Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Đặt vấn đề/Mục tiêu: U nguyên bào gan là loại u gan ác tính thường gặp nhất ở trẻ em.

Nghiên cứu này mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em được

phẫu thuật tại khoa Ngoại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2016 đến 8/2019.

Phương pháp: Hồi cứu 30 bệnh nhân u nguyên bào gan được phẫu thuật cắt gan tại khoa

Ngoại tổng hợp Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn từ tháng 01/2016 đến tháng

08/2019.

Kết quả: Độ tuổi trung bình là 36,8 tháng (4 - 149 tháng), độ tuổi hay gặp là dưới 5 tuổi

(76,7%), nam gặp nhiều hơn nữ (56,7% và 43,3%). Các triệu chứng lâm sàng hay gặp là

gan to (50%), sờ thấy khối ở bụng (30%), đau bụng vùng gan (13,3%), thiếu máu (13,3%),

gầy sút (6,7%), vàng da (3,3%). Triệu chứng cận lâm sàng: 83,3% các bệnh nhân thiếu

máu, 36,7% bệnh nhân tăng tiểu cầu, 90% bệnh nhân tăng GOT, 53,3% bệnh nhân tăng

GPT, AFP tăng cao so với tuổi ở 96,7% bệnh nhân với giá trị trung bình là 217160,7ng/ml

(575 - 1686328,6ng/ml). Kích thước khối u trung bình trên cắt lớp vi tính là 5,48cm (2 -

15cm), 60% u ≤ 5cm, 96,7% có 1 khối u và 70% u nằm ở gan phải, 76,7% thuộc phân loại

PRETEXT II, 80% u nguyên bào gan thuộc loại biểu mô thai.

Kết luận: Các triệu chứng lâm sàng u nguyên bào gan thường không đặc hiệu. Chiến lược

khám sức khỏe định kỳ cho trẻ và vai trò của các phương tiện cận lâm sàng hỗ trợ trong

chẩn đoán là rất quan trọng.

