Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thái độ xử trí khi đẻ của thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, biến chứng khi

đẻ cho thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc.

Kết quả: Trong năm 2015 có 36 thai phụ giảm tiểu cầu vô văn. Tỷ lệ

mổ lấy thai của các nhóm có số lượng tiểu cầu <50g :100%;="">

83%; >100G/l:80 %. Tỷ lệ truyền tiểu cầu của các nhóm có số lượng

tiểu cầu <50g :100%;="" 50-100g/l:="" 26%;="">100G/l:0%.

Kết luận: Xét nghiệm công thức máu khi khám thai để phát hiện sớm

bệnh giảm tiểu cầu thai kỳ. Chỉ định truyền tiểu cầu cũng như mổ lấy

thai đối với thai phụ giảm tiểu cầu còn chưa chặt chẽ. Cần theo dõi chặt

chẽ và làm công thức máu ngay sau sinh cho trẻ

pdf 5 trang phuongnguyen 260
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thái độ xử trí khi đẻ của thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thái độ xử trí khi đẻ của thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thái độ xử trí khi đẻ của thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
ĐÀO THỊ THANH HƯỜNG, TRẦN DANH CƯỜNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
56
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Đào Thị Thanh Hường(1), Trần Danh Cường(2)
(1) Bệnh viện Phụ sản Trung ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG,
THÁI ĐỘ XỬ TRÍ KHI ĐẺ CỦA THAI PHỤ
GIẢM TIỂU CẦU VÔ CĂN
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng, biến chứng khi 
đẻ cho thai phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. 
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu theo dõi dọc.
Kết quả: Trong năm 2015 có 36 thai phụ giảm tiểu cầu vô văn. Tỷ lệ 
mổ lấy thai của các nhóm có số lượng tiểu cầu <50G/l:100%; 50-100G/l: 
83%; >100G/l:80 %. Tỷ lệ truyền tiểu cầu của các nhóm có số lượng 
tiểu cầu 100G/l:0%.
Kết luận: Xét nghiệm công thức máu khi khám thai để phát hiện sớm 
bệnh giảm tiểu cầu thai kỳ. Chỉ định truyền tiểu cầu cũng như mổ lấy 
thai đối với thai phụ giảm tiểu cầu còn chưa chặt chẽ. Cần theo dõi chặt 
chẽ và làm công thức máu ngay sau sinh cho trẻ. 
Từ khóa: Thai kỳ, giảm tiểu cầu, giảm tiểu cầu vô căn.
Abstract 
CLINICAL CHARACTERISTICS, SUBCLINICAL, 
ACCESS MANAGEMENT FOR THROMBOCYTOPENIA 
PREGNANCY DURING LABOR IN THE NATIONAL 
HOPITAL OF OBSTETRIC AND GYNECOLOGY 2015
Objective: describing clinical, laboratory feature and complication of 
thrombocytopenia in pregnancy at the Nationnal Hospital of OB/GYN. 
Methods: Prospective - cross inspect research.
Objective: Describing clinical, laboratory feature and complication of 
thrombocytopenia in pregnancy at the Nationnal Hospital of OB/GYN. 
Results: There are 36 pregnants trombocytopenia in 2015. The rate 
of secarean in the group that the amount of platelet < 50 G/l is 100%, 
50-100G/l is 83%; >100G/l is 80%. The rate of platelet transfusion in the 
group that the amount of platelet < 50G/l is 100%; 50-100G/l is 26%; 
>100G/l is 0%.
Conclusion: Check the blood-test for each examination to find out 
the pregnant’s thrombocytopenic as soon as possible. Indicate to have 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đào Thị Thanh Hường, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 15/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
10/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/04/2016
Từ khoá: Thai kỳ, giảm tiểu cầu, 
giảm tiểu cầu vô căn. 
