Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng

Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh các trường

hợp ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc tử cung và ở buồng trứng.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện dựa trên

bệnh án của 27 người bệnh đã được chẩn đoán là ung thư đồng thời nội

mạc tử cung và buồng trứng nguyên phát từ năm 2002 đến năm 2017.

Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình của người bệnh ở thời điểm chẩn

đoán là 49. Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, ra máu âm

đạo bất thường là dấu hiệu phổ biến nhất (70,4%). Nồng độ CA-125

tăng ở hầu hết các trường hợp (86,7%), nồng độ CA-125 trung bình là

173,7U/ml. Siêu âm phát hiện 21 trường họp có u tiểu khung (77,8%),

20 trường hợp nội mạc tử cung dày hoặc có u (40,7%) và 16 trường

hợp thấy dịch cổ chướng (59,3%). Ung thư týp dạng nội mạc ở tử cung

gặp phổ biến nhất (70,4%), tiếp theo là týp thanh dịch (18,5%), tế bào

sáng (7,4 %), và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư buồng

trứng, hai týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu mô tuyến dạng nội

mạc và ung thư biểu mô tuyến thanh dịch có tỷ lệ lần lượt là 63,0% và

22,2%. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, 20

trường hợp ung thư nội mạc tử cung ở giai đoạn I (74,1%), 23 trường

hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn I (85,2%).

