Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tăng prolactin máu do u tiết prolactin
Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm nội tiết và hình
ảnh u tuyến yên ở bệnh nhân tăng prolactin máu do u tiết prolactin.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu dựa trên 33 bệnh nhân tăng
prolactin máu do u tiết prolactin. Bệnh nhân được chẩn đoán, theo dõi điều
trị tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Nghiên cứu
viên trực tiếp khám, mô tả, đánh giá kết quả xét nghiệm, đọc phim chụp
cộng hưởng từ. Thông tin được điền vào mẫu bệnh án nghiên cứu riêng.
Kết quả: Trong thời gian 11/2016 tới 9/2017, chúng tôi đã lựa chọn 33
bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Trong đó có 29 bệnh nhân nữ (87,9%)
và 4 bệnh nhân nam (12,1%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 32,7±10
tuổi. Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất ở nam giới là rối loạn thị trường
(3/3) và đau đầu (2/3). Ở nữ giới là vô sinh 68,9%, rối loạn kinh nguyệt
62,1%, tiết sữa 55,2%. Thời gian khởi phát triệu chứng trung bình là 3 năm.
Nồng độ prolactin máu trung bình của bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán là
493,4 ng/ml. U kích thước nhỏ (microadenoma) chiếm đa số với tỉ lệ 54,5%,
u lớn (macroadenoma) chiếm tỉ lệ thấp hơn 45,5%. Có mối tương quan
tuyến tính giữa nồng độ prolactin máu > 200 ng/ml với kích thước khối u.
Kết luận: U tuyến yên tiết prolactin có biểu hiện lâm sàng khác nhau
tùy theo giới, ở nữ giới là rối loạn kinh nguyệt, tiết sữa, vô sinh, ở nam
giới là rối loạn thị trường, đau đầu. Trên xét nghiệm prolactin máu tăng
> 200 ng/ml gợi ý u tuyến yên kích thước lớn. Trên chụp cộng hưởng từ
tuyến yên, u tuyến yên có kích thước nhỏ < 10="" mm="" được="" thấy="" chủ="" yếu="">
nữ giới, u kích thước lớn ≥ 10 mm thường thấy ở nam giới
Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân tăng prolactin máu do u tiết prolactin
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 173 - 177, 2018 173 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 Mạc Thị Thơm(1), Nguyễn Khoa Diệu Vân(2,3), Đinh Bích Thủy(4) (1) Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, (2) Đại học Y Hà Nội, (3) Bệnh viện Bạch Mai, (4) Bệnh viện Phụ Sản Trung ương ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN TĂNG PROLACTIN MÁU DO U TIẾT PROLACTIN Tác giả liên hệ (Corresponding author): Mạc Thị Thơm, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 02/04/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 02/04/2018 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 27/04/2018 Từ khóa: u tuyến yên tiết prolactin, tăng prolactin máu, u tuyến yên. Keywords: prolactinoma, hyperprolactinemia, pituitary adenoma. Tóm tắt Mục tiêu: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm nội tiết và hình ảnh u tuyến yên ở bệnh nhân tăng prolactin máu do u tiết prolactin. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu dựa trên 33 bệnh nhân tăng prolactin máu do u tiết prolactin. Bệnh nhân được chẩn đoán, theo dõi điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Nghiên cứu viên trực tiếp khám, mô tả, đánh giá kết quả xét nghiệm, đọc phim chụp cộng hưởng từ. Thông tin được điền vào mẫu bệnh án nghiên cứu riêng. Kết quả: Trong thời gian 11/2016 tới 9/2017, chúng tôi đã lựa chọn 33 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Trong đó có 29 bệnh nhân nữ (87,9%) và 4 bệnh nhân nam (12,1%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 32,7±10 tuổi. Triệu chứng lâm sàng hay gặp nhất ở nam giới là rối loạn thị trường (3/3) và đau đầu (2/3). Ở nữ giới là vô sinh 68,9%, rối loạn kinh nguyệt 62,1%, tiết sữa 55,2%. Thời gian khởi phát triệu chứng trung bình là 3 năm. Nồng độ prolactin máu trung bình của bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán là 493,4 ng/ml. U kích thước nhỏ (microadenoma) chiếm đa số với tỉ lệ 54,5%, u lớn (macroadenoma) chiếm tỉ lệ thấp hơn 45,5%. Có mối tương quan tuyến tính giữa nồng độ prolactin máu > 200 ng/ml với kích thước khối u. Kết luận: U tuyến yên tiết prolactin có biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy theo giới, ở nữ giới là rối loạn kinh nguyệt, tiết sữa, vô sinh, ở nam giới là rối loạn thị trường, đau đầu. Trên xét nghiệm prolactin máu tăng > 200 ng/ml gợi ý u tuyến yên kích thước lớn. Trên chụp cộng hưởng từ tuyến yên, u tuyến yên có kích thước nhỏ < 10 mm được thấy chủ yếu ở nữ giới, u kích thước lớn ≥ 10 mm thường thấy ở nam giới. Từ khóa: u tuyến yên tiết prolactin, tăng prolactin máu, u tuyến yên. Abstract CLINICAL MANIFESTATIONS, LABORATORY AND IMAGE FINDINGS IN PATIENTS WITH PROLACTINOMA Objective: todescribe clinical manifestations, laboratory, image findings and therapeutic outcomes in patients with prolactinoma. MẠC THỊ THƠM, NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN, ĐINH BÍCH THỦY 174 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N Methods: descriptiveprospective study on 30 patients with prolactinoma admitted to Bach Mai hospital and National hospital of obstetrics and gynecology. We directly examined, described, evaluated laboratory tests and magnetic resonance imaging. The information were completed in specific protocol. Results: From 11/2016 to 9/2017, we observed 33 patients with prolactinoma. There were 29 females (87.9%) and 4 males (12.1%) with mean age was 32.7 ± 10. The most common clinical manifestations in men was visual field defects (3/3) and headache (2/3). In women, more than half of these patients had infertility (68.9%), menstrual disorder (62.1%), and galactorrhea (55.2%). The mean duration of symptoms was 3 years. The mean plasma prolactin levels at diagnosis was 493.4 ng/ml. In this group, more than half of them had microadenomas (54.5%) and macroadenoma was 45.5%. There was a direct correlation between plasma prolactin levels > 200 ng/ml with tumor size. Conclusion: Clinical manifestations at presentation differed withsexes, in which menstrual disorder, galactorrhea infertility were mostly seen in women; visual field defects and headache were seen in men. Plasma prolactin levels > 200 ng/ml suggested a macroadenoma. On pituitary magnetic resonance imaging, microadenomas with tumors < 10 mm in diameter were found more frequent in women; tumors ≥ 10 mm were observed more frequent in men. Key-words: prolactinoma, hyperprolactinemia, pituitary adenoma. 