Đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Nghiên cứu được thực hiện trên 91 bệnh nhân mắc

bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại

Bệnh viện Da liễu Trung ương kết quả cho thấy: tỷ lệ nam,

nữ là 33,0% và 67,0%. Mụn trứng cá nhiều nhất trong

nhóm tuổi ≤19 tuổi và 20 – 24 tuổi 42,9%; tuổi trung bình

là 20,8±4,1. 100% bệnh nhân có tổn thương trên mặt trong

đó tổn thương rải rác toàn mặt chiếm tỷ lệ cao nhất 56,0%,

đa phần người bệnh có thời gian mắc bệnh ≥12 tháng với

tỷ lệ 75,8%. Phần lớn bệnh nhân có mức độ tổn thương

trung bình tỷ lệ 95,6%. Có mối liên quan giữa thói quen ăn

đồ ngọt với mức độ tổn thương (p<>

pdf 5 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

Đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại Bệnh viện Da liễu Trung ương
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn44
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện trên 91 bệnh nhân mắc 
bệnh trứng cá thông thường mức độ trung bình và nhẹ tại 
Bệnh viện Da liễu Trung ương kết quả cho thấy: tỷ lệ nam, 
nữ là 33,0% và 67,0%. Mụn trứng cá nhiều nhất trong 
nhóm tuổi ≤19 tuổi và 20 – 24 tuổi 42,9%; tuổi trung bình 
là 20,8±4,1. 100% bệnh nhân có tổn thương trên mặt trong 
đó tổn thương rải rác toàn mặt chiếm tỷ lệ cao nhất 56,0%, 
đa phần người bệnh có thời gian mắc bệnh ≥12 tháng với 
tỷ lệ 75,8%. Phần lớn bệnh nhân có mức độ tổn thương 
trung bình tỷ lệ 95,6%. Có mối liên quan giữa thói quen ăn 
đồ ngọt với mức độ tổn thương (p<0,05). 
Từ khóa: Mụn trứng cá, lâm sàng, da liễu
ABSTRACT:
ClInICAl feATuReS of mIlD AnD moDeRATe 
ACne vulgARIS AT nATIonAl HoSPITAl of 
DeRmATology AnD veneReology
This study was performed on 91 patients who has 
mild and moderate acne vulgaris at National Hospital of 
Dermatology and Venereology, showed that male and 
female rate were 33.0% and 67.0%. Acne vulgaris has 
highest rate in the age group under 19 and from 20 to 24 
years old with 42.9%, the mean age was 20.8±4.1. 100% 
of patients have facial lesions, in which scattered lesions 
in the whole face account for the highest rate of 56.0%, 
most patients have a period of over 12 months with a rate 
of 75.8%. Most patients have an average lesion rate of 
95.6%. There is an association between the habit of eating 
sweets and the severe of acne (p <0.05).
 Keywords: Acne, clinical, dermatology.
I . ĐẶT VẤN ĐỀ
Trứng cá là một bệnh lý của nang lông tuyến bã, thường 
xuất hiện từ tuổi dậy thì và có thể tiến triển mãn tính trong 
nhiều năm. Bệnh thường biểu hiện với những tổn thương 
đa dạng: nhân trứng cá, sẩn, mụn mủ, nốt và nang [1]. Diễn 
biến của bệnh có thể giới hạn, nhưng nếu không được điều 
trị hay điều trị không đúng sẽ để lại những di chứng về sau. 
Nhiều nghiên cứu về bệnh trứng cá cho thấy độ tuổi thường 
gặp là ở nhóm tuổi thanh thiếu niên, chiếm tỷ lệ từ 60 – 90% 
[2], [3], [4]. Độ tuổi trung bình khởi phát bệnh là 17 tuổi [5], 
tỷ lệ mụn trứng cá ở nam giới cao hơn nữ [3], [4]. Theo số 
liệu thống kê tại Bệnh viện Da liễu Trung ương năm 2013, 
số bệnh nhân đến khám vị trứng cá chiếm 14,61% chỉ đứng 
thức hai sau viêm da cơ địa. Bệnh được cho là chịu ảnh 
hưởng của nhiều yếu tố như: yếu tố gia đình [2], chế độ ăn 
[6], tình trạng lo âu, căng thẳng [7], nội tiết [8], tác động cơ 
học [9]... Mặc dù là một bệnh da thông thường không gây 