Keywords: Pregnancy, 
thrombocytopenia, indiopathicn 
thrombocytopenia.
2.3. Quy trình nghiên cứu
Phương tiện sử dụng: Máy đếm công thức 
máu XT2000i.
- Khi vào đẻ, thai phụ được hỏi tiền sử phát hiện 
giảm tiểu cầu trong quá trình khám thai, điều trị 
nội khoa, ghi chép lại toàn bộ kết quả xét nghiệm 
công thức máu.
- Theo dõi chuyển dạ bình thường, tiến hành thu 
thập các thông tin của cuộc đẻ: biến chứng chảy 
máu, số lượng tiểu cầu, cách đẻ, tình trạng tiểu cầu 
sơ sinh và bà mẹ sau khi đẻ.
- Trẻ sơ sinh của các bà mẹ này được làm xét 
nghiệm công thức máu ngay sau sinh trong hai 
bốn giờ.
3. Kết quả
3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Phân bố tuổi thai phụ: Tuổi trung bình là 
29,80±5,44, thấp nhất là 20 tuổi, cao nhất là 41 tuổi. 
Phân bố tuổi thai: Tuổi trung bình là 38,8±1,8, 
thấp nhất là 37 tuần, cao nhất là 42 tuần.
Đối với sáu trường hợp ba tháng đầu: có một 
trường hợp 8 tuần (do chảy máu chân răng), ba 
hợp do khám thai làm chẩn đoán trước sinh, hai 
trường hợp tình cờ làm xét nghiệm công thức máu 
phát hiện ra. 
Trong 36 thai phụ: chỉ có hai trường hợp phát hiện 
do chảy máu chân răng đi khám (8 tuần và 22 tuần). 
Có chín trường hợp chỉ được phát hiện giảm tiểu cầu 
khi chuyển dạ, trong đó có ba trường hợp tiểu cầu 
dưới 50G/l và một trường hợp tiểu cầu >100G/l.
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 56 - 60, 2016
57
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
1. Đặt vấn đề
Tiểu cầu đóng vai trò quan trọng trong quá trình 
cầm máu. Khi số lượng tiểu cầu dưới 150.000/μl 
được gọi là giảm tiểu cầu [1].
Giảm tiểu cầu do nhiều nguyên nhân gây ra 
trong đó có giảm tiểu cầu thai kỳ.
Phát hiện sớm, xác định được nguyên nhân tạo 
điều kiện thuận lợi cho quá trình điều trị, quản lý 
thai cũng như thái độ xử trí khi đủ tháng hay trong 
chuyển dạ. 
Tuy nhiên, việc này không phải lúc nào cũng 
thực hiện được, do các thai phụ không chăm sóc, 
quản lý sức khỏe thường xuyên cũng như không 
quản lý khám thai một cách hệ thống hoặc quan 
niệm siêu âm thai là quản lý thai.
Tỷ lệ giảm tiểu cầu vô căn thai kỳ ước khoảng 
7-8% [2]. Tuy nhiên không phải tất cả các thai 
phụ đều được phát hiện trước khi đẻ. Điều này 
làm cho các thày thuốc sản khoa gặp nhiều khó 
khăn và sẽ lung túng trong xử trí khi thai phụ 
chuyển dạ và đẻ vì nguy cơ chảy máu do giảm 
tiểu cầu. 
Gần đây giảm tiểu cầu được quan tâm nhiều 
hơn cho nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
này nhằm mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng 
và cận lâm sàng, biến chứng khi đẻ cho thai 
phụ giảm tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản 
Trung ương.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả các phụ nữ sinh 
con tại Bệnh viện phụ sản trưng ương có tiểu cầu 
dưới 150G/l và không bị mắc bất cứ bệnh gì khác 
trong năm 2015.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các trường hợp hồ sơ lưu 
trữ thiếu các thông tin cần thiết.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả tiến cứu không có nhóm chứng.
platelet transfusion whether indicate secarean for the pregnant not closely. Mornitor carefully and 
take the blood test after delivery for newborn babies. 
Keywords: Pregnancy, thrombocytopenia, indiopathicn thrombocytopenia.
Bảng 1. Phân bố theo tuổi thai phát hiện và số lượng tiểu cầu của người mẹ
ĐÀO THỊ THANH HƯỜNG, TRẦN DANH CƯỜNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
