Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi

Đặt vấn đề: Bệnh cúm A/H1N1/2009 là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với khả năng lây lan nhanh.

Bệnh cúm mỗi năm thường gây 3-5 triệu người bệnh và khoảng 650.000 người chết do bệnh cúm trên thế giới.

Phụ nữ mang thai với những thay đổi trong hệ thống miễn dịch, tim, phổi trong suốt quá trình mang thai, đặc

biệt là trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba, là đối tượng có nguy cơ cao diễn tiến nặng. Tìm hiểu bệnh ở đối

tượng này giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn để nâng cao vấn đề điều trị.

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm

A/H1N1/2009 có viêm phổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2009 đến 2018.

pdf 8 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 177 
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ 
Ở PHỤ NỮ MANG THAI NHIỄM CÚM A/H1N1/2009 CÓ VIÊM PHỔI 
Nguyễn Thành Nguyên1, Phạm Kim Oanh2, Nguyễn Minh Thư1, Nguyễn Trọng Duy1, 
Nguyễn Thị Kim Anh1, Dư Lê Thanh Xuân1, Nguyễn Văn Thành Được1, Nguyễn Phương Hải3, 
Hà Thị Hải Đường1, Dương Bích Thủy1, Nguyễn Văn Hảo2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Bệnh cúm A/H1N1/2009 là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với khả năng lây lan nhanh. 
Bệnh cúm mỗi năm thường gây 3-5 triệu người bệnh và khoảng 650.000 người chết do bệnh cúm trên thế giới. 
Phụ nữ mang thai với những thay đổi trong hệ thống miễn dịch, tim, phổi trong suốt quá trình mang thai, đặc 
biệt là trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba, là đối tượng có nguy cơ cao diễn tiến nặng. Tìm hiểu bệnh ở đối 
tượng này giúp chúng ta có cái nhìn tốt hơn để nâng cao vấn đề điều trị. 
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị ở phụ nữ mang thai nhiễm cúm 
A/H1N1/2009 có viêm phổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới từ năm 2009 đến 2018. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả bằng hồi cứu hồ sơ ở bệnh nhân phụ 
nữ mang thai được chẩn đoán cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi. 
Kết quả: Qua 26 trường hợp được đưa vào nghiên cứu, tuổi trung vị của phụ nữ mang thai 27 (IQR 23; 
35). Tuổi thai trung vị 29,5 (IQR 25,5; 33,2) tuần, trong đó có 1 bệnh nhân song thai. Trong dân số nghiên cứu, 
đa số phụ nữ mang thai khởi bệnh đều có sốt, chiếm tỉ lệ khá cao 24/26 (92,3%), tất cả bệnh nhân đều có ho. Bạch 
cầu máu 6.925 (IQR 5.360; 9.230) /µl (trong đó thấp nhất 3.140/µl, cao nhất 17.000/µl), tiểu cầu 164.000 (IQR 
132.250; 214.500) /µl, trong đó tiểu cầu thấp nhất là 55.000/µl. Tổn thương phổi trên X quang chủ yếu là tổn 
thương lan tỏa hai bên. 15/26 (57,7%) bệnh nhân phải chuyển khoa hồi sức, tỉ lệ tử vong 3/26 (11,5%) bệnh 
nhân. Về thai kì, 15/26 (57,7%) bệnh nhân tiếp tục thai kì, 4/26 (154%) sinh thường (3 trẻ khỏe, 1 trẻ yếu), 1/26 
(3,8%) bệnh nhân thai lưu. 
Kết luận: Tỉ lệ phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi thường xuất hiện ở tam cá nguyệt 
thứ ba. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa tuổi thai phụ, tuổi thai, bệnh nền với tử vong. Nhiễm trùng bệnh viện 
và tử vong có liên quan với nhau với 60% vs 0%, p=0,00. 
Từ khóa: siêu vi cúm A/H1N1/2009, phụ nữ mang thai, viêm phổi 
ABSTRACT 
CLINICAL, LABORATORY FEATURES AND OUTCOME OF PREGNANT WOMEN 
WITH A/H1N1/2009 INFLUENZA – RELATED PNEUMONIA 
AT THE HOSPITAL FOR TROPICAL DISEASES 
Nguyen Thanh Nguyen, Pham Kim Oanh, Nguyen Minh Thu, Nguyen Trong Duy, 
Nguyen Thi Kim Anh, Du Le Thanh Xuan, Nguyen Van Thanh Duoc, Nguyen Phuong Hai, 
Ha Thi Hai Duong, Duong Bich Thuy, Nguyen Van Hao 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No 1 - 2021: 177 - 184 
Background: Influenza A/H1N1/2009 is a dangerous infectious disease with the ability to spread rapidly in 
the human population. Each year, influenza usually causes 3-5 million cases of illness and about 650,000 deaths 
1Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới 2Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 3Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 
Tác giả liên lạc: ThS.BS. Phạm Kim Oanh ĐT: 0985533470 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 178 
around the world. Pregnant women with changes in the immune system, heart, lung during pregnancy, 
especially in the second and third trimesters, are at risk of severe A/H1N1/2009 infection. This study is conducted 
to improve the treatment of H1N1 influenza pneumonia. 
