Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tic: khảo sát trên 75 bệnh nhi Bệnh viện Nhi Đồng 2

Đặt vấn đề: Rối loạn Tic là những vận động hoặc âm thanh bất ngờ, nhanh, lặp lại và không có nhịp điệu,

thường gặp ở trẻ em, gồm ba dạng là rối loạn Tic tạm thời, mạn tính và Tourette. Khảo sát các đặc điểm về tuổi,

giới tính, tiền căn, triệu chứng Tic, dạng Tic và rối loạn tăng động kém chú ý (ADHD) đồng mắc giúp ích cho

thực hành chẩn đoán và tiên lượng.

Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ, đặc điểm các loại rối loạn Tics và rối loạn tăng động kém chú ýđồng mắc ở bệnh nhi

mắc rối loạn Tic.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 75 trẻ dưới 16 tuổi được chẩn

đoán rối loạn Tic theo tiêu chuẩn của DSM-5, tại phòng khám của bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 2 đến tháng 6

năm 2020.

pdf 7 trang phuongnguyen 620
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tic: khảo sát trên 75 bệnh nhi Bệnh viện Nhi Đồng 2", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tic: khảo sát trên 75 bệnh nhi Bệnh viện Nhi Đồng 2

Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tic: khảo sát trên 75 bệnh nhi Bệnh viện Nhi Đồng 2
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 87
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA RỐI LOẠN TIC: 
KHẢO SÁT TRÊN 75 BỆNH NHI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 
Phạm Hải Uyên1, Nguyễn Lê Trung Hiếu1,2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Rối loạn Tic là những vận động hoặc âm thanh bất ngờ, nhanh, lặp lại và không có nhịp điệu, 
thường gặp ở trẻ em, gồm ba dạng là rối loạn Tic tạm thời, mạn tính và Tourette. Khảo sát các đặc điểm về tuổi, 
giới tính, tiền căn, triệu chứng Tic, dạng Tic và rối loạn tăng động kém chú ý (ADHD) đồng mắc giúp ích cho 
thực hành chẩn đoán và tiên lượng. 
Mục tiêu: Khảo sát tỉ lệ, đặc điểm các loại rối loạn Tics và rối loạn tăng động kém chú ýđồng mắc ở bệnh nhi 
mắc rối loạn Tic. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 75 trẻ dưới 16 tuổi được chẩn 
đoán rối loạn Tic theo tiêu chuẩn của DSM-5, tại phòng khám của bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 2 đến tháng 6 
năm 2020. 
Kết quả: Tỉ lệ rối loạn Tic tạm thời, Tic vận động mạn tính, Tic âm thanh mạn tính và Tourette lần lượt là 
5,3% 49,3%, 1,3% và 44,0%. Tỉ lệ nam/nữ là 4,7. Tuổi trung bình là 8,6 tuổi. Tiền căn sanh khó/sanh ngạt gặp 
ở trẻ rối loạn Tourette. Tỉ lệ ADHD phối hợp là 33,3%. Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất trong nhóm có 
ADHD cao hơn không có ADHD. 
Kết luận: Trẻ trai, tiền căn sinh khó/sinh ngạt và tuổi xuất hiện triệu chứng xấu nhất có thể là yếu tố nguy 
cơ tiềm ẩn của rối loạn Tic và Tourette. Cần khảo sát ADHD đồng mắc ở trẻ mắc rối loạn Tic. 
Từ khóa: rối loạn tic, rối loạn Tourette, ADHD 
ABSTRACT 
CLINICAL CHARACTERISTICS OF TIC DISORDER: SURVEY IN 75 CHILDREN AT CHILDREN'S HOSPITAL 
2 
Pham Hai Uyen, Nguyen Le Trung Hieu 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 87 - 93 
Background: Tic disorder which is sudden, rapid, repetitive and irrhythmic movements or sounds is 
common in children, including the three clinical types: transient Tic disorder, chronic Tic disorder and Tourette 
disorder. Survey of characteristics of age, sex, history, symptoms of Tic and comobility as attention deficit 
hyperactivity disorder helps in diagnostic and prognostic practice. 
Objectives: To investigate the rate and characteristics of types of Tic disorders and ADHD comobility in 
children with Tic disorder. 
Methods: Descriptive research on 75 children under 16 years old diagnosed with Tic disorder according to 
the standards of DSM-5, at Children's Hospital 2 clinic from February to June. 2020. 