58
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Sự khác biệt về số lượng tiểu cầu giữa các nhóm 
có thời điểm phát hiện giảm tiểu cầu khác nhau 
không có ý nghĩa thống kê (P=0,478).
Sự khác biệt về tiểu cầu của con giữa các nhóm 
thai phụ có số lượng tiểu cầu khác nhau là không 
có ý nghĩa thống kê (P=0,914).
3.2. Thái độ xử trí khi sinh
Chỉ định truyền tiểu cầu khác nhau một cách 
có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm thai phụ có số 
lượng tiểu cầu khác nhau (P=0.0001), 100% các 
thai phụ có tiểu cầu <50G/l được chỉ định truyền 
tiểu cầu và 100% thai phụ có tiểu cầu >100G/l 
không có chỉ định truyền tiểu cầu. Việc chỉ định 
truyền tiểu cầu hầu hết do các nhà sản khoa và hồi 
Bảng 2. Mối liên quan giữa tiểu cầu của người mẹ và con
Biểu đồ 1. Phân bố sơ sinh giảm tiểu cầu theo nhóm thai phụ giảm tiểu cầu
Số lượng tiểu cầu
Truyền tiểu cầu Không truyền tiểu cầu
Tổng
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
<50G/l 13 100 0 0 13
50-100G/l 5 26 14 74 19
>100G/l 0 0 4 100 4
Tổng 18 50 18 50 36
Bảng 3. Chỉ định truyền tiểu cầu và số lượng tiểu cầu
Bảng 4. Mối liên quan giữa số lượng tiểu cầu và chỉ định mổ lấy thai
sức gây mê chỉ định (chỉ có một trường hợp chỉ định 
truyền máu do hội chẩn huyết học).
Sự khác biệt về tỷ lệ mổ đẻ giữa các nhóm có 
số lượng tiểu cầu khác nhau là không có ý nghĩa 
thống kê (P=0,242). Đối với các thai phụ có tiểu 
cầu <50G/l, tỷ lệ mổ đẻ là 100%.
Không có trường hợp nào bị chảy máu sau đẻ 
hay sau mổ.
4. Bàn luận
Đồng thuận với nghiên cứu của Kiều Thị Thanh, 
trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của nhóm đối 
tượng nghiên trong độ tuổi sinh đẻ (29,80±5,44), 
chủ yếu từ 25 đến 35 tuổi (chỉ có một trường hợp 
20 tuổi và một trường hợp 41 tuổi) [3].
Không có trường hợp nào phải đình chỉ thai vì 
bệnh giảm tiểu cầu, tất cả đều sinh đủ tháng.
4.1. Mối liên quan giữa tuổi thai tại 
thời điểm phát hiện giảm tiểu cầu và số 
lượng tiểu cầu
Theo McCrae, giảm tiểu cầu thai kỳ đơn độc do 
hai nguyên nhân gây ra: giảm tiểu cầu do thai nghén 
gây ra, thường ở mức độ vừa và nhẹ, xảy ra vào ba 
tháng cuối của thai kỳ; và giảm tiểu cầu do tự miễn, 
thường gây giảm tiểu cầu từ vừa đến nặng, xảy ra 
vào ba tháng đầu và ba tháng giữa của thai kỳ [4]. 
Trong nghiên cứu này (bảng 1): nhóm giảm 
tiểu cầu nhẹ (>100G/l) 100% (6/6 trường hợp) 
phát hiện vào ba tháng giữa của thai kỳ; ngược lại 
có 100% (6/6 trường hợp) phát hiện ở ba tháng 
đầu của thai kỳ đều có tiểu cầu dưới 100G/l trong 
đó có ba trường hợp tiểu cầu dưới 50G/l.
Hai trường hợp được phát hiện giảm tiểu cầu 
do xuất huyết (chảy máu chân răng) đều ở ba 
tháng đầu và ba tháng giữa thai kỳ (8 tuần và 22 
tuần). Điều này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu 
của các tác giả khác trên thế giới như Stavrou [5].
4.2. Mối liên quan giữa số lượng tiểu 
cầu của mẹ và con
Trong nghiên cứu này (bảng 2) cho thấy: 
không có mối liên quan giữa số lượng tiểu cầu 
của người mẹ với nguy cơ giảm tiểu cầu ở trẻ 
sơ sinh. Có ba trường hợp mẹ giảm tiểu cầu 
rất nặng (<30G/l) nhưng tiểu cầu sơ sinh bình 
thường (>150G/l), nhưng trong 13 trường hợp 
sơ sinh giảm tiểu cầu lại có 5 trường hợp tiểu cầu 
của mẹ giảm trung bình (50-100G/l).
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), 56 - 60, 2016
59
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