Objectives: To characterize the clinical manifestation, laboratory features and outcome in pregnant women 
with A/H1N1/2009 influenza – related pneumonia at the Hospital for Tropical diseases from 2009 to 2018. 
Methods: Longitudinal cross-sectional study described by retrospective profile in pregnant women 
diagnosed with A/H1N1/2009 influenza – related pneumonia. 
Results: Of the 26 pregnant women recruited in this study, the median age is 27 (IQR 23;35). The median 
gestational age is 29.5 (IQR 25.5; 33.2) weeks, there is a twin pregnancy. The majority of pregnant women have 
fever 24/26 (92.3%), all patients have cough. White blood cell count is 6.925 (IQR 5.360; 9.230) / µl (min 3.140/ 
µl; max 17.000/ µl), platelets are 164.000 (IQR 132.250; 214.500) /µl, min 55.000/µl. The chest X-ray shows 
mainly bilateral diffuse lesions. 15/26 (57.7%) patients had to be transferred to intensive care unit, the mortality 
rate is 3/26 (11.5%). 15/26 (57.7%) patients continue pregnancy, 4/26 (15.4%) patients labour (3 healthy 
childrens, 1 weak child), 1/26 (3.8%) stillbirth. 
Conclusions: Pregnant women usually suffer H1N1 pneumonia in the third trimester. There is no 
statistically significant association between among age of women, gestational age and underlying diseases with 
death. Hospital acquired infections are significantly associated with mortality (60% vs 0%, p=0.00). 
Keywords: A/H1N1/2009 influenza, pregnant women, pneumonia 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Vào cuối tháng 3 năm 2009, siêu vi cúm 
A/H1N1/2009 được tìm thấy ở Mexico và 
Canada. Đây là một chủng mới của siêu vi 
cúm A được tạo thành từ sự tái tổ hợp giữa các 
chủng siêu vi cúm ở chim, lợn và người. Ngày 
25 tháng 4 năm 2009, tổ chức y tế thế giới 
(TCYTTG) đã thông báo nguy cơ bùng phát 
dịch trên toàn cầu. Tới ngày 11 tháng 6 năm 
2009, lần đầu tiên sau 41 năm, TCYTTG đã 
công bố đại dịch cúm ở cấp độ 6 do sự lan 
truyền được xác định ở cộng đồng Bắc Mỹ, 
Đông Á và Châu Đại dương. Đại dịch cũng 
được xác định là ở giai đoạn đầu với tính 
nghiêm trọng ở mức độ trung bình. Đến tháng 
8 cùng năm, TCYTTG tuyên bố dịch cúm năm 
2009 đã kết thúc, siêu vi cúm A/H1N1/2009 đã 
chuyển sang giai đoạn hậu đại dịch, trở thành 
siêu vi cúm mùa lưu hành(1). Tuy nhiên dịch 
cúm lẻ tẻ hầu như xảy ra hằng năm với mức 
độ lây lan và nghiêm trọng thay đổi tùy theo 
từng khu vực. 
Thống kê tại của TCYTTG tại Việt Nam có 3 
loại siêu vi cúm chính hiện đang lưu hành là siêu 
vi cúm A H1N1 pdm2009, H3N2 và siêu vi cúm 
B, tỉ lệ của chúng thay đổi theo từng tháng, từng 
năm, chẳng hạn siêu vi cúm A/H3N2 chiếm ưu 
thế trong những năm 2013 – 2014 và cúm 
A/H1N1/2009 lại trở lại ưu thế trong 3 năm trở 
lại đây(2). Bệnh cúm gây ra biểu hiện lâm sàng tại 
đường hô hấp trên và dưới, thông thường diễn 
tiến tự khỏi song có thể đưa đến nhiều biến 
chứng nặng có thể gây tử vong đặc biệt trên 
những người có nguy cơ cao. Đa số các bệnh 
nhân nặng có biểu hiện viêm phổi với giảm oxy 
hóa máu tiến triển nhanh và suy hô hấp cần đặt 
nội khí quản và thở máy. 
Bệnh cúm vẫn là một bệnh truyền nhiễm 
nguy hiểm với tính chất lây lan nhanh cùng với 
tỉ lệ tử vong cao. Bên cạnh đó, dịch cúm mỗi 
năm thường gây 3-5 triệu người bị bệnh nặng và 
khoảng 650,000 người chết do bệnh cúm trên thế 
giới(3); thay đổi theo chủng siêu vi cúm và khu 
vực lưu hành bệnh. 
Phụ nữ mang thai với những thay đổi trong 
hệ thống miễn dịch, tim, phổi trong suốt quá 
trình mang thai, đặc biệt là trong tam cá nguyệt 
thứ hai và thứ ba, là đối tượng có nguy cơ cao 
diễn tiến nặng(4,5). Báo cáo tại Mỹ có hơn một 
phần ba phụ nữ có thai nhiễm siêu vi cúm 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 179 
A/H1N1/2009 cần nhập viện do hội chứng nguy 
kịch hô hấp cấp(6). Thống kê tại bang California 
cho thấy 95% phụ nữ có thai nhập viện do cúm 
A/H1N1/2009 nằm trong tam cá nguyệt thứ hai 
và thứ ba; chỉ có một phần ba số bệnh nhân này 
có yếu tố nguy cơ khác ngoài có thai. 22% bệnh 
nhân này cần nhập khoa Hồi sức tích cực và tỉ lệ 
tử vong là 8%(7). 
