ có sự xâm lấn cơ bề mặt của u nội mạc tử cung; iii) Không thấy sự xâm nhập mạch của u nội mạc tử cung; iv) Còn thấy vùng quá sản nội mạc tử cung không điển hình; v) Không thấy bằng chứng khác về sự lan rộng của u nội mạc tử cung; vi) U buồng trứng một bên; vii) U khu trú trong nhu mô buồng trứng; viii) Không xâm nhập mạch, cấy ghép ở bề mặt hoặc chủ yếu khu trú ở vùng rốn buồng trứng; ix) Không thấy sự lan tràn ở buồng trứng; x) Có lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; xi) Mức bội thể của chỉ số DNA khác nhau, nếu là lệch bội của mô u; xii) Những bất thường di truyền phân tử hoặc bất thường bộ nhiễm sắc thể không đồng nhất trong các u. Halperin và cộng sự đã nhận thấy rằng, 62,5% các trường hợp đồng ung thư nguyên phát tử cung buồng trứng có thể chẩn đoán được bằng các thụ thể nội tiết (ER, PR) và 31,3% được xác định bởi sự có mặt của Bcl-2 [5]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Đối với ung thư nội mạc tử cung, ung thư týp dạng nội mạc và týp thanh dịch là phổ biến nhất, chiếm lần lượt 70,4% và 18,5%. Ngoài ra, gặp 2 týp chiếm tỷ lệ thấp hơn là ung thư biểu mô tế bào sáng (7,4%) và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư buồng trứng cũng có kết quả tương tự, hai týp ung thư dạng nội mạc và thanh dịch chiếm đa số các trường hợp với tỷ lệ lần lượt là 63,0% và 22,2 %. Các týp ung thư biểu mô khác ít gặp hơn chỉ chiếm tổng cộng 14,7%. Theo các nghiên cứu trước đây [1] tuổi trung bình của các bệnh nhân có đồng ung thư nguyên phát ở tử cung và buồng trứng trẻ hơn các bệnh nhân có ung thư buồng trứng hoặc tử cung đơn độc, tuổi trung bình ở ung thư buồng trứng hoặc tử cung là 60 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình bệnh nhân là 49 năm. Triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng của đồng ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng tương tự như ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng độc lập, chảy máu bất thường âm đạo và khối u bụng là những triệu chứng chính. Tương tự các kết quả đã được thông báo trong y văn, triệu chứng xuất hiện phổ biến trong nghiên cứu này là ra máu âm đạo bất thường (65,12%), khối u bụng (25,58%), đau và đầy bụng (39,53%). Phẫu thuật cắt tử cung, hai phần phụ và mạc nối lớn là phương pháp điều trị chính cho ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng. Ung thư đồng thời nội mạc tử cung và buồng trứng nguyên thường bị chẩn đoán sai như giai đoạn III của ung thư nội mạc tử cung hoặc giai đoạn II của ung thư buồng trứng, do đó bệnh nhân thường bị điều trị quá mức. Trong nghiên cứu, hầu hết các trường hợp ung thư tử cung, buồng trứng đều được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn I chiếm tỷ lệ lần lượt là 74,1% và 85,2%. Chỉ có 2 trường hợp ung thư tử cung ở giai đoạn III và 2 trường hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn III và IV. Điều trị bệnh nhân ung thư buồng trứng nói chung dựa trên hóa trị bằng phác đồ paclitaxel cộng với cisplatin (TP) hoặc phác đồ cicplatin + doxorubicin + cyclophosphamide (PAC) và thời gian điều trị từ 2 đến 10 chu kỳ, thường là từ 3 đến 6 chu kỳ. Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư buồng trứng giai đoạn I hoặc II không cần hóa trị liệu. Năm 1982, Eifel [6] đề xuất rằng những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ sau đây của ung thư nội mạc tử cung nên được xạ trị bổ trợ: i) týp mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến thanh dịch hoặc ung thư biểu mô tuyến vảy; ii) độ ác tính II và III; iii) xâm nhập vào sâu vào cơ tử cung. Tuy nhiên, điều trị bổ trợ cho những bệnh nhân này còn nhiều tranh cãi. Trong nghiên cứu của chúng tôi, điều trị phẫu thuật đã được sử dụng cho tất cả 27 bệnh nhân. Các bệnh nhân này đều đã được hoá trị liệu bổ trợ sau phẫu thuật, 2 bệnh nhân được điều trị bổ sung phối hợp hoá trị liệu và xạ trị và 3 bệnh nhân được hóa trị liệu tân bổ trợ trước phẫu thuật. 5. Kết luận Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của các bệnh nhân bị đồng thời ung thư tử cung và buồng trứng nguyên phát trẻ hơn các trường hợp bị ung thư tử cung hoặc buồng trứng đơn độc. Triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu. Các týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu mô tuyến dạng nội mạc tử cung và thanh dịch. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm. NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH 126 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 P H Ụ K H O A Tài liệu tham khảo 1. Zaino R, Whitney C, Brady MF, et. Simultaneously detected endometrial and ovarian carcinom-a prospective clinicopathologic study of 74 cases: a gynecologic oncoloy group study. Gynecol Oncol. 2011;83:355-62. 2. Ayhan A, Guvenal T, Coskun F, et al. Survival and prognostic factors in patients with synchronous ovarian and endometrial cancers and endometrial cancer metastatic to the ovaries. Eur J Gynecol Cancer. 2003;24:171-4. 3. Young RH, Scully RE. Metastasic tumors of the ovary. In: Kurman RJ, editor. Blaustein’s Gynecological Pathology of the Female Genital Tract. 6th edition. Springer; New York: 2002. pp. 987–990. 4. Robert JK, Maria LC, Herrington CS, Robert HY. WHO classification of tumours of female reproductive organs. International Agency for Research on Cancer. 4th.ed. Lyon,2014. 5. Halperin R, Zehavi S, Hadas E, et al. Simultaneous carcinoma of the endometrium and ovary vs endometrial carcinoma with ovarian metastases: a clinical and immunohistochemical determination. Int J Gynecol Cancer. 2003;13:32–37. 6. Eifel PJ, Ross J, Hendrickson M, Cox RS, Kempson R, Martinez A. Adenocarcinoma of the endometrium. Analysis of 256 cases with disease limited to the uterine corpus: treatment comparisons. Cancer. 1983;52:1026–1031
File đính kèm:
dac_diem_lam_sang_giai_phau_benh_ung_thu_nguyen_phat_dong_th.pdf