Results: The rates of transient Tics disorder, chronic motor Tic disorder, chronic vocal Tic disorder and 
Tourette disorder were 5.3% 49.3%, 1.3% and 44.0%, respectively. The male/female ratio is 4.7. The average age 
is 8.6 years old. History of difficult birth/asphyxia has been reported in children with Tourette disorder. The rate 
of ADHD comobility is 33.3%. The age at which symptom of Tics are worst in group with ADHD is higher than 
in group without ADHD comobility. 
1Khoa Thần kinh, BV Nhi Đồng 2 2Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 
Tác giả liên lạc: BS. Phạm Hải Uyên ĐT: 0988961665 Email: [email protected] 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 88
Conclusion: Boys, a history of difficult/asphyxia and the age at which symptoms are worst may be potential 
risk factors for Tic and Tourette disorders. It is necessary to investigate ADHD comobility in children with Tic 
disorder. 
Keywords: tic disorder, Tourette disorder, ADHD 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Rối loạn Tic là những vận động hoặc âm 
thanh bất ngờ, nhanh, lặp lại và không có nhịp 
điệu, thường gặp ở trẻ em, bao gồm Tic đơn giản 
và Tic phức tạp. Tic đơn giản thường gặp, với tỉ 
lệ lưu hành khoảng 6-12% trong dân số(1,2). 
Theo DSM-5, rối loạn Tic được chia thành 3 
thể lâm sàng chính là rối loạn Tic tạm thời 
(transient Tic disoder, TTD), rối loạn Tic mạn 
tính và rối loạn Tourette (Tourette disorder, TD). 
Rối loạn Tic mạn tính gồm rối loạn Tic vận động 
mạn tính (chronic motor Tic disorder, CMTD) và 
rối loạn Tic âm thanh mạn tính (chronic vocal Tic 
disorder, CVTD)(3). Tỉ lệ CMTD dao động từ 3 - 
8/1000 trẻ. Rối loạn Tourette có thể gặp ở mọi 
quốc gia, chủng tộc, với tỉ lệ hiện mắc dao động 
từ 0,3 - 1%, tùy nghiên cứu, và có thể tăng lên 
1,06%, nếu chỉ xét dân số nam(4,5). 
Các rối loạn đồng mắc như tăng động kém 
chú ý (attention deficit hyperactivity disorder, 
ADHD), rối loạn ám ảnh cưỡng chế và các vấn 
đề tâm lí và phát triển khác cũng là vấn đề được 
nhiều tác giả trên thế giới quan tâm do các rối 
loạn này gây ảnh hưởng đến trẻ và gia đình(6). 
Tại Việt Nam, rối loạn Tic thường gặp và 
luôn là nỗi lo của thân nhân bệnh nhi. Chúng tôi 
thực hiện khảo sát điểm lâm sàng của rối loạn 
Tic với mục tiêu sau: 
- Khảo sát tỉ lệ và đặc điểm các loại rối loạn 
Tic ở trẻ em. 
- Khảo sát ADHD đồng mắc ở bệnh nhân rối 
loạn Tic. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Bệnh nhi đến khám tại phòng khám Thần 
kinh bệnh viện Nhi Đồng 2 từ tháng 2/2020 đến 
tháng 6/2020, được chẩn đoán rối loạn Tic. 
Tiêu chuẩn chọn vào 
Trẻ từ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi. 
Có video hoặc biểu hiện rối loạn Tic ngay lúc 
khám, thỏa tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tic 
theo DSM-5. 
Không có chậm phát triển tâm thần vận động. 
Không có bệnh lý não kèm theo. 
Tiêu chẩn loại ra 
Thân nhân không hoàn tất khảo sát. 
Trẻ không được khám tâm lí để chẩn đoán 
ADHD đồng mắc. 
Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tourette (TD) 
theo DSM-5 
A. Tồn tại một lúc nhiều Tic vận động và 
một hoặc nhiều Tic âm thanh trong thời gian 
bệnh, không cần xảy ra đồng thời. 
B. Tic có thể tăng hoặc giảm về tần số nhưng 
kéo dài hơn một năm kể từ thời điểm khởi phát. 
C. Khởi phát trước 18 tuổi. 
D. Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng 
sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình 
trạng bệnh lý khác. 
Rối loạn Tic vận động hoặc âm thanh kéo dài (mạn 
tính) DSM-5 
A. Tồn tại Tic vận động hoặc âm thanh đơn 
giản hay nhiều kiểu, nhưng không đồng thời 
xuất hiện Tic vận động và âm thanh. 
B. Tic có thể tăng hoặc giảm về tần số nhưng 
kéo dài hơn 1 năm kể từ thời điểm khởi phát. 
C. Khởi phát trước 18 tuổi. 
D. Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng 
sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình 
trạng bệnh lý khác. 
E. Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn 
Tourette. 