Tuy nhiên, hiện nay chưa có nhiều nghiên 
cứu mô tả các bệnh cảnh viêm phổi hay biểu 
hiện ngoài phổi do siêu vi cúm gây ra, đặc biệt ở 
các bệnh nhân là phụ nữ mang thai viêm phổi. 
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: 
“Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả 
điều trị của phụ nữ mang thai nhiễm cúm 
A/H1N1/2009 có viêm phổi tại bệnh viện Bệnh 
Nhiệt đới từ năm 2009 đến 2018”. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Phụ nữ mang thai được chẩn đoán cúm 
A/H1N1/2009 có viêm phổi tại bệnh viện Bệnh 
Nhiệt đới từ 01/01/2009 đến 31/12/2018. 
Tiêu chuẩn chọn bệnh 
Đủ 3 tiêu chuẩn sau: 
- Bệnh nhân ≥16 tuổi. 
- Được chẩn đoán cúm A/H1N1/2009 dựa 
trên kết quả realtime RT-PCR dương tính. 
- Được chẩn đoán viêm phổi dựa trên phim 
X- quang phổi có tổn thương. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 
Biến số khảo sát 
Tuổi, tuổi thai, bệnh nền của thai phụ, triệu 
chứng lâm sàng, bạch cầu, tiểu cầu, AST, ALT, 
X- quang phổi, diễn tiến bệnh, điều trị thuốc 
kháng siêu vi, biến chứng trong thời gian nằm 
viện (nhiễm trùng bệnh viện), tình trạng bệnh 
nhân sau khi kết thúc theo dõi và kết cục sản 
khoa bao gồm sẩy thai hoặc sinh non. 
Kỹ thuật đo lường 
Các xét nghiệm được thực hiện tại khoa xét 
nghiệm bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. 
Phân tích số liệu 
Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm 
SPSS 20. Mức ý nghĩa xác định khi p <0,05. Các 
biến định lượng sẽ được trình bày dưới dạng số 
trung vị và khoảng tứ phân vị. So sánh tỉ lệ các 
nhóm bằng phép kiểm Chi bình thường, trung 
bình bằng phép kiểm t. 
Y đức 
Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trong 
nghiên cứu Y sinh học bệnh viện Bệnh nhiệt đới 
thông qua theo quyết định số 42/QĐ-BVBNĐ kí 
ngày 06 tháng 11 năm 2019. 
KẾT QUẢ 
Khi tiến hành hồi cứu 10 năm, từ 
01/01/2009 đến 31/12/2018, có tổng cộng 26 phụ 
nữ có thai được chẩn đoán cúm A/H1N1/2009 
có viêm phổi điều trị nội trú tại bệnh viện 
Bệnh Nhiệt đới. Chiếm tỉ lệ 26/146 (17,8%) 
bệnh nhân cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi 
điều trị nội trú tại đây. 
Đặc điểm dân số nghiên cứu (NC) 
Độ tuổi trung vị của phụ nữ mang thai trong 
nghiên cứu 27 (IQR 23; 35) (nhỏ nhất 20 tuổi, lớn 
nhất là 42 tuổi). 24/26 (92,4%) bệnh nhân là 
người kinh. Hơn 1/3 (10/26) bệnh nhân đến từ 
Thành phố Hồ Chí Minh, kế đó đến từ Đắc Lắk 
(4 bệnh nhân), Long An (4 bệnh nhân), Đà Nẵng 
(3 bệnh nhân), Đồng Tháp (2 bệnh nhân), Vũng 
Tàu (2 bệnh nhân) và Bình Dương (1 bệnh nhân). 
Không có thai phụ nào trong nghiên cứu có tiền 
căn hút thuốc lá, sử dụng thuốc gây nghiện, 
nghiện rượu, bệnh tim, đái tháo đường, ung thư, 
co giật, bệnh thần kinh cơ, bệnh gan mạn, bệnh 
lý huyết học, sử dụng corticoid kéo dài, bệnh lao 
cũ. Có 3/26 (11,5%) bệnh nhân có bệnh nền (1 
bệnh nhân có bệnh phổi mạn, 2 bệnh nhân có 
bệnh thận mạn). Tuổi thai trung vị 29,5 (IQR 
25,5; 33,2) tuần (nhỏ nhất 18 tuần, lớn nhất 37 
tuần), trong đó có 1 bệnh nhân mang song thai. 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 180 
Trong số 26 trường hợp (TH) phụ nữ mang 
thai trong nghiên cứu, đa số bệnh nhân (BN) 
17/26 (65,4%) nhập viện vào năm 2009. 