pdf 9 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Trung ương
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
8 
Research Paper 
Clinical and Investigation of Pediatric Patients 
with Hepatoblastoma 
 at Vietnam National Children’s Hospital 
Pham Duy Hien1,*, Tran Duc Tam1, Phan Hong Long2 
1
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
2
Hanoi Medical University, 01 Ton That Tung, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 16 July 2020 
Revised 14 August 2020; Accepted 17 August 2020 
Abstract 
Background/Purpose: Hepatoblastoma is the most common malignant liver tumor 
in children. Study on clinical and investigations of pediatric patients with hepatoblastoma 
at Vietnam National Children’s Hospital from Jan 2016 to Aug 2019. 
Methods: A total 30 patients with Hepatoblastoma were operated at Vietnam National 
Children’s Hospital from January 2016 to August 2019. The study design is retrospective. 
Resullts: Study subject’s mean of age was 36,8 months (range 4 - 149 months), the 
common group of age was under 5 years old (76,7%), male’s more than female (56,7% 
and 43,3%). The most common clinical symptoms were hepatomegaly (50%), a palpable 
abdominal mass (30%), abdominal pain (13,3%), secondary anemia (13,3%), weight loss 
(6,7%), jaundice (3,3%). About laboratory test: 83,3% patients with anemia, 36,7% 
patients with thrombocytosis, 90% patients with hight GOT levels, 53,3% patients with 
hight GPT levels, 96,7% patients with hight serum AFP levels and the average value of 
AFP was 217160,7 ng/ml (range 575 - 1686328,6 ng/ml). Mean size of the tumor on 
computerized tomography was 5,48cm (range 2 - 15cm), 60% size of tumor ≤ 5cm, 96,7% 
had only one tumor, 70% primary tumor located to the right lobe of the liver, 76,7% were 
staged PRETEXT II, the most common hepatoblastoma histopathological subtypes was as 
follows: epithelial (80%). 
Conclusions: Clinical symptoms of hepatoblastoma are usually nonspecific. A routine 
check - up strategy for early detection of hepatoblastoma and the role of investigations in 
diagnosis is very important. 
Keywords: Hepatoblastoma, Children. 
* 
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.213 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
9 
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em 
tại Bệnh viện Nhi Trung ương 
Phạm Duy Hiền1,*, Trần Đức Tâm1, Phan Hồng Long2 
1
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
2T ư ng Đ i h c Hà Nội, ố 1 T n Th t T ng, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 16 tháng 7 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 17 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Đặt vấn đề/Mục tiêu: U nguyên bào gan là loại u gan ác tính thường gặp nhất ở trẻ em. 
Nghiên cứu này mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng u nguyên bào gan ở trẻ em được 
phẫu thuật tại khoa Ngoại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/2016 đến 8/2019. 
Phương pháp: Hồi cứu 30 bệnh nhân u nguyên bào gan được phẫu thuật cắt gan tại khoa 
Ngoại tổng hợp Bệnh viện Nhi Trung ương trong giai đoạn từ tháng 01/2016 đến tháng 