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng

Đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh ung thư nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng
NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, 
TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH
122
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
Nguyễn Thị Tuyền(1), Phùng Quang Thuỷ(3), Đào Duy Quân(2), Lưu Thị Hồng(1), Phạm Thị Thanh Yên(2), Lê Hoàng Linh(2), 
Trần Thị Hải Yến(2), Nguyễn Đình Quyết(2), Trần Tuấn Vũ(2), Nguyễn Việt Thắng(2), Lê Quang Vinh(2) 
(1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, (3) Bệnh viện Vinmec
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG GIẢI PHẪU BỆNH
UNG THƯ NGUYÊN PHÁT ĐỒNG THỜI Ở TỬ CUNG
VÀ BUỒNG TRỨNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Quang Vinh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: ung thư đồng thời, 
Ung thư tuyến nội mạc tử cung, 
ung thư buồng trứng.
Keywords: Coexisting cancer, 
Endometrial adenocarcinoma, 
ovarian cancer.
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định đặc điểm lâm sàng và giải phẫu bệnh các trường 
hợp ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc tử cung và ở buồng trứng. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện dựa trên 
bệnh án của 27 người bệnh đã được chẩn đoán là ung thư đồng thời nội 
mạc tử cung và buồng trứng nguyên phát từ năm 2002 đến năm 2017. 
Kết quả và kết luận: Tuổi trung bình của người bệnh ở thời điểm chẩn 
đoán là 49. Các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, ra máu âm 
đạo bất thường là dấu hiệu phổ biến nhất (70,4%). Nồng độ CA-125 
tăng ở hầu hết các trường hợp (86,7%), nồng độ CA-125 trung bình là 
173,7U/ml. Siêu âm phát hiện 21 trường họp có u tiểu khung (77,8%), 
20 trường hợp nội mạc tử cung dày hoặc có u (40,7%) và 16 trường 
hợp thấy dịch cổ chướng (59,3%). Ung thư týp dạng nội mạc ở tử cung 
gặp phổ biến nhất (70,4%), tiếp theo là týp thanh dịch (18,5%), tế bào 
sáng (7,4 %), và ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư buồng 
trứng, hai týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu mô tuyến dạng nội 
mạc và ung thư biểu mô tuyến thanh dịch có tỷ lệ lần lượt là 63,0% và 
22,2%. Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, 20 
trường hợp ung thư nội mạc tử cung ở giai đoạn I (74,1%), 23 trường 
hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn I (85,2%).
Tử khoá: ung thư đồng thời, Ung thư tuyến nội mạc tử cung, ung thư 
buồng trứng.
Abstract 
 CLINICOPATHOLOGICAL CHARACTERISTICS 
OF PATIENTS WITH PRIMARY SYNCHRONOUS 
ENDOMETRIAL AND OVARIAN CANCERS 
Objectives: To determine the clinical characteristics and pathology of 
synchronous primary andometrial and ovarian cancers. 
Subjects and methods: Retrospective study on 27 patients diagnosed 
with primary endometrial and ovarian cancers ovaries from 2002 to 2017. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 122 - 126, 2018
123
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Results and conclusion: The average age of patients was 49 years. Non-specific clinical symptoms, 
abnormal vaginal bleeding is the most common sign (70.4%). CA-125 concentrations increased in 
almost all cases (86.7%), mean CA-125 was 173.7 U / ml. Ultrasonography revealed 21 cases with 
tumors in pelvic cavity (77.8%), 20 cases with endometrial thickening or with mass in the uterine 
cavity (40.7%). and 16 cases with ascite (59.3%). In 27 cases of uterine cancer, the most common 
type of endometrioid cancer (70.4%), followed by the serous adenocrcinom (18.5%), the clear cell 
carcinoma (7.4%), and the carcinosarcoma (3.7%). The two most common types of histopathology 
of the ovarian cancers were endometrioid adenocarcinoma and serous adenocarcinoma at 63.0% 
and 22.2%, respectively. According to FGO stage, almost cases are diagnosed at an early stage, 20 
cases of endometrial cancer in stage I (74.1%). For ovarian cancer, 23 cases of ovarian cancers in 
stage I (85.2%). 
Key words: Coexisting cancer, Endometrial adenocarcinoma, ovarian cancer.
1. Đặt vấn đề