Rối loạn Tic tạm thời DSM-5 
A. Tic âm thanh và/hoặc vận động đơn giản 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 89
hoặc nhiều kiểu. 
B. Tic tồn tại ít hơn 1 năm kể từ thời điểm 
khởi phát. 
C. Khởi phát trước 18 tuổi. 
D. Rối loạn xảy ra không phải do ảnh hưởng 
sinh lý của chất gây nghiện hoặc những tình 
trạng bệnh lý khác. 
E. Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn 
Tourette’s hoặc rối loạn Tic vận động hoặc âm 
thanh kéo dài (mạn tính). 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu báo cáo hàng loạt ca. 
Kỹ thuật chọn mẫu 
Chọn mẫu thuận tiện. 
Các bước tiến hành 
Bệnh nhân đến khám thỏa tiêu chuẩn chọn 
và tiêu chuẩn loại trừ được mời tham gia nghiên 
cứu và khảo sát các biến cần cho nghiên cứu, ghi 
vào bệnh án nghiên cứu. 
Các biến nghiên cứu 
Khảo sát các đặc điểm tuổi, giới tính, sinh 
nhẹ cân, sanh khó/sanh ngạt, cha/mẹ đã từng 
hay hiện mắc, anh/chị/em đã từng hay hiện mắc, 
mẹ hút thuốc lá trong thai kỳ bằng cách khai 
thác trực tiếp. Tiền sử sinh nhẹ cân (được định 
nghĩa là cân nặng lúc sanh <2500 gram theo Tổ 
Chức Y Tế Thế Giới). 
Khảo sát các đặc điểm triệu chứng Tics 
gồm: tuổi xuất hiện triệu chứng Tic đầu tiên 
được tính từ lúc sinh ra đến khi có triệu chứng 
Tic đầu tiên. Cách khởi phát từ từ hay đột 
ngột. Thời gian bắt đầu có triệu chứng đến nay 
được tính từ lúc có triệu chứng Tic đầu tiên 
đến lúc khám. Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic 
xấu nhất được tính từ lúc sinh ra đến khi có 
triệu chứng Tic xấu nhất. 
Chẩn đoán TTD, CMTD, CVTD, TD theo 
tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn Tic của DSM-5. 
ADHD đồng mắc được chẩn đoán bởi 
chuyên viên tâm lí khoa Tâm lí bệnh viện Nhi 
Đồng 2. theo tiêu chuẩn DSM-5. 
Thu thập và xử lý dữ liệu 
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và 
xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0. Các biến định 
tính sẽ được phân nhóm và tính phần trăm. 
Các biến định lượng sẽ được tính bằng trung 
bình và độ lệch chuẩn hoặc trung vị và khoảng 
tứ phân vị. Khi so sánh sự khác biệt thì dùng 
phép kiểm Chi bình phương (χ2) đối với các 
biến định tính. Khi so sánh sự khác biệt giữa 2 
nhóm thì dùng phép kiểm t với các biến định 
lượng. Ngưỡng giá trị p <0,05. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Bệnh 
viện Nhi Đồng 2, số 1658/NĐ2-CĐT, ngày 
24/12/2019. 
KẾT QUẢ 
Chúng tôi thu thập được 75 bệnh nhân tuổi 
từ 4 – 16 mắc rối loạn Tics. Tỉ lệ nam/nữ là 4,7. 
Nhóm tuổi 6 – 11 chiếm đa số (88%), khác biệt 
giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê 
(Bảng 1). 
Bảng 1: Tuổi và nhóm tuổi theo giới tính (n = 75) 
 Nữ (n = 13) Nam (n = 62) Giá trị p 
Tuổi (năm) 
8,8 ± 2,2 
(6,0 - 12,0) 
8,5 ± 2,0 
(5,0 - 14,0) 
0,62
a
Nhóm tuổi 
0,59
b
4-5 0 (0,0%) 2 (3,2%) 
6-11 11 (84,6%) 55 (88,7%) 
12-15 2 (15,4%) 5 (8,1%) 
aPhép kiểm t hai nhóm bPhép kiểm chính xác Fisher 
Tỉ lệ các rối loạn Tic 
Phân loại theo triệu chứng của rối loạn Tic: 
Có 74/75 (98,7%) bệnh nhân có biểu hiện Tic vận 
động. Có 34/75 (45,3%) bệnh nhân có biểu biện 
Tic âm thanh, trong số này chỉ có 1/34 bệnh nhân 
chỉ biểu hiện Tic âm thanh đơn thuần, còn lại 
33/34 bệnh nhân có Tic âm thanh có kèm biểu 
hiện Tic vận động. 