08/2019. 
Kết quả: Độ tuổi trung bình là 36,8 tháng (4 - 149 tháng), độ tuổi hay gặp là dưới 5 tuổi 
(76,7%), nam gặp nhiều hơn nữ (56,7% và 43,3%). Các triệu chứng lâm sàng hay gặp là 
gan to (50%), sờ thấy khối ở bụng (30%), đau bụng vùng gan (13,3%), thiếu máu (13,3%), 
gầy sút (6,7%), vàng da (3,3%). Triệu chứng cận lâm sàng: 83,3% các bệnh nhân thiếu 
máu, 36,7% bệnh nhân tăng tiểu cầu, 90% bệnh nhân tăng GOT, 53,3% bệnh nhân tăng 
GPT, AFP tăng cao so với tuổi ở 96,7% bệnh nhân với giá trị trung bình là 217160,7ng/ml 
(575 - 1686328,6ng/ml). Kích thước khối u trung bình trên cắt lớp vi tính là 5,48cm (2 - 
15cm), 60% u ≤ 5cm, 96,7% có 1 khối u và 70% u nằm ở gan phải, 76,7% thuộc phân loại 
PRETEXT II, 80% u nguyên bào gan thuộc loại biểu mô thai. 
Kết luận: Các triệu chứng lâm sàng u nguyên bào gan thường không đặc hiệu. Chiến lược 
khám sức khỏe định kỳ cho trẻ và vai trò của các phương tiện cận lâm sàng hỗ trợ trong 
chẩn đoán là rất quan trọng. 
Từ khóa: U nguyên bào gan, trẻ em. 
1. Đặt vấn đề*= 
U nguyên bào gan là loại u gan ác tính 
thường gặp nhất ở trẻ em, chiếm khoảng 
1% tổng số các loại ung thư ở trẻ em. 
UNBG có tỷ lệ mắc cao nhất là ở trẻ dưới 1 
tuổi – 11,2/1 triệu trẻ và giảm dần theo tuổi, 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i4.213 
hầu hết gặp ở trẻ dưới 5 tuổi và thường gặp 
ở nam hơn ở nữ. Nguyên nhân gây bệnh 
còn chưa được biết rõ, tuy nhiên các nghiên 
cứu cho thấy u nguyên bào gan thường kết 
hợp với hội chứng Beckwith – Wiedemann 
(BWS), bệnh đa polýp tuyến có tính chất 
gia đình (FAP) và ở trẻ đẻ non hoặc có cân 
nặng thấp khi sinh [1]. Ở Việt Nam, u 
nguyên bào gan chiếm khoảng 47,9% các u 
gan ác tính. 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
10 
Biểu hiện lâm sàng của u gan nói chung 
và u nguyên bào gan nói riêng là các triệu 
chứng không đặc hiệu, trong đó gan to, bố 
mẹ trẻ sờ thấy khối ở gan là triệu chứng 
quan trọng cũng lý do khiến trẻ đi khám. 
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng có 
khối u vùng hạ sườn phải, cận lâm sàng dựa 
trên siêu âm, chụp cắt lớp vi tính và xét 
nghiệm nồng độ AFP trong máu. Trước đây 
do thiếu các phương tiện chẩn đoán nên 
u nguyên bào gan thường được phát hiện 
muộn khiến cho tỷ lệ tử vong của bệnh 
rất cao. 
Để đạt được kết quả tốt trong điều trị u 
nguyên bào gan thì việc phát hiện và chẩn 
đoán sớm được bệnh rất quan trọng. Để 
hiểu rõ hơn về căn bệnh này, góp phần vào 
chẩn đoán và điều trị bệnh, từ đó chúng tôi 
đặt ra mục tiêu: M tả đặc điểm lâm sàng 
và cận lâm sàng u nguyên bào gan ở t ẻ em 
được phẫu thuật t i Ngo i bệnh viện Nhi 
T ung Ương từ 1/2016 đến 8/2019. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng 
Tất cả các bệnh nhi chẩn đoán u nguyên 
bào gan (qua kết quả mô bệnh học) được 
phẫu thuật cắt gan tại khoa Ngoại tổng hợp 
bệnh viện Nhi Trung Ương trong giai đoạn 
từ tháng 01/2016 đến tháng 08/2019. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả hồi cứu. 
Các số liệu phân tích được thu thập vào 
mẫu bệnh án nghiên cứu bao gồm đặc điểm 
bệnh nhân (tuổi, giới), tiền sử (cân nặng lúc 