Hình 1: Số lượng bệnh nhân nhập viện theo từng 
năm (n=26) 
Đặc điểm lâm sàng của dân số nghiên cứu 
Trong dân số nghiên cứu, đa số phụ nữ 
mang thai khởi bệnh đều có sốt, chiếm tỉ lệ khá 
cao 24/26 (92,3%) bệnh nhân. Tất cả bệnh nhân 
đều có ho, trong có 14/26 (53,8%) bệnh nhân ho 
có đàm, 3/14 bệnh nhân ho có đàm thì có lẫn 
máu, không có bệnh nhân nào khò khè hay hắt 
hơi. Không có bệnh nhân nào có rối loạn tri giác, 
co giật, viêm kết mạc mắt, đau bụng. 
Bệnh nhân nhập viện với rất nhiều lí do, 
trong đó lí do chính là sốt 20/26 (76,9%) bệnh 
nhân. Ngoài ra do các than phiền chính khác liên 
quan đến hô hấp như: ho đàm, ho ra máu, khó 
thở hoặc đau ngực. Đa số bệnh nhân nhập viện 
từ ngày 3 đến 5 của bệnh chiếm 14/26 (53,8%) 
bệnh nhân. Ngày bệnh lúc nhập viện trung vị 4 
(IQR 3; 5), sớm nhất ngày 1, muộn nhất ngày 7. 
Trong dân số nghiên cứu, gần phân nửa 
bệnh nhân 12/26 (46,2%) được chuyển từ các 
bệnh viện khác đến. Trong 12 bệnh nhân được 
chuyển viện thì có 11/12 bệnh nhân có tình trạng 
suy hô hấp lúc nhập viện. Chỉ có 1/14 bệnh nhân 
tự đến có suy hô hấp. 
Hình 2: Triệu chứng lâm sàng của phụ nữ mang thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 có viêm phổi (n=26) 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 181 
Đặc điểm cận lâm sàng của dân số nghiên cứu 
Bảng 1: Đặc điểm cận lâm sàng của dân số NC 
Đặc điểm n Trung vị (IQR) 
Bạch cầu máu (/µl) 26 6.925 (5.360; 9.230) 
Dung tích hồng cầu (%) 26 32 (28; 35) 
Tiểu cầu (/µl) 26 164.000 (132.250; 214.500) 
AST (U/L) 24 28 (17,5; 70,25) 
ALT (U/L) 24 60,5 (29,5; 129,75) 
CRP (mg/l) 5 60 (35,5;138) 
Tất cả bệnh nhân có chức năng thận bình 
thường. Không có bệnh nhân nào có tăng 
bilirubin. Hình ảnh tổn thương trên X-quang 
phổi chủ yếu là tổn thương lan tỏa phổi, tuy 
nhiên có một vài trường hợp chỉ tổn thương 
thùy giữa hoặc thùy dưới phổi. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi có 16/26 (61,5%) bệnh nhân 
được siêu âm bụng. Trong đó có 3/16 bệnh nhân 
có tràn dịch màng phổi lượng ít, 2/3 bệnh nhân 
tràn dịch màng phổi bên trái. 
Có 1 bệnh nhân trong nghiên cứu có tổn 
thương tim với Troponin I tăng 1340 pg/ml và 
siêu âm tim có EF 30%, giảm động vách liên thất. 
Diễn tiến điều trị của dân số nghiên cứu: 
Hơn phân nửa dân số nghiên cứu 15/26 
(57,7%) sau khi nhập viện phải chuyển khoa hồi 
sức. Hơn phân nửa bệnh nhân phải can thiệp hô 
hấp: 1/26 (3,8%) bệnh nhân phải đặt nội khí quản 
và thở máy (đây là trường hợp thở Oxy mask lúc 
nhập viện); 5/26 (19,2%) bệnh nhân phải thở máy 
không xâm lấn (1/5 bệnh nhân là bệnh nhân ban 
đầu khi nhập viện đã phải thở Oxy mask); 8/26 
(30,8%) bệnh nhân thở Oxy mask (4/8 bệnh nhân 
sau này phải thở không xâm lấn), 6/26 (23,1%) 
bệnh nhân chỉ cần thở Oxy ẩm qua canula mũi. 
Gần 3/4 bệnh nhân 19/26 (73,1%) sử dụng 
Oseltamivir liều thông thường. 6/26 bệnh nhân 
sử dụng liều Oseltamivir gấp đôi liều thông 
thường. Có 2/26 (7,7%) bệnh nhân được sử dụng 
Zanamivir, cả hai bệnh nhân này đều phải nhập 
khoa hồi sức và sử dụng Oseltamivir liều gấp 
đôi liều bình thường. 
Có 5/26 (19,2%) bệnh nhân được sử dụng 
corticoid, đây đều là những bệnh nhân phải 
nhập khoa hồi sức. 3/5 bệnh nhân nhập viện 
trong tình trạng suy hô hấp, 2 bệnh nhân phải hỗ 
trợ Oxy ẩm qua mask, 1 bệnh nhân chỉ cần hỗ 
trợ Oxy ẩm qua canula mũi. Không có bệnh 
nhân nào được sử dụng biện pháp nằm sấp. 
Có 15/26 (57,7%) bệnh nhân diễn tiến thành 
ARDS. Trong đó 4/15 bệnh nhân bị ARDS nặng, 
3/15 bệnh nhân bị ARDS trung bình và 8/15 bệnh 
nhân bị ARDS nhẹ. 