Phân loại chẩn đoán rối loạn Tic theo DSM-5: 
Có 4/75 bệnh nhân (5,3%) rối loạn Tic thoáng 
qua, 38/75 (50,6%) bệnh nhân có rối loạn Tic mạn 
tính trong đó có 37 bệnh nhân mắc CMTD và 
33/75 (44%) bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chẩn 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 90
đoán rối loạn Tourette (TD) (Hình 1). 
Hình 1: Tỉ lệ các rối loạn Tic 
Các đặc điểm tuổi và giới tính 
Bảng 2: Đặc điểm tuổi và giới tính giữa các nhóm 
(n = 75) 
Rối loạn Tic 
(n = 75) 
Nhóm không 
TD (n = 42) 
TD 
(n = 33) 
p 
Giới tính 
0,89
a
 Nữ 13 (17,3%) 8 (19,0%) 5 (15,2%) 
Nam 62 (82,7%) 34 (81,0%) 28 (84,8%) 
Tuổi 
8,6 ± 2,0 
(5,0 - 14,0) 
8,7 ± 2,3 
8,4 ± 1,7 
(6,0 – 12,0) 
0,72
b
Nhóm tu 
0,10
c
4-5 2 (2,7%) 2 (4,8%) 0 (0,0%) 
6-11 66 (88,0%) 34 (81,0%) 32 (97,0%) 
12-15 7 (9,3%) 6 (14,3%) 1 (3,0%) 
aPhép kiểm Chi bình phương bPhép kiểm t hai nhóm, 
 cPhép kiểm chính xác Fisher 
Tỉ lệ nam trong nhóm rối loạn Tic, chưa đủ 
tiêu chuẩn chẩn đoán TD và nhóm TD đều trên 
80%. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 
về giới tính, tuổi trung bình, độ tuổi giữa nhóm 
không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán TD với nhóm 
TD với p >0,05 (Bảng 2). 
Các đặc điểm tiền căn 
Đa số trẻ không có có yếu tố nhẹ cân, sinh 
khó/sinh ngạt, cha/mẹ/anh/chị/em hiện mắc TD. 
Có 6 bệnh nhân có tiền sử nhẹ cân, 2/6 trẻ 
này là TD, khác biệt không có ý nghĩa thống kê. 
Có 5 bệnh nhân sanh khó/sanh ngạt và các 
bệnh nhân này đều mắc TD, khi so sánh hai nhóm 
không chẩn đoán TD và TD, ghi nhận p <0,05. 
Có 4 bệnh nhân có cha/mẹ từng hay hiện 
mắc CMTD, 2/4 được chẩn đoán TD, không có 
sự khác biệt giữa hai nhóm. 
Có 1 bệnh nhân (1,3%) có mẹ hút thuốc lá trong 
thai kì, và bệnh nhân này được chẩn đoán TD. 
Bảng 3: Đặc điểm về tiền căn giữa các nhóm (n = 75) 
Rối loạn Tic 
(n = 75) 
Nhóm không 
TD (n = 42) 
TD 
(n = 33) 
Giá trị p 
Sanh non/nhẹ cân 
0,69
a
 Không 69 (92,0%) 38 (90,5%) 31 (93,9%) 
Có 6 (8,0%) 4 (9,5%) 2 (6,1%) 
Sanh khó/ sanh ngạt 
0,014
a
 Không 70 (93,3%) 42 (100,0%) 28 (84,8%) 
Có 5 (6,7%) 0 (0,0%) 5 (15,2%) 
Cha/mẹ từng hay hiện mắc CMTD 
>0,99
a
 Không 71 (94,7%) 40 (95,2%) 31 (93,9%) 
Có 4 (5,3%) 2 (4,8%) 2 (6,1%) 
Cha/mẹ từng hay hiện mắc CVTD >0,99
a
Mẹ hút thuốc lá trong thai kỳ 
0,44
a
 Không 74 (98,7%) 42 (100,0%) 32 (97,0%) 
Có 1 (1,3%) 0 (0,0%) 1 (3,0%) 
aPhép kim chính xác Fisher bPhép kim Chi 
bình phng 
Các đặc điểm triệu chứng 
Trong nhóm rối loạn Tic: tuổi xuất hiện triệu 
chứng đầu tiên của Tic từ 2- 11 tuổi, trung bình 
là 6,2, 73,3% khởi phát từ từ, đa phần trên 12 
tháng trước khi đến khám. Tuổi xuất hiện triệu 
chứng Tic xấu nhất dao động từ 3-13 tuổi, với 
tuổi trung bình là 7,8 tuổi. 