nguy hiểm nhưng có thể ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng 
cuộc sống và tâm lý của bệnh nhân [3], [10]. Việc hiểu rõ 
về đặc điểm lâm sàng cùng những yếu tố liên quan đến bệnh 
sinh mụn là rất cần thiết cho các bác sĩ trong tiếp cận điều trị 
những bệnh nhân này. Với mong muốn làm rõ thêm về đặc 
điểm dịch tễ học, biểu hiện lâm sàng và các yếu tố liên quan 
đến bệnh, góp phần vào công tác điều trị, giảm nhẹ gánh 
nặng bệnh tật cho bệnh nhân, chúng tôi thực hiện nghiên 
cứu này với mục tiêu: 
“Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông 
thường mức độ trung bình và nhẹ tại Bệnh viện Da liễu 
Trung ương”.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN 
CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân được 
chẩn đoán xác định là trứng cá thông thường tại Bệnh viện 
Da liễu Trung ương. 
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân mắc trứng cá 
thông thường mức độ nhẹ và trung bình theo phân loại của 
Karen Mc Coy [15].
Ngày nhận bài: 10/08/2019 Ngày phản biện: 17/08/2019 Ngày duyệt đăng: 22/08/2019
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CỦA BỆNH TRỨNG CÁ THÔNG 
THƯỜNG MỨC ĐỘ TRUNG BÌNH VÀ NHẸ TẠI BỆNH VIỆN 
DA LIỄU TRUNG ƯƠNG
Phương Quỳnh Hoa1, Trần Lan Anh1,2
1. Bệnh viện Da liễu Trung ương 
2. Trường Đại học Y Hà Nội
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 45
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân mắc trứng cá thuộc 
các thể lâm sàng khác, bệnh nhân bị trứng cá thông thường 
mức độ nặng theo phân loại của Karen Mc Coy [15].
- Tiêu chuẩn chẩn đoán: Chẩn đoán trứng cá thông 
thường chủ yếu dựa vào lâm sàng: thương tổn cơ bản là 
các nhân trứng cá, sẩn viêm, mụn mủ, cục, nang trứng cá, 
thường khu trú ở vùng mặt, ngực, lưng, vai.
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 
● Phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng 
phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn toàn bộ các bệnh 
nhân mắc trứng cá thể thông thường đến khám và điều trị.
● Cỡ mẫu: Có 91 bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu.
- Phân loại mức độ tổn thương: Phân loại dựa trên 
đặc điểm lâm sàng và đếm số lượng tổn thương, chúng tôi 
sử dụng cách chia độ của tác giả Karen McCoy [15]. 
● Mức độ nhẹ: Có dưới 20 thương tổn không viêm, 
hoặc dưới 15 thương tổn viêm hoặc tổng số lượng thương 
tổn dưới 30.
● Mức độ trung bình: Có từ 20 – 100 thương tổn 
không viêm, hoặc 15- 50 thương tổn viêm, hoặc tổn số 
lượng thương tổn từ 30 -125.
● Mức độ nặng: Có trên 5 nang, cục hoặc trên 100 
thương tổn không viêm, hoặc tổng thương tổn viêm trên 
50, hoặc tổng số thương tổn trên 125.
2.3. Phân tích và xử lý số liệu: Số liệu sau khi 
thu thập được kiểm tra, làm sạch, mã hoá và nhập bằng 
phần mềm Epidata 3.2 sau đó xử lý thống kê bằng phần 
mềm Stata 12 bằng các thuật toán thống kê mô tả và 
phân tích.
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu: Nghiên cứu được 
thông qua Hội đồng Nghiên cứu khoa học của Bệnh viện 
Da liễu Trung ương. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm Số lượng(n) Tỷ lệ (%)
Nhóm tuổi
≤19 39 42,9
20 – 24 39 42,9
≥25 14 14,2
TB±ĐLC 20,8±4,1
Giới
Nam 30 33,0
Nữ 61 67,0
Thói quen ăn đồ ngọt
Có 77 84,6
Không 14 15,4
Thói quen thức khuya
Có 65 71,4
Không 26 29,6
Kinh nguyệt
(n=61)
Đều 38 62,3