Ung thư nguyên phát đồng thời ở buồng trứng 
và nội mạc tử cung hiếm gặp. Bệnh này thấy 
khoảng 10% ở các trường hợp ung thư buồng 
trứng và khoảng 5% ở các trường hợp ung thư nội 
mạc tử cung. Xác định giai đoạn FIGO thường 
nhầm sang giai đoạn III của ung thư nội mạc tử 
cung hoặc giai đoạn II của ung thư buồng trứng 
[1]. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, các trường 
hợp ung thư nguyên phát đồng thời về tổng thể 
có tiên lượng tốt hơn các trường hợp ung thư nội 
mạc tử cung hay buồng trứng độc lập, một trong 
2 cơ quan là tổn thương thứ phát [2]. Dù đã có 
nhiều tiến bộ trong xét nghiệm sinh học phân tử, 
hoá mô miễn dịch, nhưng cho đến nay, việc chẩn 
đoán ung thư đồng thời nguyên phát ở tử cung và 
buồng trứng còn gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi 
tiến hành nghiên cứu này nhằm mục đích “Đánh 
giá đặc điểm lâm sàng giải phẫu bệnh của các 
bệnh nhân bị ung thư đồng thời nội mạc tử cung 
và buồng trứng nguyên phát”.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
- Chúng tôi tiến hành nghiên cứu hồi cứu 27 
bệnh án ung thư nguyên phát đồng thời ở nội mạc 
tử cung và buồng trứng đã điều trị tại bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương từ năm 2002 đến 2017.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Các trường hợp được 
phẫu thuật tại bệnh viện Phụ Sản Trung ương vì ung 
thư buồng trứng xảy ra đồng thời với ung thư nội 
mạc tử cung. Hồ sơ bệnh án có đầy đủ thông tin 
lâm sàng, cận lâm sàng, có đủ tiêu bản và khối nến.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp ung thư di 
căn tử cung và buồng trứng. 
- Quy trình nghiên cứu: Hồi cứu bệnh án lưu 
trữ để thu thập các thông tin về tuổi người bệnh 
ở thời điểm chẩn đoán bệnh, các triệu chứng 
lâm sàng, tiền sử sản khoa, các kết quả cận lâm 
sàng, phương pháp điều trị, kết quả điều trị và 
kết quả giải phẫu bệnh của 27 người bệnh. Xem 
lại các tiêu bản nhuộm HE/hoá mô miễn dịch lưu 
trữ tại khoa Giải phẫu bệnh bệnh viện Phụ sản 
Trung ương. Sử dụng các tiêu chuẩn mô bệnh 
học của Young và Scully [3] để xác định là u 
nguyên phát đồng thời ở tử cung và buồng trứng. 
Xếp loại mô học và giai đoạn FIGO theo phân 
loại của Tổ chức Y tế Thế giới các u cơ quan sinh 
dục nữ năm 2014 [4]. 
- Phân tích thống kê sử dụng phần mềm SPSS 
16.0 để tính tuổi trung bình của bệnh nhân, 
xác định tỷ lệ phân bố các týp mô học, mối liên 
quan của các biến số lâm sàng, cận lâm sàng 
và mô học.
NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, 
TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH
124
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
3. Kết quả
Tuổi trung bình của 43 bệnh nhân tại thời điểm 
chẩn đoán là 49 năm, bệnh nhân có tuổi trẻ nhất 
là 31 tuổi, cao tuổi nhất là 69 tuổi. Có 4 (14,8%) 
trường hợp <40 năm, 13 (48,2%) trường hợp trong 
độ tuổi từ 40-50 năm và có 10 (37,0%) trong độ 
tuổi >50 năm. Tổng số 8 bệnh nhân mãn kinh chiếm 
29,6%, 4 trường hợp không sinh đẻ 14,8%. 
Nhận xét: Triệu chứng lâm sàng thường gặp 
nhất là chảy máu âm đạo bất thường thường gặp 
ở 19 trường hợp (70,4%), tiếp theo là đau bụng 
và/hoặc đầy bụng và u ở tiểu khung chiếm tỷ lệ 
lần lượt là 40,7% và 25,9%. Kết quả xét nghiệm 
CA-125 được thực hiện ở 15 trường hợp, trong 
đó 13 trường hợp có mức CA-125 cao >35U/
ml (86,7%), bao gồm 7 trường hợp có nồng độ 
CA-125<500U/ml và 6 trường hợp có nồng độ 
CA-125>500U/ml. Nồng độ CA-125 trung bình 
là 173,7U/ml. Tổng cộng có 27 trường hợp được 
khám siêu âm vùng chậu, kết quả cho thấy 21 
bệnh nhân có khối u bụng (77,8%), 11 bệnh nhân 
bị dày nội mạc tử cung (40,7%), 9 bệnh nhân có u 
trong buồng tử cung (33,3%) và 16 bệnh nhân có 
dịch ổ bụng (59,3%).
Nhận xét: Ung thư týp dạng nội mạc và týp 
thanh dịch là phổ biến nhất, chiếm lần lượt 70,4% 
Các đặc điểm Số lượng Tỷ lệ %
Triệu chứng lâm sàng (n=27)
Chảy máu âm đạo 19 70,4
Đau và đầy bụng 11 40,7
U ở tiểu khung 7 25,9
CA-125 (n=15)
Bình thường (35U/ml<) 2 13,3
<500U/ml 7 46,7
>500U/ml 6 40,0
Siêu âm (n=27)
U trong tiểu khung 21 77,8
Dày nội mạc 11 40,7
U trong buồng tử cung 9 33,3
Dịch cổ chướng 16 59,3