Trong nhóm không chẩn đoán TD và nhóm 
TD có các đặc điểm triệu chứng tương đồng với 
dân số chung. 
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về 
các đặc điểm triệu chứng giữa 2 nhóm không đủ 
tiêu chuẩn chẩn đoán TD và TD. 
Bảng 4: Đặc điểm triệu chứng Tic (n = 75) 
 Rối loạn Tic (n = 75) Nhóm không TD (n = 42) TD (n = 33) Giá trị p 
Tuổi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của Tic 6,2 ± 1,9 (2,0 - 11,0) 6,3 ± 2,0 5,9 ± 1,7 (3,0-10,0) 0,42
a
Khởi phát 
0,60
b
 Từ từ 55 (73,3%) 32 (76,2%) 23 (69,7%) 
Đột ngột 20 (26,7%) 10 (23,8%) 10 (30,3%) 
Thời gian bắt đầu có triệu chứng đến thời điểm nghiên cứu 0,38
c
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 91
 Rối loạn Tic (n = 75) Nhóm không TD (n = 42) TD (n = 33) Giá trị p 
<12 tháng 5 (6,7%) 4 (9,5%) 1 (3,0%) 
≥12 tháng 70 (93,3%) 38 (90,5%) 32 (97,0%) 
Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất 7,8 ± 2,0 (3,0 - 13,0) 7,8 ± 2,1 7,8 ± 1,9 (3,0-12,0) 0,77
a
a Phép kiểm t hai nhóm bPhép kiểm Chi bình phương cPhép kiểm chính xác Fisher 
ADHD đồng mắc 
Có 25/75 (33,3%) bệnh nhân rối loạn Tics có 
ADHD đồng mắc, có 12/33 (36,4%) bệnh nhân 
rối loạn Tourrete có ADHD đồng mắc. 
Khi phân tích các đặc điểm về độ tuổi, giới 
tính, tiền căn nhẹ cân, sinh khó/sinh ngạt, 
cha/mẹ/anh/chị/em mắc TD khi phân tích giữa 
nhóm có ADHD và không ADHD trên 75 trẻ rối 
loạn Tics và trên 33 trẻ TD, chúng tôi không ghi 
nhận được sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. 
Khi phân tích các đặc điểm triệu chứng, bao 
gồm vận động, âm thanh, tuổi khởi phát triệu 
chứng đầu tiên, cách khởi phát, tuổi xuất hiện 
triệu chứng xấu nhất, chẩn đoán Tic tạm thời, 
CMTD, CVTD, TD chúng tôi ghi nhận không ghi 
nhận sự khác biệt có ý nghĩa giữa nhóm có 
ADHD và không ADHD trên 75 bệnh nhân rối 
loạn Tics và 33 bệnh nhân TD (Bảng 5). 
ADHD với p = 0,038. 
Bảng 5: So sánh đặc điểm lâm sàng hai nhóm không 
và có ADHD đồng mắc 
Không ADHD 
n = 50 
Có ADHD 
n = 25 
Giá trị 
p 
Kiểu rối loạn Tic 
0,87
a
Vận động 28 (56,0%) 13 (52,0% 
Âm thanh 1 (2%) 0 
Cả hai 21 (42%) 12 (48%) 
Tuổi xuất hiện triệu 
chứng đầu tiên 
6,2 ± 1,9 6,1 ± 1,9 0,65
b
Thời gian có triệu chứng 
0,16
a
 < 12 tháng 5 (10%) 0 
≥12 tháng 45 (90%) 25 (100%) 
Tuổi xuất hiện triệu 
chứng xấu nhất 
7,7 ± 1,9 8,2 ± 2,2 0,52
b
Chẩn đoán Tic 
0,95
a
TTD 3 (6%) 1 (4%) 
CMTD 25 (50%) 12 (48%) 
CVTD 1 (2%) 0 
TD 21 (42%) 12 (48%) 
aPhép kiểm chính xác Fisher bPhép kiểm t hai nhóm, 
cPhép kiểm Chi bình phương 
Tuy nhiên, khi phân tích riêng nhóm TD, 
chúng tôi ghi nhân có sự khác biệt về tuổi xuất 
hiện triệu chứng xấu nhất, nhóm có ADHD cao 
hơn nhóm không ADHD (Bảng 6). 