sinh, đẻ non, các hội chứng di truyền), lý do 
vào viện, triệu chứng lâm sàng (gan to, sờ 
thấy khối ở bụng, đau bụng vùng gan, thiếu 
máu, gầy sút cân, vàng da). Đặc điểm cận 
lâm sàng: Công thức máu (số lượng hồng 
cầu, tiểu cầu, nồng độ hemoglobin), chức 
năng đông máu cơ bản (PT%), sinh hóa 
máu (GOT, GPT, HBsAg), chất chỉ điểm 
khối u (AFP), đặc điểm khối u trên cắt lớp 
vi tính (vị trí, kích thước, số lượng, số phần 
gan bị xâm lấn theo PRETEXT, đặc tính 
của u đồng nhất hay không đồng nhất, hoại 
tử, đặc điểm ngấm thuốc cản quang, đặc 
điểm xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh 
mạch gan, tĩnh mạch cửa), đặc điểm mô 
bệnh học. Phân tích và xử lý số liệu bởi 
phần mềm thống kê SPSS 20.0. 
Phân loại giai đoạn bệnh theo 
PRETEXT của SIOPEL 2017 [2]. 
- PRETEXT I: 3 thùy gan lành cạnh 
nhau, 1 thùy bị xâm lấn. 
- PRETEXT II: 2 thùy gan lành, 2 thùy 
bị xâm lấn. 
- PRETEXT III: 1 thùy gan lành, 2 - 3 
thùy gan bị tổn thương. 
- PRETEXT IV: Không có thùy nào gan 
lành, cả 4 thùy đều bị xâm lấn. 
Phân loại mô bệnh học theo WHO 
2000 [3]. 
3. Kết quả 
Có 30 bệnh nhân thuộc đối tượng 
nghiên cứu, bao gồm 17 (56,7%) trẻ nam và 
13 trẻ nữ (43,3%). Tỷ số nam: nữ là 1,31:1. 
Tuổi trung bình là 36,8 tháng (dao động từ 
4 - 149 tháng). 
Bảng 1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi. 
Nhóm tuổi Tần số Tỷ lệ % 
≤ 1 tuổi 8 26,7 
1 – 5 tuổi 15 50,0 
> 5 tuổi 7 23,3 
Nhóm tuổi từ 1 tuổi đến 5 tuổi chiếm tỷ 
lệ cao nhất (50%), nhóm trên 5 tuổi chiếm 
tỷ lệ thấp nhất (23,3%). 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
11 
Trong nghiên cứu có 3 bệnh nhân có 
tiền sử đẻ thiếu tháng (< 37 tuần) chiếm tỷ 
lệ 10%, có 2 bệnh nhân cân nặng thấp khi 
sinh (< 2500g) chiếm 6,7%. Không có bệnh 
nhân nào có hội chứng di truyền liên quan 
đến u nguyên bào gan. 
Khám sức khỏe định kỳ phát hiện u 
nguyên bào gan chiếm 33,4%, 30% phát 
hiện qua triệu chứng bố mẹ trẻ thấy bụng to, 
tự sờ thấy u. 
Bảng 2. Đặc điểm về triệu chứng lâm sàng 
Triệu chứng Tần số Tỷ lệ % 
Gan to 15 50,0 
Sờ thấy u 9 30,0 
Đau bụng 
vùng gan 
4 13,3 
Thiếu máu 4 13,3 
Gầy sút cân 2 6,7 
Vàng da 1 3,3 
Triệu chứng lâm sàng hay gặp là gan to 
(50%) và sờ thấy u (30%). Các triệu chứng 
lâm sàng không đặc hiệu như đau bụng vùng 
gan, thiếu máu, gầy sút cân và vàng da ít gặp. 
Bảng 3. Xét nghiệm huyết học và đông máu 
Chỉ số Trung 
bình 
Thấp 
nhất 
Cao 
nhất 
Hồng cầu 
(T/l) 
4,33 ± 
0,59 
3,03 6,02 
Huyết sắc 
tố (g/l) 
108,43 ± 
23,42 
72,00 194,00 
Bạch cầu 
(G/l) 
10,31 ± 
4,13 
2,76 24,50 
Tiểu cầu 
(G/l) 
441,03 ± 
197,20 
137,00 894,00 
Prothombin 
(%) 
93,73 ± 
17,76 
71,00 140,00 
Đa số bệnh nhân lúc phát hiện bệnh có 
biểu hiện thiếu máu ở các mức độ khác 
nhau chiếm 83,3%, nồng độ huyết sắc tố 
trung bình là 180,43 ± 23,42 g/l. Số lượng 
tiểu cầu trung bình là 441,03 ± 197,20 G/l 
thấp nhất là 137 G/l, cao nhất là 894 G/l. Có 
11 bệnh nhân tăng tiểu cầu chiếm tỷ lệ 
36,7%. Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu 
đều có tỷ lệ Prothrombin trong giới hạn 
bình thường. 
Bảng 4. Xét nghiệm sinh hóa máu 
Chỉ số sinh hóa Trung bình Thấp nhất Cao nhất 