Không có bệnh nhân nào bị các biến chứng 
như tràn khí màng phổi, rối loạn đông máu, hội 
chứng thực bào, bệnh não gan. 
Trong dân số nghiên cứn, có 5/26 (19,2%) 
bệnh nhân bị nhiễm trùng bệnh viện. 2 bệnh 
nhân nhiễm trùng tiểu bệnh viện (1 bệnh nhân 
cấy nước tiểu ra Enterococcus faecalis và 1 bệnh 
nhân cấy ra Klebsiella pneumonia và Candida 
albicans). 3 bệnh nhân viêm phổi bệnh viện (1 
bệnh nhân cấy BAL ra Pandoraes apsita, 1 bệnh 
nhân cấy mọc Candida albicans và 1 bệnh nhân 
cấy ra Candida tropicalis). Trong 5 bệnh nhân này 
thì có 2 trường hợp (1 bệnh nhân nhiễm trùng 
tiểu và 1 bệnh nhân viêm phổi bệnh viện) diễn 
tiến thành nhiễm trùng huyết – sốc nhiễm trùng. 
Cả 2 bệnh nhân đều phải dùng vận mạch. Bệnh 
nhân thứ hai đã diễn tiến thành suy thận cấp, 
toan chuyển hóa mất bù phải lọc máu liên tục. 
Kết cục, bệnh nhân nhiễm trùng huyết từ viêm 
phổi đã bệnh nặng xin về, còn bệnh nhân còn lại 
thì diễn tiến thành viêm phổi bệnh viện lần 2. 
Cấy dịch phế quản ra Stenotrophomonas 
maltophilia, Pseudomonas aeruginosae và soi ra vi 
khuẩn kháng cồn, tuy nhiên bệnh nhân cuối 
cùng đã khỏe xuất viện. Cả hai đều sinh thường, 
bé sinh ra một khỏe và một thai yếu. 
Kết quả diều trị của dân số nghiên cứu 
Đa số bệnh nhân 22/26 (84,6%) khỏe, xuất 
viện, 1/26 bệnh nhân chuyển viện do dọa sanh, 
3/26 (11,5%) bệnh nhân tử vong và bệnh nặng 
xin về (trong đó có 1 trường hợp thai lưu, 1 
trường hợp sinh thường- thai khỏe, và trường 
hợp còn lại không ghi nhận). 
Về thai, 6 trường hợp không ghi nhận, 15/26 
(57,7%) bệnh nhân tiếp tục thai kì, 4/26 (15,4%) 
bệnh nhân sinh thường (3 trẻ khỏe, 1 trẻ yếu), 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 182 
1/26 (3,8%) bệnh nhân thai lưu (đây cũng là thai 
phụ tử vong tại bệnh viện). 
Yếu tố liên quan độ nặng của bệnh 
Bảng 2: Mối liên quan giữa nhóm tuổi, tuổi thai, 
bệnh nền, nhiễm trùng bệnh viện và tử vong (n=26) 
Đặc điểm 
Chết 
p 
Có Không 
Tuổi của thai phụ 
< 35 tuổi 3 (15,8%) 16 (84,2%) 0,264 
≥ 35 tuổi 0 (0%) 7 (100%) 
Tuổi thai 
Tam cá nguyệt thứ hai 0 (0%) 6 (100%) 0,313 
Tam cá nguyệt thứ ba 3 (15%) 17 (85%) 
Bệnh nền 
Có 1 (33,3%) 2 (66,7%) 0,209 
Không 2 (8,7%) 21 (91,3%) 
Nhiễm trùng bệnh viện 
Có 3 (60%) 2 (40%) 0,000 
Không 0 (0%) 21 (100%) 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có 
sự liên quan giữa độ tuổi của thai phụ, tuổi thai, 
bệnh nền với tử vong. Còn nhiễm trùng bệnh 
viện và tử vong có liên quan có ý nghĩa với 60% 
vs 0%, p=0,00. 
BÀN LUẬN 
Khi tiến hành hồi cứu 10 năm (2009 đến 
2018), có 26 phụ nữ có thai được chẩn đoán cúm 
A/H1N1/2009 có viêm phổi điều trị nội trú tại 
bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Chiếm tỉ lệ 26/146 
(17,8%) bệnh nhân cúm A/H1N1/2009 có viêm 
phổi điều trị nội trú tại đây. Trong 26 trường 
hợp này, thì gần 2/3 trường hợp nhập viện vào 
năm 2009, điều này có thể giải thích dễ dàng vì 
đây là năm cúm A/H1N1/2009 xuất hiện đầu 
tiên, được công bố là đại dịch toàn cầu. Những 
năm sau, nhờ vào miễn dịch cộng đồng hoặc 
chích ngừa cúm trước khi mang thai đã giúp tỉ lệ 
này giảm xuống đáng kể. 
Hơn 1/3 bệnh nhân trong nghiên cứu ở 
thành phố Hồ Chí Minh, còn lại đến từ các nơi 
khác, từ miền Trung, Tây Nguyên, đến các tỉnh 
miền Tây. Điều này có thể do thành phố Hồ Chi 
Minh là nơi tập trung dân nhập cư từ nhiều nơi. 