BÀN LUẬN 
Tuổi và giới tính 
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ khảo sát trẻ 4 – 
16 tuổi, ghi nhận tuổi trung bình là 8,6 tuổi, với 
lứa tuổi cấp 1 chiếm đa số, 88%. Trong nhóm 
TD, tuổi phân bố từ 6-12 tuổi, với độ tuổi trung 
bình là 8,4 tuổi, phân bố tương tự với độ tuổi cấp 
1 chiếm 97%. Kết quả này tương đương với 
nghiên cứu của tác giả Phạm Quỳnh Diệp (2003) 
khảo sát trên 71 trẻ rối loạn Tic từ 2-16 tuổi, với 
tuổi trung bình 8,5 tuổi(1). Nghiên cứu Nagy P 
(2020) khảo sát trên 137 bệnh nhân TD trong độ 
tuổi 3-18, tuổi trung bình của TD là 8,8 tuổi(1). Sự 
khác biệt giữa các nhóm tuổi không được ghi 
nhận trong nghiên cứu của chúng tôi, tuy nhiên, 
nghiên cứu cộng đồng của Yang C (2016) ghi 
nhận có sự khác biệt(6). 
Nam chiếm đa số với 62 bệnh nhân, chiếm 
82,7%; nữ có 13 bệnh nhân, chiếm 17,3%. Tỉ lệ 
nam/nữ = 4,7. Đối với nhóm TD, nam cũng 
chiếm đa số với 84,8%, nữ chiếm 15,2%. Tỉ lệ 
nam/nữ = 5,6. Kết quả này tương đồng với theo 
nghiên cứu của tác giả Phạm Quỳnh Diệp (2003) 
ghi nhận tỉ lệ nam/nữ là 5,5(1). Yang C (2016) ghi 
nhận tỉ lệ này là 2,22-3,68 đối với TTD; 1,57-2,79 
đối với CTD, và 2,17-10,6 đối với TD, với sự khác 
biệt về giới có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm 
rối loạn Tic cũng như TD(6). Đối với nhóm TD, 
theo các báo cáo từ các mẫu lâm sàng cho thấy tỉ 
lệ nam/nữ của TD từ 3-4:1. 
Liên quan giữa đặc điểm tuổi và giới: không 
ghi nhận sự khác biệt về giới tính giữa các nhóm 
độ tuổi khác nhau. Nagy P (2020) cũng không 
ghi nhận sự khác biệt này(1). 
So sánh nhóm rối loạn Tic với nhóm TD: 
Nghiên cứu của chúng tôi và các nghiên cứu lớn 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 92
trong cộng đồng như Kraft JT (2012)(7), Yang C 
(2016)(6) đều không ghi nhận có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê về các đặc điểm dịch tễ học như 
giới tính, tuổi trung bình, độ tuổi giữa hai nhóm. 
Các đặc điểm liên quan đến tiền căn 
Sanh non/nhẹ cân: nghiên cứu của Burd 
(1999) so sánh 92 bệnh nhân Tic và 420 người 
nhóm chứng ghi nhận sanh non/nhẹ cân là một 
yếu tố nguy cơ của TD(8). Mathews CA (2014) lần 
đầu tiên tiến hành nghiên cứu hồi cứu với qui 
mô lớn tìm các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn của môi 
trường đối với CTD và TD, sử dụng ngưỡng kết 
hợp ở p <0,05 trong mô hình đa biến không tìm 
thấy mối liên quan giữa TD hay CTD với trẻ sơ 
sinh sanh non/ nhẹ cân(9). 
Sanh khó/sanh ngạt: có 5 bệnh nhân sanh 
khó/sanh ngạt chiếm (6,7%). Burd L (1999) cho 
rằng sanh khó/sanh ngạt là một yếu tố nguy cơ 
của CTD hay TD(8). Mathews CA (2014) không 
tìm thấy mối liên quan giữa TD hay CTD với 
yếu tố biến chứng khi sanh như sanh khó/sanh 
ngạt(9). Chúng tôi ghi nhận cả 5 trẻ sinh khó sinh 
ngạt đều trong nhóm TD. 
Theo y văn, người thân thế hệ thứ 1 của các 
bệnh nhân ảnh hưởng có nguy cơ tăng gấp 5-15 
lần mắc phải TD so với dân số chung. Tuy nhiên, 
trong nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận 
tỉ lệ tương đồng này. Nagy P (2020) cho rằng sự 
hiện diện của chẩn đoán rối loạn Tic hay bệnh 
tâm thần đi kèm ở những người thân thế hệ thứ 
1 của các bệnh nhân rối loạn Tic không có sự 
khác biệt giữa nhóm TD hay không TD. 
Tiền căn mẹ hút thuốc lá trong thai kì: 
Mathews CA (2014) không ghi nhận đặc điểm 
này là một trong những yếu tố nguy cơ của rối 
loạn Tic trẻ em, nhưng trong nghiên cứu của ông 
trước đó, năm 2006, thì ghi nhận có sự liên 
quan(9). Phụ nữ Việt Nam ít hút thuốc lá hơn so 
với phương Tây, nên đặc điểm này không được 
ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi. 