GOT (U/l) 102,75 ± 120,51 26,30 671,80 
GPT (U/l) 82,25 ± 137,41 12,90 743,00 
Bilirubin (umol/l) 8,59 ± 8,51 1,60 27,60 
Protein (g/l) 59,67 ± 10,20 39,40 79,10 
Albumin (g/l) 35,64 ± 4,63 25,70 43,10 
h
Phần lớn bệnh nhân có biểu hiện tăng 
men gan (90% tăng GOT, 53,3% tăng GPT) 
với giá trị trung bình của GOT là 102,75 ± 
120,51 U/l, GPT là 82,25 ± 137,41 U/l. Các 
bệnh nhân có nồng độ bilirubin, protein, 
albumin trong giới hạn bình thường. 
Ở thời điểm chẩn đoán, nồng độ AFP 
của 30 bệnh nhân có giá trị trung bình là 
217160,7 ± 332114,0 ng/ml, thấp nhất là 
575 ng/ml, cao nhất là 1686328,6 ng/ml 
(Bảng 5). 
Phần lớn bệnh nhân có nồng độ AFP 
tăng chiếm 96,7%, trong đó có một bệnh 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
12 
nhân AFP tăng rất cao > 1000000 ng/ml 
chiếm 3,3%. Không có bệnh nhân nào có 
nồng độ AFP < 100 ng/ml ở thời điểm chẩn 
đoán (Bảng 6). 
Bảng 5. Nồng độ AFP máu thời điểm chẩn đoán 
Nồng độ AFP máu Tần số Tỷ lệ % 
< 100 ng/ml 0 0,0 
100 – 1000000 ng/ml 29 96,7 
> 1000000 ng/ml 1 3,3 
Tổng 30 100 
r 
Bảng 6. Kích thước, vị trí và giai đoạn u nguyên bào gan trên CLVT 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ % 
Kích thước khối u 
≤ 5 cm 18 60,0 
> 5 cm 12 40,0 
Số lượng u 
1 khối u 29 96,7 
≥ 2 khối u 1 3,3 
Vị trí u 
Gan phải 21 70,0 
Gan trái 8 26,7 
Gan trái + phải 1 3,3 
U đồng nhất 4 13,3 
U không đồng nhất 26 86,7 
Tổng 30 100,0 
Có hoại tử 11 36,7 
Không có hoại tử 19 63,3 
Tổng 30 100,0 
Có vôi hóa 4 13,3 
Không có vôi hóa 26 86,7 
Tổng 30 100,0 
Giảm tỷ trọng trước tiêm 20 66,7 
Đồng và tăng tỷ trọng trước tiêm 10 33,3 
Tổng 30 100,0 
Ngấm thuốc mạnh sau tiêm 20 66,7 
Ngấm thuốc kém sau tiêm 10 33,3 
Tổng 30 100,0 
Đặc điểm xâm lấn 
mạch máu 
Tĩnh mạch chủ dưới 1 3,3 
Tĩnh mạch cửa 1 3,3 
Có 1 trường hợp u xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới chiếm tỷ lệ 3,3%, 1 trường hợp u xâm lấn tĩnh 
mạch cửa gây huyết khối tĩnh mạch cửa phải chiếm 3,3%. 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
13 
Hình 1. Tỉ lệ phần trăm nhóm PRETEXT 
t 
Hầu hết các bệnh nhân chỉ có một khối 
u (96,7%). Vị trí khối u gặp nhiều nhất ở 
gan phải (70%). Khối u có kích thước ≤ 
5cm chiếm tỷ lệ 60%, các khối u có kích 
thước > 5cm chiếm tỷ lệ 40%. Đường kính 
trung bình của khối u là 5,48 ± 2,82 cm 
(dao động từ 2 - 15 cm). 
Các khối u thường giảm tỷ trọng không 
đồng nhất trước tiêm và ngấm thuốc mạnh 
sau tiêm, 13,3% khối u có vôi hóa và 36,7% 
có hoại tử trong u. 
Chiếm tỷ lệ lớn nhất là nhóm PRETEXT 
II (76,7%), tiếp đến là nhóm PRETEXT I 
(13,3%), nhóm PRETEXT III chiếm tỷ lệ 
10,0% và không có bệnh nhân nào thuộc 
phân loại nhóm PRETEXT IV (Hình 1). 
Trong 30 bệnh nhân nghiên cứu phần 
lớn bệnh nhân có giải phẫu bệnh loại biểu 
mô chiếm tỷ lệ 93,3% so với loại hỗn hợp 
biểu mô - trung mô là 6,7%. 
Trong phân loại biểu mô thì đa số thuộc 
týp biểu mô thai - 24 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 
80%, 1 bệnh nhân có giải phẫu bệnh thể hỗn 
hợp biểu mô phôi - thai chiếm tỉ lệ 3,3% và 
3 bệnh nhân có giải phẫu bệnh là týp bè lớn 
chiếm 10%. Trong phân loại hỗn hợp biểu 