Không đều 23 37,7
Tiền sử mụn trứng cá gia đình
Có 43 47,3
Không 48 52,7
Tổng 91 100
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy tuổi trung bình 
của đối tượng nghiên cứu là 20,8±4,1; nhóm tuổi ≤19 và 
20 – 24 chiểm tỷ lệ cao nhất 42,9%. Nữ giới chiểm tỷ lệ 
cao hơn nam giới (67,0%). Có 84,6% đối tượng nghiên 
cứu có thói quen ăn đồ ngọt, 71,4% đối tượng có thói quen 
thức khuya. Trong nhóm bệnh nhân nữ có 23/61 bệnh nhân 
có kinh nguyệt không đều. Có 47,3% bệnh nhân có tiền sử 
gia đình mắc mụn trứng cá. 
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn46
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy về vị trí tổn thương, 
tổn thương rải rác toàn mặt chiếm tỷ lệ cao nhất với tỷ lệ 56,0%, 
tiếp theo là má với tỷ lệ 41,8%. Về thời gian mắc bệnh, đa phần 
bệnh nhân có thời gian mắc ≥12 tháng chiếm tỷ lệ 75,8%. 
Bảng 3.2. Đặc điểm về vị trí tổn thương và thời gian mắc bệnh
Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Vị trí tổn thương
Trán 26 28,6
Mũi/ cằm 6 5,5
Má 38 41,8
Rải rác toàn mặt 51 56,0
Thời gian mắc bệnh
<12 tháng 22 24,2
≥12 tháng 69 75,8
Tổng 91 100
Biểu đồ 3.1. Phân loại mức độ tổn thương
Bảng 3.3. Một số yếu tố liên quan đến mức độ bệnh 
Mức độ tổn thương
Đặc điểm
Nhẹ Trung bình Tổng
p
n % n % n %
Nhóm tuổi
≤19 3 7,7 36 92,3 39 100
>0,0520 – 24 0 0 39 100 39 100
≥25 1 7,7 12 92,3 13 100
Giới
Nam 0 0 30 100 30 100
>0,05
Nữ 4 6,6 57 93,4 61 100
Thói quen ăn đồ ngọt
Có 1 1,5 64 98,5 65 100
<0,05
Không 3 11,5 23 88,5 26 100
Thói quen thức 
khuya
Có 3 3,9 74 96,1 77 100
>0,05
Không 1 7,1 13 92,9 14 100
Kinh nguyệt
Đều 2 5,3 36 94,7 38 100
>0,05
Không đều 2 8,7 21 91,3 23 100
Tiền sử mụn trứng cá 
gia đình
Có 3 7,0 40 93,0 43 100
>0,05
Không 1 2,1 47 97,9 48 100
Nhận xét: Kết quả biểu đồ trên cho thấy phần lớn bệnh nhân có tổn thương mức độ vừa (95,6%)
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn 47
VI
N
S
C K
H E
C NG
NG 
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nhận xét: Kết quả bảng trên cho thấy có mối liên 
quan giữa thói quen ăn đồ ngọt với mức độ bệnh, trong đó 
những người có thói quen ăn đồ ngọt có tỷ lệ mức độ tổn 
thương trung bình cao hơn so với những người không có 
thói quen ăn đồ ngọt (p<0,05). 
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên 91 bệnh 
nhân mắc bệnh trứng cá thông thường thể nhẹ và trung 
bình kết quả cho thấy, về tuổi mụn trứng cá gặp nhiều nhất 
trong 2 nhóm tuổi là ≤ 19 tuổi (42,9%) và nhóm 20 – 24 
tuổi (42,9%), trung bình 20,8 ±4,1. Kết quả này so tương 
đồng với tác giả Nguyễn Thị Hồng Nhung nghiên cứu cho 
thấy tỷ lệ mụn trứng cá cao nhất ở lứa tuổi 20 – 24 chiếm 
47,6%[11]. Theo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim tuổi 
trung bình của bệnh nhân tương ứng là 20,08±4,23 [12]. 
Về giới tính kết quả tương đồng với nghiên cứu của tác giả 
Tchiu Bích Xuân với tỷ lệ nữ giới 57,6% [13], tỷ lệ nam 
giới ít hơn nữ giới một phần là do nữ giới thường chú ý đến 
vẻ bề ngoài hơn nam giới nên họ có xu hướng tìm kiếm các 
các biện pháp điều trị mụn trứng cá hơn nam giới. Đa phần 
bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có thói quen ăn 
đồ ngọt, thức khuya với tỷ lệ >70% kết quả nghiên cứu của 
chúng tôi cao hơn so với tác giả Lê Thị Kim [12]. Trong 
61 bệnh nhân nữ được khảo sát, có 37,7% bệnh nhân có 