Theo Stavrou, trong trường hợp giảm tiểu cầu 
thai kỳ do nguyên nhân tự miễn, các kháng thể 
kháng tiểu cầu có thể đi qua hang rào rau- thai 
gây giảm tiểu cầu ở thai nhi. Mức độ giảm tiểu 
cầu ở thai nhi phụ thuộc vào nhiều yếu tố đến nay 
cơ chế vẫn chưa được hiểu rõ như sự trưởng thành 
của hệ thống lưới nội mô bào thai, và không thể dự 
đoán trước mức độ giảm tiểu cầu sơ sinh dựa vào 
các thông số lâm sàng hoặc kết quả xét nghiệm đã 
có của thai phụ [5].
Theo Burrows khoảng 15% sơ sinh của những 
bà mẹ giảm tiểu cầu thai kỳ do nguyên nhân tự 
miễn có tiểu cầu <100G/l [6]. Trong nghiên cứu 
này, do không loại trừ được giảm tiểu cầu thai kỳ 
do thai nghén gây ra nên tỷ lệ này thấp hơn (2,9%- 
9/31 trường hợp) và không có trường hợp <50G/l 
(thấp nhất là 53G/l).
Vì những lý do nêu trên chúng ta cần phải theo 
dõi chặt chẽ, làm xét nghiệm công thức máu cho sơ 
sinh của những bà mẹ giảm tiểu cầu, phát hiện kịp 
thời các trường hợp giảm tiểu cầu sơ sinh cũng như 
nguy cơ xuất huyết- Đây cũng là điều được khuyến 
cáo trên thế giới từ năm 1993 [7].
4.3. Mối liên quan giữa số lượng tiểu 
cầu và chỉ định truyền máu
Trong nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3) chỉ 
định truyền tiểu cầu hoàn toàn phụ thuộc vào mức 
độ giảm tiểu cầu của thai phụ.
Tuy nhiên một vấn đề nổi lên là 100% trường 
hợp tiểu cầu <50G/l được chỉ định truyền tiểu cầu 
và 100% trường hợp tiểu cầu >100G/l không có 
chỉ định truyền tiểu cầu, điều này hoàn toàn phù 
hợp với khuyến cáo [7]. Đồng thuận với các tác 
giả khác, trong nghiên cứu trước đây của chúng 
tôi nhận thấy: với tiểu cầu <30G/l chỉ định truyền 
tiểu cầu là tuyệt đối; tiểu cầu 30-50G/l không có 
chỉ định bắt buộc truyền tiểu cầu [8]. Tuy nhiên do 
số lượng đối tượng nghiên cứu có hạn (<50) nên 
kết quả nghiên cứu này chưa mang tính đại diện. 
Trong 36 đối tượng nghiên cứu, bệnh nhân tiểu 
cầu dưới 80G/l khi theo dõi có một trường hợp đẻ 
thường và một trường hợp đẻ forcep không truyền 
tiểu cầu mà không xảy ra bất kỳ có biến chứng 
xuất huyết nào.
4.4. Mối liên quan giữa số lượng tiểu 
cầu và chỉ định sản khoa
Theo kết quả bảng 4 cho thấy: 100% mổ 
đẻ khi tiểu cầu 100G/l 
chỉ có một trường hợp đẻ thường. Điều này tuy 
không phù hợp với các khuyến cáo trên thế giới 
[7],[9] nhưng hoàn toàn lý giải được bởi chỉ 
định mổ trong nghiên cứu này của chúng tôi là 
do nguyên nhân sản khoa (bốn trường hợp còn 
lại chỉ định mổ do nguyên nhân sản khoa). Chỉ 
định mổ đẻ chỉ tuyệt đối khi tiểu cầu <30G/l.
Cũng như nghiên cứu khác, trong 36 trường 
hợp đều sinh đủ tháng, không có trường hợp nào 
sinh non [3].
Tuy nhiên cũng như cách xem xét về chỉ định 
truyền tiểu cầu, nếu bỏ qua hai nhóm có chỉ 
định tuyệt đối về can thiệp sản khoa, chỉ so 
sánh hai nhóm 50-100G/l và >100G /l nhận 
thấy không có sự khác biệt về chỉ định mổ lấy 
thai. Có thể lý giải: việc mổ lấy thai bị chi phối 
bởi nhiều yếu tố sản khoa không chỉ do yếu tố 
huyết học (sản khoa chiếm tới 58,33% -21/36 
trường hợp; tiểu cầu 30-50G/l là sáu trường 
hợp; tiểu cầu 50-100G/l là mười một trường 
hợp). Tuy nhiên, không thể phủ nhận vấn đề 
này có liên quan đến một số nhà sản khoa còn 
lung túng khi xử trí vấn đề giảm tiểu cầu và thai 
nghén (bốn trường hợp chỉ định mổ vì tiểu cầu 
50-100G/l) mặc dù đã có nhiều tài liệu chỉ ra 
rằng: với mức độ tiểu cầu > 50G/Gl không có 
dấu hiệu xuất huyết, không có bằng chứng cho 