Bảng 1. Đặc điểm của bệnh nhân ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng đồng thời.
Týp mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ %
Ung thư biểu mô dạng nội mạc 19 70,4
Ung thư biểu mô thanh dịch 5 18,5
Ung thư biểu mô tế bào sáng 2 7,4
Các loại khác 1 3,7
Tổng 27 100
Bảng 2. Sự phân bố các týp mô bệnh học ở bệnh nhân bị ung thư nội mạc tử cung
và 18,5%. Ngoài ra, gặp 2 týp chiếm tỷ lệ thấp 
hơn là ung thư biểu mô tế bào sáng (7,4%) và ung 
thư biểu mô liên kết (3,7%).
Nhận xét: Hai týp ung thư dạng nội mạc và 
thanh dịch chiếm đa số các trường hợp với tỷ lệ lần 
lượt là 63,0% và 22,2 %, Các týp ung thư biểu mô 
khác ít gặp chiếm 14,7%.
Nhận xét: Hầu hết các trường hợp ung thư tử 
cung, buồng trứng đều được chẩn đoán và điều 
trị ở giai đoạn I chiếm tỷ lệ lần lượt là 74,1% và 
85,2%. Chỉ có 2 trường hợp ung thư tử cung ở giai 
đoạn III và 2 trường hợp ung thư buồng trứng ở giai 
đoạn III và IV.
Nhận Xét: Tống số 27 trường hợp đều được 
phẫu thuật cắt tử cung buồng trứng và mạc nối lớn. 
Trong đó, có 3 (11,1%) trường hợp được điều trị 
tân bổ trợ trước mổ, 27 (100%) trường hợp được 
điều trị hoá chất sau mổ trong đó có 2 (7,4%) 
trường hợp điều trị phối hợp hoá chất và tia xạ.
4. Bàn luận
Đồng ung thư nội mạc và buồng trứng không 
giống ung thư buồng trứng hoặc tử cung đơn 
độc. Young và Scully [3] đã xây dựng một số 
tiêu chuẩn để chẩn đoán đồng ung thư nguyên 
phát ở tử cung và buồng trứng, các tiêu chuẩn 
Týp mô bệnh học Số lượng Tỷ lệ %
Ung thư biểu mô dạng nội mạc 17 63,0
Ung thư biểu mô thanh dịch 6 22,2
Ung thư biểu mô tế bào sáng 3 11,1
Các loại khác 1 3,7
Tổng 27 100
Bảng 3. Sự phân bố các týp mô bệnh học ở bệnh nhân bị ung thư buồng trứng
Giai đoạn FIGO
Ung thư nội mạc tử cung Ung thư buồng trứng
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
I 20 74,1 23 85,2
II 5 18,5 2 5,4
III 2 5,4 1 3,7
IV 0 1 3,7
V 0 0
Bảng 4. Xác định giai đoạn lâm sàng theo FIGO
Điều trị bổ trợ Số lượng Tỷ lệ %
Hoá trị trước mổ 3 11,1
Hoá trị sau mổ 27 100
Hoá trị và xạ trị 2 7,4
Bảng 5. Điều trị bổ trợ các trường hợp đồng ung thư tử cung và buồng trứng
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 122 - 126, 2018
125
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
đó bao gồm: i) Không có sự tương đồng mô học 
trên u ở 2 cơ quan; ii) Không có hoặc chỉ có sự 
xâm lấn cơ bề mặt của u nội mạc tử cung; iii) 
Không thấy sự xâm nhập mạch của u nội mạc tử 
cung; iv) Còn thấy vùng quá sản nội mạc tử cung 
không điển hình; v) Không thấy bằng chứng 
khác về sự lan rộng của u nội mạc tử cung; vi) U 
buồng trứng một bên; vii) U khu trú trong nhu mô 
buồng trứng; viii) Không xâm nhập mạch, cấy 
ghép ở bề mặt hoặc chủ yếu khu trú ở vùng rốn 
buồng trứng; ix) Không thấy sự lan tràn ở buồng 
trứng; x) Có lạc nội mạc tử cung ở buồng trứng; 
xi) Mức bội thể của chỉ số DNA khác nhau, nếu 
là lệch bội của mô u; xii) Những bất thường di 
truyền phân tử hoặc bất thường bộ nhiễm sắc 
thể không đồng nhất trong các u. Halperin và 
cộng sự đã nhận thấy rằng, 62,5% các trường 
hợp đồng ung thư nguyên phát tử cung buồng 
trứng có thể chẩn đoán được bằng các thụ thể 
nội tiết (ER, PR) và 31,3% được xác định bởi sự 
có mặt của Bcl-2 [5]. Kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy: Đối với ung thư nội mạc tử 
cung, ung thư týp dạng nội mạc và týp thanh 
dịch là phổ biến nhất, chiếm lần lượt 70,4% và 
18,5%. Ngoài ra, gặp 2 týp chiếm tỷ lệ thấp 
hơn là ung thư biểu mô tế bào sáng (7,4%) và 
ung thư biểu mô liên kết (3,7%). Đối với ung thư 
buồng trứng cũng có kết quả tương tự, hai týp 
ung thư dạng nội mạc và thanh dịch chiếm đa 
số các trường hợp với tỷ lệ lần lượt là 63,0% và 
22,2 %. Các týp ung thư biểu mô khác ít gặp 
hơn chỉ chiếm tổng cộng 14,7%.
Theo các nghiên cứu trước đây [1] tuổi trung 
bình của các bệnh nhân có đồng ung thư nguyên 
phát ở tử cung và buồng trứng trẻ hơn các bệnh 
nhân có ung thư buồng trứng hoặc tử cung đơn 
độc, tuổi trung bình ở ung thư buồng trứng hoặc 
tử cung là 60 tuổi. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, tuổi trung bình bệnh nhân là 49 năm. Triệu 