Ngoài ra, bệnh viện Bệnh Nhiệt đới là bệnh viện 
hàng đầu về các bệnh lí nhiễm trùng của toàn 
miền Nam. 
Tuổi thai trung vị 29,5 (IQR 25,5; 33,2) tuần 
(nhỏ nhất 18 tuần, lớn nhất 37 tuần), trong đó có 
1 bệnh nhân song thai. Điều lưu ý ở đây, đa số 
thai phụ nhập viện đều ở tam cá nguyệt thứ hai 
và ba, trong đó hơn 3/4 trường hợp là tam cá 
nguyệt thứ ba. Do nghiên cứu của chúng tôi chỉ 
lấy những bệnh nhân có viêm phổi, chứ không 
phải tất cả các thai phụ nhiễm cúm 
A/H1N1/2009 nên chúng tôi không thể phân tích 
liệu tuổi thai có liên quan đến xuất hiện viêm 
phổi hay không. Tuy nhiên, điều này cũng 
tương ứng với nghiên cứu về phụ nữ mang thai 
nhiễm cúm A/H1N1/2009, đa số đều là thai phụ 
ở tam cá nguyệt thứ hai và ba(7). Tỉ lệ bệnh nền 
trong dân số nghiên cứu thấp, có 3/26 (11,5%). 
Điều này có thể giải thích do dân số nghiên cứu 
của chúng tôi trẻ nên bệnh nền ít. 
Gần phân nửa bệnh nhân 12/26 (46,2%) được 
chuyển từ các bệnh viện khác đến. Đa số bệnh 
nhân này đều có suy hô hấp. Điều này có thể do 
bệnh viện Bệnh Nhiệt đới là bệnh viện truyền 
nhiễm hàng đầu của miền Nam, nên nơi đây sẽ 
nhận những ca bệnh khó và phức tạp. Trong 12 
bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy hô 
hấp có 5/12 bệnh nhân sử dụng Oxy ẩm qua 
canula mũi, 4/12 bệnh nhân sử dụng Oxy ẩm 
qua mask và 3/12 bệnh nhân nhập viện trong 
tình trạng đặt nội khí quản và thở máy. Trong số 
12 bệnh nhân được chuyển đến từ tuyến trước 
thì có 7/12 bệnh nhân đã được sử dụng 
Oseltamivir, (1/7 bệnh nhân sử dụng Oseltamivir 
đơn độc, 6/7 bệnh nhân còn lại được sử dụng 
phối hợp Oseltamivir với 1 nhóm kháng sinh 
như cephalosporin thế hệ thứ ba hoặc nhóm 
carbapenem hoặc với nhóm Fluroquinolone). 
Điều này là một tín hiệu đáng mừng vì tuyến 
trước đã nghĩ đến cúm như là một tác nhân có 
thể gây viêm phổi và điều trị đặc trị thích hợp. 
Trong dân số nghiên cứu, đa số phụ nữ 
mang thai khởi bệnh đều có sốt, chiếm tỉ lệ khá 
cao 24/26 (92,3%). Với triệu chứng xuất hiện 
nhiều tiếp theo là triệu chứng ở đường hô hấp. 
Tất cả bệnh nhân đều có ho, trong có 14/26 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 183 
(53,8%) bệnh nhân ho có đàm, 3/14 bệnh nhân ho 
có đàm thì có lẫn máu, không có bệnh nhân nào 
khò khè hay hắt hơi. Và đây cũng chính là than 
phiền chính khiến bệnh nhân nhập viện. Đa số 
bệnh nhân nhập viện sớm trong tuần lễ đầu tiên, 
thậm chí có bệnh nhân nhập viện từ ngày bệnh 
đầu tiên. 
Bạch cầu máu của bệnh nhân 6.925 (IQR 
5.360; 9.230) /µl (trong đó thấp nhất 3.140/µl, cao 
nhất 17.000/µl), 100% bệnh nhân có bạch cầu đa 
nhân trung tính trên 55%. Dung tích hồng cầu 
32% (IQR 28%; 35%), tiểu cầu 164.000 (IQR 
132.250; 214.500) /µl, trong đó tiểu cầu thấp nhất 
là 55.000/µl. AST thấp nhất 3 U/L, cao nhất 440 
U/L, ALT thấp nhất 20 U/L, cao nhất 526 U/L. 
Đây chính là thay đổi trong xét nghiệm về ở 
bệnh nhân cúm tương tự với nghiên cứu trước 
đó ở Mỹ với 272 bệnh nhân cúm A/H1N1/2009, 
những thay đổi về xét nghiệm có thể thấy là men 
gan tăng cao (45% có tăng ALT, 44% có tăng 
AST), thiếu máu (37%), giảm bạch cầu (20%), 
giảm tiểu cầu (14%)(8). Hình ảnh tổn thương chủ 
yếu là tình trạng đông đặc phế nang hoặc tổn 
thương dạng mô kẽ khu trú hoặc lan tỏa, một 
bên hay hai bên. Tổn thương phổi do siêu vi 
cúm A/H1N1/2009 cũng tương tự các siêu vi 
đường hô hấp khác. Trong nghiên cứu ở bệnh 
viện đại học Michigan năm 2009 với 222 bệnh 
nhân cúm A/H1N1 kết quả tổn thương dạng 
đốm mờ ở dưới phổi, vùng trung tâm; tổn 
thương dạng kính mờ hoặc không có tổn thương 
trên X-quang là hình ảnh thường gặp nhất(9). 