rối loạn kinh nguyệt, có 47,3% bênh nhân có tiền sử thành 
viên trong gia đình mắc mụn trứng cá, các kết quả này 
cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Tchiu Bích 
Xuân [13]. 
Về đặc điểm lâm sàng, trứng cá thường thấy ở các 
vùng da mỡ, có số lượng tuyến bã tập trung cao như vùng 
mặt, ngực, liên bả, riêng ở vùng mặt, số lượng tuyến cao 
gấp 5 lần các vùng khác. Có lẽ vì thế, trứng cá gặp nhiều 
hơn cả là ở vùng mặt, ngực, lưng. Nghiên cứu của chúng 
tôi cho thấy 100% các tổn thương là tập trung ở vùng mặt 
trong đó rải rác toàn mặt chiếm tỷ lệ cao nhất là 56,0%, tập 
trung ở vùng má là 41,8%, trán (28,6%), mũi/cằm (5,5%). 
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Balaji 
Adityan và cộng sự cho thấy 100% bệnh nhân đều có vị trí 
thương tổn trên mặt [1], tác giả Nguyễn Minh Long tỷ lệ 
này là 98,57% tổn thương trên mặt [14]. Về thời gian mắc 
bệnh nghiên cứu cho thấy đa phần bệnh nhân có thời gian 
mắc bệnh ≥12 tháng với tỷ lệ 75,8%, kết quả này cao hơn 
so với nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim có 40,0% bệnh 
nhân có thời gian mắc bệnh ≥12 tháng [12]. Sự khác biệt 
này có thể do bệnh nhân khi đến khám tại Bệnh viện Da 
liễu Trung ương là tuyến cuối thì thời gian mắc đã diễn ra 
khá dài, mặt khác bệnh mụn trứng cá thông thường là một 
bệnh ngoài da không nguy hiểm nên bệnh nhân không ý 
thức được việc điều trị sớm sẽ giảm bớt những di chứng 
của bệnh. Về mức độ nặng của bệnh trên lâm sàng, chúng 
tôi sử dụng phương pháp đếm số lượng thương tổn và phân 
loại theo tác giả Karen McCoy [15], kết quả cho thấy có 
87/91 bệnh nhân có tổn thương mức độ trung bình với tỷ lệ 
95,6%, 4/91 bệnh nhân có tổn thương mức độ nhẹ với tỷ lệ 
4,4%. Kết quả này cao hơn so với kết quả nghiên cứu của 
nhiều tác giả trong và ngoài nước như nghiên cứu của tác 
giả Tchiu Bích Xuân có 56/315 bệnh nhân có mức độ tổn 
thương nhẹ (17,8%); 259/315 có mức độ tổn thương mức 
độ trung bình (82,2%) [13], tác giả Nguyễn Minh Long và 
cộng sự chỉ ra có 40% bệnh nhân có mức độ tổn thương 
trung bình và 60% bệnh nhân có mức độ tổn thương nhẹ 
[14], nghiên cứu của tác giả Yiwei Shen và cộng sự, tỷ lệ 
mụn trứng cá nhẹ, trung bình lần lượt là 72,4% và 27,4% 
[4]. Nguyên nhân có thể do nơi chúng tôi thực hiện nghiên 
cứu là bệnh viện chuyên khoa trung ương thường tiếp nhận 
những bệnh nhân có mức độ tổn thương nặng hơn, mặt 
khác sự khác biệt này có thể do việc sử dụng các công cụ 
phân loại là khác nhau đối với từng nghiên cứu. Về một số 
yếu tố liên quan đến mức độ tổn thương, kết quả cho thấy 
có mối liên quan giữa thói quen ăn đồ ngọt và mức độ tổn 
thương (p<0,05), trong đó những người có thói quen ăn đồ 
ngọt có tỷ lệ tổn thương mức độ vừa cao hơn so với người 
không có thói quen ăn đồ ngọt, kết quả này tương đồng với 
nghiên cứu của tác giả Ferdowsian HR và cộng sự [16]. 
Tuy nhiên các yếu tố liên quan khác như tuổi, giới, thói 
quen thức khuya, kinh nguyệt, tiền sử mụn trứng cá gia 
đình đều không mang lại ý nghĩa thống kê (p>0,05), do đó 
chúng tôi cũng cần tiến hành thêm những nghiên cứu với 
cỡ mẫu lớn hơn để xác định rõ về mối liên quan của các 
yếu tố này với mức độ tổn thương.
V. KẾT LUẬN
Trong số 91 bệnh nhân tham gia nghiên cứu tỷ lệ 
nam, nữ là 33,0% và 67,0%. Mụn trứng cá nhiều nhất 
trong nhóm tuổi ≤19 tuổi và 20 – 24 tuổi 42,9%; tuổi trung 