chứng và dấu hiệu lâm sàng của đồng ung thư 
nội mạc tử cung và buồng trứng tương tự như 
ung thư nội mạc tử cung và buồng trứng độc 
lập, chảy máu bất thường âm đạo và khối u 
bụng là những triệu chứng chính. Tương tự các 
kết quả đã được thông báo trong y văn, triệu 
chứng xuất hiện phổ biến trong nghiên cứu này 
là ra máu âm đạo bất thường (65,12%), khối 
u bụng (25,58%), đau và đầy bụng (39,53%). 
Phẫu thuật cắt tử cung, hai phần phụ và mạc nối 
lớn là phương pháp điều trị chính cho ung thư 
nội mạc tử cung và buồng trứng. Ung thư đồng 
thời nội mạc tử cung và buồng trứng nguyên 
thường bị chẩn đoán sai như giai đoạn III của 
ung thư nội mạc tử cung hoặc giai đoạn II của 
ung thư buồng trứng, do đó bệnh nhân thường 
bị điều trị quá mức. Trong nghiên cứu, hầu hết 
các trường hợp ung thư tử cung, buồng trứng đều 
được chẩn đoán và điều trị ở giai đoạn I chiếm 
tỷ lệ lần lượt là 74,1% và 85,2%. Chỉ có 2 trường 
hợp ung thư tử cung ở giai đoạn III và 2 trường 
hợp ung thư buồng trứng ở giai đoạn III và IV. 
Điều trị bệnh nhân ung thư buồng trứng nói 
chung dựa trên hóa trị bằng phác đồ paclitaxel 
cộng với cisplatin (TP) hoặc phác đồ cicplatin + 
doxorubicin + cyclophosphamide (PAC) và thời 
gian điều trị từ 2 đến 10 chu kỳ, thường là từ 
3 đến 6 chu kỳ. Tuy nhiên, bệnh nhân ung thư 
buồng trứng giai đoạn I hoặc II không cần hóa 
trị liệu. Năm 1982, Eifel [6] đề xuất rằng những 
bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ sau đây của 
ung thư nội mạc tử cung nên được xạ trị bổ trợ: i) 
týp mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến thanh 
dịch hoặc ung thư biểu mô tuyến vảy; ii) độ ác 
tính II và III; iii) xâm nhập vào sâu vào cơ tử 
cung. Tuy nhiên, điều trị bổ trợ cho những bệnh 
nhân này còn nhiều tranh cãi. Trong nghiên cứu 
của chúng tôi, điều trị phẫu thuật đã được sử 
dụng cho tất cả 27 bệnh nhân. Các bệnh nhân 
này đều đã được hoá trị liệu bổ trợ sau phẫu 
thuật, 2 bệnh nhân được điều trị bổ sung phối 
hợp hoá trị liệu và xạ trị và 3 bệnh nhân được 
hóa trị liệu tân bổ trợ trước phẫu thuật. 
5. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình 
của các bệnh nhân bị đồng thời ung thư tử cung 
và buồng trứng nguyên phát trẻ hơn các trường 
hợp bị ung thư tử cung hoặc buồng trứng đơn 
độc. Triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu. 
Các týp mô bệnh học phổ biến là ung thư biểu 
mô tuyến dạng nội mạc tử cung và thanh dịch. 
Hầu hết các trường hợp được chẩn đoán ở giai 
đoạn sớm.
NGUYỄN THỊ TUYỀN, PHÙNG QUANG THUỶ, ĐÀO DUY QUÂN, LƯU THỊ HỒNG, PHẠM THỊ THANH YÊN, LÊ HOÀNG LINH, 
TRẦN THỊ HẢI YẾN, NGUYỄN ĐÌNH QUYẾT, TRẦN TUẤN VŨ, NGUYỄN VIỆT THẮNG, LÊ QUANG VINH
126
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
P
H
Ụ
 K
H
O
A
Tài liệu tham khảo
1. Zaino R, Whitney C, Brady MF, et. Simultaneously detected endometrial 
and ovarian carcinom-a prospective clinicopathologic study of 74 cases: a 
gynecologic oncoloy group study. Gynecol Oncol. 2011;83:355-62.
2. Ayhan A, Guvenal T, Coskun F, et al. Survival and prognostic factors 
in patients with synchronous ovarian and endometrial cancers and 
endometrial cancer metastatic to the ovaries. Eur J Gynecol Cancer. 
2003;24:171-4.
3. Young RH, Scully RE. Metastasic tumors of the ovary. In: Kurman RJ, 
editor. Blaustein’s Gynecological Pathology of the Female Genital Tract. 
6th edition. Springer; New York: 2002. pp. 987–990.
4. Robert JK, Maria LC, Herrington CS, Robert HY. WHO classification of 
tumours of female reproductive organs. International Agency for Research 
on Cancer. 4th.ed. Lyon,2014.
5. Halperin R, Zehavi S, Hadas E, et al. Simultaneous carcinoma of 
the endometrium and ovary vs endometrial carcinoma with ovarian 
metastases: a clinical and immunohistochemical determination. Int J 
Gynecol Cancer. 2003;13:32–37. 
6. Eifel PJ, Ross J, Hendrickson M, Cox RS, Kempson R, Martinez 
A. Adenocarcinoma of the endometrium. Analysis of 256 cases with 
disease limited to the uterine corpus: treatment comparisons. Cancer. 
1983;52:1026–1031

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_giai_phau_benh_ung_thu_nguyen_phat_dong_th.pdf