Các đặc điểm liên quan đến triệu chứng 
Kiểu Tic: chủ yếu là rối loạn Tic vận động 
với 74 bệnh nhân (98,7%); Tic âm thanh có 34 
bệnh nhân (45,3%); kết hợp cả 2 kiểu Tic vận 
động và âm thanh có 33 bệnh nhân (44%). Điều 
này tương đồng với các khảo sát về rối loạn Tic, 
cũng như TD trên thế giới, nhận thấy Tic vận 
động đơn giản là rối loạn Tic thường gặp nhất 
gồm chớp mắt, nhún vai, hoặc giật vùng đầu cổ. 
Tic phức tạp có đặc điểm của các vận động có 
mục đích và phối hợp của nhiều nhóm cơ, ví dụ 
vỗ tay, bước đi với đặc điểm cố định và đạp xe. 
Tic âm thanh đơn giản hay Tic phát âm được đặc 
trưng bởi các âm thanh ngắn như hắng giọng, ho 
hoặc khụt khịt mũi. 
Tuổi xuất hiện triệu chứng đầu tiên của Tic 
dao động từ 2 - 11 tuổi, với tuổi trung bình là 6,2 
tuổi. Trong nhóm TD, tuổi xuất hiện triệu chứng 
đầu tiên dao động từ 3-10 tuổi, với tuổi trung 
bình xuất hiện triệu chứng đầu tiên là 5,9 tuổi. 
Freemann RD (2000) khảo sát trên 3500 người ở 
22 quốc gia, cho thấy triệu chứng rối loạn Tic xảy 
ra trước 18 tuổi, điển hình khởi phát từ 4-8 tuổi, 
và tuổi khởi phát trung bình là 6 tuổi(10). Nagy P 
(2020) cũng cho thấy tuổi xuất hiện triệu chứng 
đầu tiên của TD là 5,9. 
Cách khởi phát đa số triệu chứng Tic khởi 
phát từ từ (73,3%). Trong nhóm TD, cũng ghi 
nhận tính chất tương tự, với khởi phát từ từ 
chiếm 69,7%. Các tác giả khác trên thế giới, cho 
rằng Tic vận động thường tiến triển liên tục theo 
thời gian, Tic âm thanh thường phát triển từ 1-2 
năm sau khi bắt đầu Tic vận động. 
Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic xấu nhất: 
dao động từ 3-13 tuổi, với tuổi trung bình là 
7,8 tuổi. Trong nhóm TD, tuổi xuất hiện triệu 
chứng Tic xấu nhất dao động từ 3-12 tuổi, với 
tuổi trung bình là 7,8 tuổi. Y văn cũng ghi 
nhận độ nặng của triệu chứng Tic nặng dần và 
đạt đến đỉnh vào khoảng tuổi 10-12, sau đó 
giảm dần và một số tự thoái lui ở giai đoạn 
muộn của tuổi thiếu niên. 
ADHD đồng mắc 
Các triệu chứng tăng động kém chú ý (kém 
chú ý, tăng động-bốc đồng, hoặc cả hai) thường 
xuất hiện trước khi Tic khởi phát từ 2-3 năm. Ở 
những bệnh nhân Tic, sự thêm vào các triệu 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Thần Kinh - Da Liễu 93
chứng của ADHD có tương quan với việc tăng 
sự suy giảm khả năng lên kế hoạch, trí nhớ công 
việc, khả năng điều hòavà tăng khó khăn về tâm 
lý xã hội và trường học, tính hung hăng, hành vi 
gián đoạn, các vấn đề về cảm xúc, tổn thương 
chức năng, và mất khả năng học hỏi. 
Bảng 6: Tỉ lệ ADHD đồng mắc 
 ADHD Không ADHD 
Nagy P (2020)
(1)
 31% 69% 
Kraft JT (2011)
(7)
 38,4% 61,6% 
Specht MW(2011)
(11)
 26% 74% 
Phạm Quỳnh Diệp (2003)
(1)
 40,8% 59,2% 
Chúng tôi (2020) 36,4% 63,6% 
Chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê giữa 2 nhóm có hay không có 
bệnh ADHD phối hợp về tuổi xuất hiện triệu 
chứng Tic xấu nhất, với nhóm có ADHD xuất 
hiện trễ hơn ở độ tuổi trung bình 8,8 tuổi, trong 
khi nhóm không ADHD tuổi trung bình là 7,3 
tuổi, tương đồng với nghiên cứu Roessner V 
(2007)(12). 