bình là 20,8±4,1. 100% bệnh nhân có tổn thương trên mặt 
trong đó tổn thương rải rác toàn mặt chiếm tỷ lệ cao nhất 
56,0%, đa phần người bệnh có thời gian mắc bệnh ≥12 
tháng với tỷ lệ 75,8%. Phần lớn bệnh nhân có mức độ tổn 
thương trung bình tỷ lệ 95,6%. Có mối liên quan giữa thói 
quen ăn đồ ngọt với mức độ tổn thương (p<0,05). 
SỐ 5 (52) - Tháng 09-10/2019
Website: yhoccongdong.vn48
JOURNAL OF COMMUNITY MEDICINE 2019
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Hồng Nhung và Lê Ngọc Diệp (2014), “Đặc điểm lâm sàng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 
mụn trứng cá tại Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 18(1), tr. 89-96.
2. Lê Thị Kim (2010), “Một số đặc điểm của bệnh trứng cá gặp ở Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí 
Minh”, Tạp chí Y học Thực hành, 728(7), tr. 127-129.
3. Tchiu Bích Xuân, Châu Văn Trở và Vũ Hồng Thái(2013), “Đặc điểm dịch tễ học và lầm sàng của bệnh nhân 
mụn trứng cá đến khám tại Bệnh viện Da liễu thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, 17(3), 
tr.22-29.
4. Nguyễn Minh Long và Nguyễn An Thường (2010), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh trứng cá thông 
thường”, Tạp chí Y học Thực hành, 705(2), tr. 85-87.
5. Karen McCoy (2008), “acne and related disorders”, The Merk Manuals Medical Library.
6. Ferdowsian HR and Levin S (2010), “ Does diet really afedct acne?” Skin Therapy Lett, 15(3), tr.1-5. 
7. Adityan B and Thappa MD (2009), “Profile of acne vulgaris – A hospital-based study from South India”, Indian 
Journal of Dermatology, Vereneology and Leprology, 75(3), pp.272-278.
8. Ghodsi ZS, Orawa H and Zouboulis CC (2009), “Prevanlence, severity, and severity risk factors of acne in high 
school pupils: a community-based study”, Journal of Investigative Dermatology, 129, pp. 2136-2141.
9. Kubota Y, Shirahige Y, and Nakai K (2010), “Community-based epidemiological study of psychosocial effects 
of acne in Japanese adolescents”, The Journal of Dermatology, 37(7), pp. 617-622.
10. Shen Y, Wang T, and Zhou C (2011), “Prevanlence of Acne Vulgaris in Chinese Adolescents and Adults: A 
Community-based Study of 17,345 Subjects in Six Cities” , Acta Dermato Venereologica, 91, pp.1-5. 
11. Suh DH, Kim BY, and Min SU (2011), “A multicenter epidemiological study of acne vulgaris in Korea”, 
International Journal of Dematology, 50(6), pp. 673-681. 
12. Melnik CB and Schmitz G (2009), “Role of insulin, insulin-like growwth factor-1, hyperglycaemic food and 
milk consumption in the pathogenesis of acne vulgaris”, Experimental Dermatology, 111, pp. 481-483.
13. Yosipovitch G et al (2007), “Study of Psychological Stress, Sebum Production and Acne Vulgaris in 
Adolescents”, Acta Dermato Venereologica, 87(2), pp.135-139. 
14. Zaenglein LA, Graber ME, Thiboutot MD and Strauss SJ (2008), “Acne Vulgaris and Acneiform Eruptions”, 
Fitzpatrick’s Dermatology in General Medicine, 7, pp. 690-703. 
15. Mills Ho and Kligman A (1975), “Ance Mechanica”, Archives Dermatology, 111, pp. 481-483. 
16. Zaghloul SS, Cunliffe WJ and Goodlifeld MJD (2005), “Objective assessment of compliance with treatments 
in acne”, British Journal of Dermatology, 152(5), pp.1015-1021.

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_cua_benh_trung_ca_thong_thuong_muc_do_trun.pdf