Hay trong nghiên cứu ở bệnh nhân viêm phổi 
do cúm A/H1N1/2009 của Abdelsalam thì hình 
ảnh tổn thương phổi dạng kính mờ hai bên và 
đông đặc phế nang là thường gặp nhất. Tác giả 
còn nhận thấy tổn thương phổi ở trên X-quang 
thường ở vùng đáy và vùng trung tâm trong khi 
trên CT ngực thì tổn thương ở ngoại vi và mạch 
máu quanh phế quản với tổn thương lan tỏa 
vùng xung quanh(10). 
Về điều trị đặc trị, tất cả các bệnh nhân đều 
được điều trị Oseltamivir, có 6/26 (23,1%) bệnh 
nhân sử dụng liều gấp đôi thông thường, 2/26 
(7,7%) bệnh nhân phối hợp với Zanamivir. 
Những bệnh nhân này đều nhập viện trong tình 
trạng nặng phải nằm hồi sức. Siêu vi cúm 
A/H1N1/2009 vẫn còn nhạy cảm với nhóm ức 
chế Neuraminidase như Oseltamivir và 
Zanamivir (Relenza), nhưng kháng với 
Adamantanes(11,12). Trong một báo cáo của WHO 
tháng 7 năm 2009, theo ghi nhân ở Đan Mạch, 
Nhật Bản và Hồng Kông đã xuất hiện tình trạng 
cúm A/H1N1/2009 kháng với Oseltamivir dựa 
trên xét nghiệm, tuy nhiên những trường hợp 
này vẫn còn nhạy Zanamivir(12). Ở nghiên cứu 
của chúng tôi, có 2 trường hợp bệnh nặng chúng 
tôi đã phối hợp với Zanamivir, nhưng do điều 
kiện chúng tôi không làm xét nghiệm về tính 
nhạy cảm kháng thuốc trong các trường hợp 
nặng này. Trong điều kiện thực hành lâm sàng, 
chúng tôi cũng đã cho 6 bệnh nhân trong nghiên 
cứu sử dụng Oseltamivir liều gấp đôi với hi 
vọng sẽ cải thiện độ nặng của bệnh. Kết cục có 
5/6 bệnh nhân ổn, xuất viện về, 1 bệnh nhân tử 
vong do viêm phổi nặng ARDS. Tuy nhiên, do 
số bệnh nhân sử dụng liều gấp đôi, tổng dân số 
nghiên cứu quá ít và không có nhóm đối chứng 
nên không thể nói hiệu quả của việc điều trị này. 
Hơn phân nửa dân số nghiên cứu 15/26 
(57,7%) sau khi nhập viện phải chuyển khoa 
hồi sức, diễn tiến thành ARDS. Trong đó 4/15 
bệnh nhân bị ARDS nặng, 3/15 bệnh nhân bị 
ARDS trung bình và 8/15 bệnh nhân bị ARDS 
nhẹ. Có 5/26 (19,2%) bệnh nhân được sử dụng 
corticoid, đây đều là những bệnh nhân phải 
nhập khoa hồi sức. 
Tỉ lệ xuất hiện các biến chứng ngoài phổi 
trong nghiên cứu của chúng tôi khá thấp, tuy 
nhiên khó có thể kết luận ở phụ nữ mang thai thì 
những biến chứng ngoài phổi thấp hơn những 
đối tượng khác vì cỡ mẫu của chúng tôi khá nhỏ, 
bên cạnh đó, chúng tôi chỉ lấy những bệnh nhân 
viêm phổi vào nghiên cứu. 
Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu chúng tôi là 
3/26 (11,5%) thấp hơn nghiên cứu ở Australia và 
New Zealeand ở 722 bệnh nhân nhiễm cúm 
A/H1N1 phải nhập khoa Hồi sức - tỉ lệ chết là 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 1 * 2021
Chuyên Đề Hồi Sức Cấp Cứu – Nhiễm 184 
14,3%(5). Tuy nhiên nghiên cứu này thực hiện ở 
tất cả các đối tượng nhiễm cúm chứ không phải 
chỉ ở phụ nữ mang thai. Nghiên cứu chúng tôi 
có tỉ lệ tử vong cao hơn nghiên cứu ở 788 thai 
phụ mang thai kể cả có hay không có viêm phổi 
ở Mỹ - tỉ lệ tử vong 5%(13). Tỉ lệ phải chuyển khoa 
hồi sức và tử vong trong nghiên cứu của chúng 
tôi cao hơn trong nghiên cứu ở phụ nữ mang 
thai nhiễm cúm A/H1N1/2009 tại bang 
California cho thấy 22% bệnh nhân này cần nhập 
khoa hồi sức tích cực và tỉ lệ tử vong là 8%(7). 