KẾT LUẬN 
Qua nghiên cứu khảo sát đặc điểm lâm sàng 
của 75 bệnh nhi mắc rối loạn Tic tại bệnh viện 
Nhi Đồng 2, từ tháng 2/2020 đến tháng 6/2020, 
chúng tôi có một số kết luận sau: 
- Tỉ lệ rối loạn Tic tạm thời, rối loạn Tic vận 
động mạn tính, rối loạn Tic âm thanh mạn tính 
và rối loạn Tourette lần lượt là 5,3% 49,3%, 1,3% 
và 44,0%. 
- Tỉ lệ nam/nữ là 4,7 cho toàn bộ nhóm 
nghiên cứu; riêng rối loạn Tourette, tỉ lệ này là 
5,6. 
- Tuổi phân bố từ 5-14 tuổi, tuổi trung bình là 
8,6 tuổi; nhóm rối loạn Tourette có tuổi trung 
bình là 8,4 tuổi. Tuổi xuất hiện triệu chứng Tic 
xấu nhất dao động từ 3-13 tuổi. 
- Tiền căn sanh khó/sanh gặp ở trẻ rối loạn 
Tourette cao hơn so với nhóm không rối loạn 
Tourette. Các đặc điểm về tuổi, giới tính, tiền căn 
và triệu chứng Tic không có sự khác biệt giữa 
nhóm không Tourette và có Tourette. 
- Tỉ lệ ADHD đồng mắc là 33,3%; trong 
nhóm rối loạn Tourette là 36,4%. Không có sự 
khác biệt về tuổi, giới tính, tiền căn nhẹ cân và 
các đặc điểm triệu chứng và loại rối loạn Tic 
giữa nhóm có ADHD và không ADHD. Đối 
với rối loạn Tourette, tuổi xuất hiện triệu 
chứng Tic xấu nhất ở nhóm có ADHD cao hơn 
nhóm không ADHD. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nagy P, Bognár E, Farkas L, et al (2020). Clinical characteristics 
of children with Tourette's Syndrome. Psychiatr Hung, 35(1):37-
45. 
2. Phạm Quỳnh Diệp, Đào Trần Thái, Nguyễn Văn Nuôi (2003). 
Khảo sát các biểu hiện lâm sàng và hiệu quả điều trị ban đầu 
rối loạn Tic trên trẻ em. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(1):254-
260. 
3. Robertson MM (2008). The prevalence and epidemiology of 
Gilles de la Tourette syndrome. Part 1: the epidemiological and 
prevalence studies. J Psychosom Res, 65(5):461-472. 
4. Knight T, Steeves T, Day L, et al (2012). Prevalence of tic 
disorders: a systematic review and meta-analysis. Pediatr 
Neurol, 47(2):77-90. 
5. Scharf JM, Miller LL, Gauvin CA, et al (2015). Population 
prevalence of Tourette syndrome: a systematic review and 
meta-analysis. Mov Disord, 30(2):221-228. 
6. Yang C, Zhang L, Zhu P, Zhu C, Guo Q (2016). The prevalence 
of tic disorders for children in China: A systematic review and 
meta-analysis. Medicine, 95(30):e4354. 
7. Kraft JT, Dalsgaard S, Obel C, (2012). Prevalence and clinical 
correlates of tic disorders in a community sample of school-age 
children. Eur Child Adolesc Psychiatry, 21(1):5-13. 
8. Burd L, Severud R, Klug MG, Kerbeshian J (1999). Prenatal and 
perinatal risk factors for Tourette disorder. J Perinat Med, 
27(4):295-302. 
9. Mathews CA, Scharf JM, Miller LL, et al (2014). Association 
between pre- and perinatal exposures and Tourette syndrome 
or chronic tic disorder in the ALSPAC cohort. Br J Psychiatry, 
204(1):40-45. 
10. Freeman RD, Fast DK, Burd L, Kerbeshian J, et al (2000). An 
international perspective on Tourette syndrome: selected 
findings from 3,500 individuals in 22 countries. Dev Med Child 
Neurol, 42(7):436-447. 
11. Specht MW, Woods DW, Piacentini J, et al (2011). Clinical 
characteristics of children and adolescents with a primary tic 
disorder. J Dev Phys Disabil, 23(1):15-31. 
12. Roessner V, Becker A, Banaschewski T, et al (2007). 
Developmental psychopathology of children and adolescents 
with Tourette syndrome--impact of ADHD. Eur Child Adolesc 
Psychiatry, 16 (Suppl 1):24-35. 
Ngày nhận bài báo: 10/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_cua_roi_loan_tic_khao_sat_tren_75_benh_nhi.pdf