mô - trung mô có 2 bệnh nhân giải phẫu 
bệnh là thể hỗn hợp biểu mô - trung mô có 
tính chất u quái chiếm 6,7%. 
Bảng 7. Đặc điểm mô bệnh học 
Phân loại Týp mô bệnh học Tần số Tỷ lệ % 
Loại biểu mô 
Týp biểu mô thai 24 80,0 
Týp hỗn hợp biểu mô phôi - thai 1 3,3 
Týp bè lớn 3 10,0 
Týp tế bào nhỏ không biệt hóa 0 0,0 
Loại hỗn hợp biểu mô - 
trung mô 
Týp không có đặc trưng u quái 0 0,0 
Týp có đặc trưng u quái 2 6,7 
r 
Trong nghiên cứu không gặp bệnh nhân 
có thể hỗn hợp biểu mô - trung mô không 
có tính chất u quái và thể tế bào nhỏ không 
biệt hóa. 
4. Bàn luận 
* Phân bố tuổi, giới trong nhóm 
nghiên cứu: Kết quả nghiên cứu này ghi 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
14 
nhận 76,7% UNBG phát hiện ở trẻ ≤ 5 tuổi 
và 23,3% trường hợp > 5 tuổi. Kết quả này 
cũng phù hợp với tác giả Anil Darbari 
(2003) với 91% UNBG được phát hiện ở trẻ 
≤ 5 tuổi [4]. Tương tự như nghiên cứu của 
tác giả Stocker (2000) 90% UNBG phát 
hiện ở trẻ ≤ 5 tuổi, 4% phát hiện ở tuổi sơ 
sinh và 10% phát hiện ở trẻ lớn [5]. Yếu tố 
tuổi có ý nghĩa trong chẩn đoán lâm sàng u 
nguyên bào gan, chủ yếu gặp ở trẻ dưới 5 
tuổi, đây là một trong những đặc điểm giúp 
chẩn đoán phân biệt u nguyên bào với ung 
thư biểu mô tế bào gan. Trong nghiên cứu 
này nam gặp nhiều hơn nữ với tỷ số 1,31: 1 
tương tự như các kết quả của Busweiler 
(2016) nghiên cứu 103 bệnh nhân u nguyên 
bào gan được phẫu thuật tại Hà Lan từ năm 
1990 đến 2013 tỷ lệ nam: nữ là 1,51: 1 [6]. 
Kết quả này phù hợp với đặc điểm u nguyên 
bào gan thường gặp nhiều hơn ở nam. 
* Triêu chứng lâm sàng: Triệu chứng 
hay gặp là gan to (50%) và sờ thấy u (30%). 
Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu 
trong và ngoài nước [7]. Điều này cho thấy 
triệu chứng sờ thấy u gan là một trong những 
triệu chứng chính để phát hiện và đưa trẻ đến 
viện. Đồng thời chứng tỏ u nguyên bào gan 
thường diễn biến âm thầm, không gây ra 
những rối loạn đáng kể từ lúc khởi phát chỉ 
đến khi khối u đủ to để sờ thấy thì mới phát 
hiện được. Ngoài ra còn gặp các triệu chứng 
không đặc hiệu như đau bụng vùng gan, thiếu 
máu, gầy sút cân, vàng da; sự xuất hiện các 
dấu hiệu bệnh ở trẻ nhỏ nhiều khi rất mơ 
hồ, vì vậy việc cần thiết phải khám sức 
khỏe tổng quát, sử dụng các phương tiện 
cận lâm sàng để hỗ trợ thêm trong chẩn 
đoán là rất quan trọng. 
* Xét nghiệm cận lâm sàng: Có 83,3% 
bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu ở mức độ 
vừa và nhẹ. Kết quả này tương đồng với kết 
quả của Nguyễn Quang Vinh tỷ lệ bệnh 
nhân biểu hiện thiếu máu là 73% [8]. Cơ 
chế chung gây thiếu máu là do giảm sản 
xuất các protein là nguyên liệu tạo nên tế 
bào máu. Tuy nhiên triệu chứng thiếu máu 
ở trẻ em gặp trong rất nhiều bệnh lý khác 
nhau, đặc biệt là bệnh lý ác tính và các bệnh 
lý mạn tính cho nên triệu chứng này khó có 
thể kết luận là một đặc điểm cận lâm sàng 
riêng cho u nguyên bào gan. Kết quả nghiên 
cứu của chúng tôi có 11 bệnh nhân tăng tiểu 
cầu chiếm tỷ lệ 36,7% với tôi số lượng tiểu 
cầu trung bình của bệnh nhân là 441,03 ± 
197,20 G/l (137 – 894 G/l) tương tự với 
nghiên cứu của tác giả Stocker và cộng sự 
nhận 50% bệnh nhân có tăng tiểu cầu trong 