Điều này có thể là do dân số nghiên cứu của 
chúng tôi là thai phụ có viêm phổi nên hai tỉ lệ 
này cao hơn. 
Qua phân tích, tuổi ≥ 35 tuổi, tam cá nguyệt 
thứ ba và có bệnh nền có tỉ lệ tử vong cao hơn, 
nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, 
lần lượt 15,8% vs 0, p=0,264; 15% vs 0%, p=0,313; 
33,3% vs 8,7%, p=0,209. Tuy nhiên, do cỡ mẫu 
quá ít nên khó có thể kết luận. Còn xuất hiện 
nhiễm trùng bệnh viện là yếu tố liên quan đến tử 
vong với 60% vs 0%, p=0,00. 
Trong qua trình thực hiện, chúng tôi gặp 
nhiều hạn chế như đây là một nghiên cứu hồi 
cứu nên việc thu thập số liệu sẽ gặp nhiều khó 
khăn. Hay do mẫu nghiên cứu còn nhỏ, đối 
tượng là phụ nữ mang thai có viêm phổi nên tỉ lệ 
bệnh nặng cao hơn những nghiên cứu khác. Do 
đó, cần có một nghiên cứu lớn hơn về cả những 
thai phụ nhiễm cúm A/H1N1/2009 để có những 
kết luận chính xác hơn. 
KẾT LUẬN 
Qua mô tả 26 phụ nữ có thai được chẩn đoán 
cúm A/H1N1 có viêm phổi điều trị nội trú tại 
bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trong khoảng thời 
gian 10 năm (2009 đến 2018), chúng tôi thấy đa 
số thai phụ đều ở tam cá nguyệt thứ ba (20/26 – 
76,9%). Triệu chứng chủ yếu của bệnh nhân là 
sốt và hô hấp. Tỉ lệ chuyển khoa hồi sức khá cao 
(15/26 – 57,7%). Tỉ lệ tử vong 3/26 (11,5%). Và 
không có sự liên quan giữa độ tuổi thai phụ, tuổi 
thai, bệnh nền đến tiên lượng tử vong. Tuy 
nhiên có sự liên quan có ý nghĩa giữa nhiễm 
trùng bệnh viện và tử vong với 60% vs 0%, 
p=0,00. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. WHO (2010). H1N1 in post-pandemic period. URL: 
https://www.who.int/mediacentre/news/statements/2010/h1n1_
vpc_20100810/en/. 
2. Beumer MC, Koch RM, van Beuningen D, et al (2019). Influenza 
virus and factors that are associated with ICU admission, 
pulmonary co-infections and ICU mortality. Journal of critical 
care, 50:59-65. 
3. Nguyễn Trần Hiển (2011). Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, 
lâm sàng và vi rút học của cúm A/H1N1/09 đại dịch các tỉnh 
miền Bắc-Trung và Tây Nguyên, đề xuất các giải pháp phòng 
chống dịch. Viện Vệ sinh Dịch tễ TW. 
4. Dawood FS, Jain S, Finelli L, et al (2009). Emergence of a novel 
swine-origin influenza A (H1N1) virus in humans. N Engl J 
Med, 360(25):2605-15. 
5. Lapinsky SE (2010). Critical illness as a result of influenza 
A/H1N1 infection in pregnancy. BMJ, 340:c1235. 
6. Satpathy HK, Lindsay M, Kawwass JF (2009). Novel H1N1 
virus infection and pregnancy. Postgrad Med, 121(6):106-12. 
7. Louie JK, Acosta M, Jamieson DJ, Honein MA (2010): Severe 
2009 H1N1 influenza in pregnant and postpartum women in 
California". N Engl J Med, 362(1):27-35. 
8. Jain S, Kamimoto L, Bramley AM, et al (2009). Hospitalized 
patients with 2009 H1N1 influenza in the United States, April-
June 2009. N Engl J Med, 361(20):1935-1944. 
9. Agarwal PP, Cinti S, Kazerooni EA (2009). Chest radiographic 
and CT findings in novel swine-origin influenza A (H1N1) virus 
(S-OIV) infection. AJR Am J Roentgenol, 193(6):1488-1493. 
10. Nicolini A, Ferrera L, Rao F, Senarega R, Ferrari-Bravo M (2012). 
Chest radiological findings of influenza A H1N1 pneumonia. 
Rev Port Pneumol, 18(3):120-127. 
11. Prevention Centers for Disease Control and (2009). Update: 
drug susceptibility of swine-origin influenza A (H1N1) viruses, 
April 2009. MMWR Morb Mortal Wkly Rep, 58(16):433-435. 
12. WHO (2009). Viruses resistant to oseltamivir (Tamiflu) 
identified. URL: 
https://www.who.int/csr/disease/swineflu/notes/h1n1_antiviral
_resistance_20090708/en/. 
13. Siston AM, Rasmussen SA, Honein MA, et al (2010). Pandemic 
2009 influenza A(H1N1) virus illness among pregnant women 
in the United States. JAMA, 303(15):1517-1525. 
Ngày nhận bài báo: 08/12/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 20/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_can_lam_sang_va_ket_qua_dieu_tri_o_phu_nu.pdf