việc mổ lấy thai an toàn hơn đẻ đường âm đạo 
[9],[10].
Cũng như Kiều Thị Thanh, nghiên cứu này 
cho thấy: tuy số lượng tiểu cầu ở mức độ khác 
nhau nhưng cả hai nhóm mổ đẻ và đẻ đường âm 
đạo đều không có tai biến chảy máu, không có 
trường hợp nào phải mổ cắt tử cung [3]. 
5. Kết luận
Tuổi trung bình của người mẹ là 29,80±5,44, 
thấp nhất là 20 tuổi, cao nhất là 41 tuổi. Tuổi thai 
trung bình là 38,8±1,8, thấp nhất là 37 tuần, cao 
nhất là 42 tuần.
Giảm tiểu cầu thai kỳ là bệnh giảm tiểu cầu 
với mức độ tự nhẹ đến nặng, hầu như không có 
triệu chứng có thể phát hiện sớm từ ba tháng 
đầu của thai kỳ bằng cách xét nghiệm công thức 
máu. Số lượng tiểu cầu không có sự khác nhau 
theo thời điểm phát hiện giảm tiểu cầu.
ĐÀO THỊ THANH HƯỜNG, TRẦN DANH CƯỜNG
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
60
Tậ
p 
14
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
6
100% các thai phụ có tiểu cầu <50G/l được 
chỉ định truyền tiểu cầu và 100% thai phụ có tiểu 
cầu >100G/l không có chỉ định truyền tiểu cầu. 
Đối với các thai phụ có tiểu cầu <50G/l, tỷ lệ mổ 
đẻ là 100%. Tỷ lệ mổ lấy thai không có sự khác 
biệt theo số lượng tiểu cầu do có sự chi phối các 
yếu tố sản khoa.
Giảm tiểu cầu thai kỳ là bệnh lý có thể gây 
giảm tiểu cầu sơ sinh, việc theo dõi chặt chẽ và làm 
công thức máu ngay sau sinh cho trẻ là cần thiết.
Tài liệu tham khảo
1. Jeffrey A, Levy and Lance D.Murphy. Throbocytopenia in pregnancy. 
JABFP. 2002 July- Aug; Vol.15 No.4; 290.
2. Enrique V.Vera et al. Throbocytopenia in pregnancy. Medscape. 2015, Jan 12.
3. Kiều Thị Thanh. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng 
và thái độ xử trí đối với thai phụ bị xuất huyết giảm tiểu cầu chưa rõ 
nguyên nhân tại bệnh viện Bạch Mai. Luận văn tốt nghiệp cao học 
chuyên nghành sản phụ khoa. Trường Đại học Y Hà Nội. 2008;tr 34,59.
4. McCrae KR, MD. Throbocytopenia in pregnancy. Hematology.2010, 
no.1;397-402. PubMed.
5. Stavrou E, MD and McCrae KR, MD. Immune thrombocytopenia in 
pregnancy. Hematol Oncol Clin North Am. 2009 Dec; 23(6):1299-1316
6. Burrows RF, Kelton J. Pregnancy in patients with idiopathic 
thrombocytopenic purpura: assessing the risk for the infant at delivery. 
Obstet Gynecol Surv. 1993 Dec; 48(12):781-778.
7. Anita R, Terry G, Roberto S, Andra H.J. Quick Reference 2013 Clinical 
Practice Guide on thrombocytopenia in pregnancy. American Society of 
Hematology.2013. ASH website:www.hematology.org/practiceguideline.
8. Đào Thị Thanh Hường. Thái độ xử trí khi sinh đối với thai phụ giảm 
tiểu cầu vô căn tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2012. Tạp chí 
Sản phụ khoa. Tập 13(02),05-2015;tr 86-88.
9. Letsky EA, Greaves M. Guidelines on the investigation and 
management of thrombocytopenia in pregnancy and neonatal alloimmune 
thrombocytopenia. Maternal and Neonatal Haemostasis Working Party of 
the Haemostasis and Thrombosis Task Force of the British Society for 
Haematology. Br J Haematol.1996 Oct; 95 (1):21-6.
10. You- Woong Won, Won Moon, Yeong- Seop Yun, Ho- Suk Oh, Jung- 
Hye Choi, Young- Yeul Lee, In- Soon Kim, Il- Young Choi, Myung- Ju 
Ahn. Clinical aspects of pregnancy and delivery in patients with chronic 
idiopathic Thrombocytopenia Purpura. The Korean Journal of Internal 
Medicine. 2005;20:129-134.

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_lam_sang_can_lam_sang_thai_do_xu_tri_khi_de_cua_tha.pdf