đó với số lượng tiểu cầu > 800 G/l chiếm tỷ 
lệ 30% [5], nghiên cứu của Nguyễn Quang 
Vinh có 45,9% số bệnh nhân tăng tiểu cầu 
[8], tác giả Lê Thị Thùy Dung tỷ lệ này là 
66% [7]. Nguyên nhân tăng tiểu cầu trong u 
nguyên bào gan là do vai trò của 
thrombopoietin, IL – 6 và IL – 1β. Đây 
cũng là một chỉ số quan trọng cần lưu ý 
trong chẩn đoán u nguyên bào gan. 
Trong nghiên cứu này nồng độ AFP ở 
thời điểm chẩn đoán có giá trị trung bình là 
217160,7 ± 332114,0 ng/ml (575 - 
1686328,6 ng/ml). Phần lớn bệnh nhân có 
nồng độ AFP cao hơn so với lứa tuổi 
(chiếm 96,7%), không có bệnh nhân nào có 
nồng độ AFP lúc phát hiện < 100 ng/ml. 
Kết quả này tương tự với kết quả của Lê 
Thị Thùy Dung (2014) nồng độ AFP trung 
bình là 234140,0 ng/ml và 96,2% bệnh nhân 
có nồng độ AFP tăng [7], tuy nhiên trong 
nghiên cứu của tác giả có 2 bệnh nhân có 
nồng độ AFP thấp ở thời điểm chẩn đoán 
(< 100ng/ml). AFP tăng cao là do được sản 
xuất bởi các tế bào ung thư. Vì thế có thể 
dựa vào nồng độ AFP tăng cao như là một 
yếu tố để chẩn đoán bệnh và theo dõi bệnh 
tái phát. Nồng độ AFP thấp ngay từ lúc 
chẩn đoán (< 100ng/ml) là yếu tố tiên lượng 
xấu, bệnh nhân nào có đặc điểm này sẽ 
được xếp vào nhóm nguy cơ cao cần điều 
trị nhiều đợt hóa chất hơn. 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
15 
* Đặc điểm hình ảnh u nguyên bào 
gan trên cắt lớp vi tính: Kết quả của 
chúng tôi cho thấy 96,7% bệnh nhân chỉ có 
một khối u, vị trí khối u gặp nhiều nhất ở 
gan phải (70%). U có kích thước ≤ 5cm 
chiếm tỷ lệ 60%. So sánh với tác giả 
Stocker 80% bệnh nhân chỉ có 1 khối u, 
57% khối u nằm ở gan phải, 15% u nằm ở 
gan trái và có 20% khối u nằm ở cả 2 thùy 
[5] , tác giả Nguyễn Quang Vinh 75,7% các 
trường hợp chỉ có 1 khối u, khối u gan phải 
chiếm tỷ lệ 59,5% [8], chúng tôi nhận thấy 
các tỷ lệ trên khác nhau không nhiều điều 
đó phù hợp với biểu hiện chung của u 
nguyên bào gan, thường tổn thương đơn ổ 
và nằm ở gan phải. 76,7% khối u thuộc 
phân loại PRETEXT II tương tự như kết 
quả của tác giả Lê Thị Thùy Dung nhóm 
PRETEXT II chiếm 43,4% [7]. Chúng tôi 
phân loại bệnh nhân theo nhóm PRETEXT 
vì chi tiết 3 mặt cắt liên quan đến 3 tĩnh 
mạch gan chia gan làm 4 phần rất có giá trị 
và cần được lưu ý trong cắt gan, hơn nữa 
đây là phân loại được sử dụng rộng rãi, đơn 
giản, hiệu quả, có thể tiên lượng trước 
phương pháp phẫu thuật, xác định về giải 
phẫu phần u gan cắt bỏ cũng như phần gan 
lành còn lại sau phẫu thuật. Các khối u 
thường giảm tỷ trọng không đồng nhất 
trước tiêm và ngấm thuốc mạnh sau tiêm, 
13,3% khối u có vôi hóa và 36,7% có hoại 
tử trong u tương tự với tác giả Nguyễn Đức 
Hạnh (2014) [9]. Nguyên nhân của sự 
không đồng nhất và ngấm thuốc mạnh là do 
khối u lớn và tăng sinh mạch nhiều, bên 
trong có các ổ hoại tử, chảy máu, vách hóa 
và các thể kết hợp trung mô hay có vôi hóa 
dạng thô. 
* Đặc điểm mô bệnh học: Phần lớn 
bệnh nhân trong nghiên cứu có kết quả giải 
phẫu bệnh thuộc loại biểu mô chiếm tỷ lệ 
93,3% so với loại hỗn hợp biểu mô – trung 
mô là 6,7% (Bảng 7). Trong phân loại biểu 
mô thì đa số thuộc týp biểu mô thai – 24 
bệnh nhân chiếm tỉ lệ 80%. Kết quả của 
chúng tôi tuy có sự khác biệt với các tác giả 
Stocker và Trương Đình Khải, nhưng nói 
chung phân bố cơ bản theo mô bệnh học thì 
tỷ lệ nhóm biểu mô hoàn toàn chiếm ưu thế 
hơn so với nhóm hỗn hợp biểu mô – trung 
mô. Có hai nhóm mô học liên quan đến tiên 
lượng bệnh là loại biểu mổ thai đơn thuần 
(PFH) tế bào u có hình dạng gần giống tế 
bào gan và được xếp vào loại mô học thuận 
lợi và loại biểu mô tế bào nhỏ không biệt 
hóa (SCUD) tế bào u phát triển hỗn loạn, 
phân chia, không kết dính với nhau được 
xếp vào nhóm không thuận lợi. 
5. Kết luận 
U nguyên bào gan là loại u gan ác tính 
thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Nam gặp 
nhiều hơn nữ. Các triệu chứng lâm sàng u 
nguyên bào gan thường không đặc hiệu hay 
gặp là gan to và sờ thấy u. Xét nghiệm 
thường biểu hiện tăng nồng độ AFP máu và 
tăng tiểu cầu. Đặc điểm hình ảnh trên cắt 
lớp vi tính là một khối u lớn nằm ở gan 
phải, giảm tỷ trọng trước tiêm, ngấm thuốc 
không đồng nhất sau tiêm. 
Chiến lược khám sức khỏe định kỳ cho 
trẻ và vai trò của các phương tiện cận lâm 
sàng hỗ trợ trong chẩn đoán là rất 
quan trọng. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Spector LG, Jill B. The Epidemiology of 
Hepatoblastoma. Pediatr Blood Cancer 
2012;59(5):776-779. https://doi.org/ 10.1002/ 
pbc.24215 
[2] Towbin AJ, Meyers RL, Woodley H et al. 
2017 PRETEXT: radiologic staging system 
for primary hepatic malignancies of 
childhood revised for the Paediatric Hepatic 
P.D. Hien et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 4 (2020) 8-16 
16 
International Tumour Trial (PHITT). Pediatr 
Radiol 2017;48:536-554. https://doi.org/10.1 
007/s00247-018-4078-z. 
[3] Hamilton SR, Aaltonen LA. World Health 
Organization Classification of Tumours 
Hepatoblastoma: Pathology and Genetics of 
Tumours of the Digestive System. IARC 
Press; 2000, p. 184-189. 
[4] Darbari A, Sabin KM, Shapiro CN et al. 
Epidemiology of primary hepatic 
malignancies in U.S. children. Hepatology 
2008;38(23):560-566. https://doi.org/10.105 
3/jhep.2003.50375 
[5] Thomas SJ, Schmidt D. Hepatoblastoma. 
Pathology and Genetics of Tumours of the 
Digestive System. Tumours of the liver and 
intrahepatic bile ducts 2000;(8):184-185. 
[6] Busweiler LA, Wijnen MH, Wilde JC et al. 
Surgical treatment of childhood 
hepatoblastoma in the Netherlands (1990- 
2013). Pediatr Surg Int 2016;33:23- 
31.https://doi.org/10.1007/s00383-016-3989-
8 
[7] Dung LTT. Study on clinical epidemiological 
characteristics and evaluation of 
hepatoblastoma treatment results in children. 
Master's thesis in Medicine, Hanoi Medical 
University; 2014, p. 41- 42. (in Vietnamese) 
[8] Vinh NQ. Morphology of hepatoblastoma. 
Specialist Level II's Thesis, Hanoi Medical 
University; 2006, p. 34-35. (in Vietnamese) 
[9] Hanh ND. Image characteristics and value of 
two-row CT scan in the diagnosis of 
hepatoblastoma in children. Master's thesis in 
Medicine, Hanoi Medical University; 
2014, p. 36. (in Vietnamese) 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_can_lam_sang_u_nguyen_bao_gan_o_tre_em_tai.pdf