1. Đặt vấn đề Tăng prolactin máu được định nghĩa bởi sự tăng nồng độ prolactin (PRL) trong huyết thanh vượt quá giới hạn bình thường cao (> 25 ng/ml) [1]. Prolactin là hormon có cấu trúc peptid, được tổng hợp tại tế bào lactotrop của tuyến yên, PRL có tác dụng phát động và duy trì sự tạo sữa [2]. Tăng prolactin máu có thể nguyên phát hoặc thứ phát: do u tiết prolactin phần lớn là lành tính, do tổn thương trục dưới đồi - tuyến yên, thứ phát do rối loạn chức năng chuyển hóa, hoặc tăng prolactin máu vô căn. Biểu hiện của tăng prolactin máu khác nhau theo tuổi, giới và nguyên nhân. Suy sinh dục mà biểu hiện là giảm ham muốn tình dục, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, vú tiết sữa, loãng xương là biểu hiện lâm sàng thường gặp, hậu quả của sự ức chế tiết GnRH [3]. MRI tuyến yên là phương pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng nhất, giúp quan sát kích thước khối u cũng như đặc điểm chèn ép tổ chức xung quanh của khối u. Dựa vào MRI phân chia thành u kích thước nhỏ (microadenoma) < 10 mm, và u kích thước lớn (macroadenoma) ≥ 10 mm [4]. Tùy vào triệu chứng lâm sàng, nồng độ prolactin máu và kích thước khối u, có thể điều trị nội khoa, phẫu thuật hay xạ trị. Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu trong nước được thực hiện về vấn đề này. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với mục đích: mô tả đặc điểm lâm sàng, xét nghiệm nội tiết và hình ảnh khối u tuyến yên ở bệnh nhân u tiết prolactin. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu mô tả tiến cứu dựa trên 33 bệnh nhân u tuyến yên tiết prolactin tại Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Phụ Sản Trung ương trong khoảng từ tháng 11/2016 đến tháng 9/2017. Bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu khi được chẩn đoán xác định là u tuyến yên tiết prolactin dựa vào: • Triệu chứng lâm sàng: rối loạn kinh nguyệt, tiết sữa, vô sinh, rối loạn thị trường, đau đầu. • Xét nghiệm nồng độ prolactin máu > 25 ng/ml. • Cộng hưởng từ tuyến yên: u tuyến yên kích thước nhỏ (< 10mm), hoặc u kích thước lớn (≥ 10 mm). Các bệnh nhân được nghiên cứu viên trực tiếp khám lâm sàng, đánh giá xét nghiệm, đọc và phân TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 173 - 177, 2018 175 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 tích hình ảnh khối u tuyến yên trên cộng hưởng từ, mọi thông tin được điền vào mẫu bệnh án riêng. Số liệu được tính toán theo chương trình SPSS 16.0. 3. Kết quả 3.1. Đặc điểm về tuổi và giới Trong thời gian 10 tháng, chúng tôi lựa chọn được 33 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Trong đó, có 29/33 bệnh nhân nữ (87,9%) và 4/33 bệnh nhân nam (12,1%). Như vậy có sự chênh lệch rõ rệt giữa hai giới, với tỷ lệ nữ/ nam là 7/1. Tuổi trung bình của các bệnh nhân là 32,7 ± 10 tuổi, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 23 tuổi, bệnh nhân cao tuổi nhất là 56 tuổi. Nhóm tuổi hay gặp nhất là 21 – 29 tuổi, có 19 bệnh nhân chiếm tỷ lệ5 7,6%. Nhóm bệnh nhân trên 50 tuổi chiếm 9,1%. 3.2. Triệu chứng lâm sàng ở nữ giới Ở nữ giới các triệu chứng thường gặp nhất là triệu chứng nội tiết: vô sinh (68,9 %), rối loạn kinh nguyệt (62,1%), và tiết sữa (55,2%). Triệu chứng chèn ép ít gặp hơn: đau đầu (41,4%), nhìn mờ (6,9%). 3.3. Triệu chứng lâm sàng ở nam giới Ở nam giới triệu chứng thường gặp nhất là triệu chứng chèn ép: rối loạn thị trường (4/4), và đau đầu (3/4). Triệu chứng nội tiết ít gặp hơn, rối loạn cương dương (3/4), giảm ham muốn tình dục Nhóm tuổi 21-29 30-39 40-49 50-59 Số BN 19 6 5 3 Tỷ lệ % 57,6 18,1 15,2 9,1 Bảng 1. Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi Triệu chứng Số BN (n=29) Tỷ lệ % Triệu chứng nội tiết Vô sinh 20 68,9 Rối loạn KN 18 62,1 Tiết sữa 16 55,2 Triệu chứng chèn ép Đau đầu 12 41,4 Nhìn mờ 2 6,9 Bảng 2. Triệu chứng lâm sàng ở nữ giới Triệu chứng Số BN (n=4) Triệu chứng nội tiết Rối loạn cương dương 3 Giảm ham muốn tình dục 2 Tiết sữa, vô sinh 0 Triệu chứng chèn ép Nhìn mờ 4 Đau đầu 3 Bảng 3. Triệu chứng lâm sàng ở nam giới (2/4), không có bệnh nhân nào có dấu hiệu tiết sữa mặc dù PRL máu tăng rất cao. 3.4. Thời gian khởi phát triệu chứng Thời gian khởi phát triệu chứng trung bình là 3 năm, ngắn nhất là 1 tháng và lâu nhất là 40 năm. Đa số bệnh nhân có thời gian khởi phát từ 1-2 năm chiếm 48,5%. 3.5. Nồng độ prolactin máu ở thời điểm chẩn đoán Nồng độ prolactin trung bình của bệnh nhân ở thời điểm chẩn đoán là 493,4 ± 997,6 ng/ml, bệnh nhân có nồng độ prolactin cao nhất là 4000 ng/ml, thấp nhất là 29 ng/ml. Nồng độ prolactin trung bình ở nữ là 180,9 ± 202,2 ng/ml. Nồng độ prolactin trung bình ở nam là 2758,7 ± 1564,7 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05). 3.6. Suy các trục hormon khác của tuyến yên Có 5 bệnh nhân suy tuyến yên trước điều trị, trong đó có 1 bệnh nhân suy thùy trước tuyến yên, 2 bệnh nhân có suy giáp và suy sinh dục, 1 bệnh nhân có suy giáp và suy thượng thận, 1 bệnh nhân chỉ có suy thượng thận. Không có bệnh nhân nào đái tháo nhạt. 3.7. Đặc điểm kích thước khối u U kích thước nhỏ (microadenoma) chiếm đa số với tỉ lệ 54,5 %. U kích thước lớn (macroadenoma) chiếm tỉ lệ thấp hơn 45,5%. Kích thước trung bình của khối u nhỏ là 4,4 ± 2,0 mm. Kích thước trung bình của khối u lớn là 20,8 ± 11,7 mm. Microadenoma: nồng độ prolactin trung bình là 127,3 ng/ml. Macroadenoma: nồng độ prolactin trung bình là 932,7 ng/ml. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05). 3.8. Mối tương quan giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u Biểu đồ 1. Mối tương quan giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u 7 Biểu đồ 1. Mối tương quan giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u Như vậy có sự tương quan đồng biến thuận khá chặt chẽ giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u với R = 0,653 (p<0,001). 3.9. Đặc điểm xâm lấn của khối u Bảng 4. Đặc điểm xâm lấn của khối u Mức độ xâm lấn Số BN (n=33) Tỷ lệ % Không xâm lấn 26 78,8 Xâm lấn lên trên và hai bên 3 9 Xâm lấn lên trên 2 6,1 Xâm lấn hai bên 2 6,1 Đè đẩy não thất III và gây giãn não thất 0 0 Tổng 33 100 Có 26 bệnh nhân u tiết prolactin chưa phát hiện xâm lấn trên MRI tuyến yên chiếm 78,8%. 3 bệnh nhân u tiết prolactin xâm lấn lên trên giao thoa thị giác và hai bên xoang hang, chiếm 9%. 2 bệnh nhân có u xâm lấn lên trên chiếm 6,1%. 2 bệnh nhân có u xâm lấn hai bên chiếm 6,1%. Không có bệnh nhân nào có u gây đè đẩy và giãn não thất. 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm về tuổi và giới MẠC THỊ THƠM, NGUYỄN KHOA DIỆU VÂN, ĐINH BÍCH THỦY 176 Tậ p 16 , s ố 01 Th án g 05 -2 01 8 TỔ N G Q U A N N Ộ I TI ẾT , V Ô S IN H V À H Ỗ T R Ợ S IN H S Ả N Như vậy có sự tương quan đồng biến thuận khá chặt chẽ giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u với R = 0,653 (p<0,001). 3.9. Đặc điểm xâm lấn của khối u Có 26 bệnh nhân u tiết prolactin chưa phát hiện xâm lấn trên MRI tuyến yên chiếm 78,8%. 3 bệnh nhân u tiết prolactin xâm lấn lên trên giao thoa thị giác và hai bên xoang hang, chiếm 9%. 2 bệnh nhân có u xâm lấn lên trên chiếm 6,1%. 2 bệnh nhân có u xâm lấn hai bên chiếm 6,1%. Không có bệnh nhân nào có u gây đè đẩy và giãn não thất. 4. Bàn luận 4.1. Đặc điểm về tuổi và giới Như vậy kết quả của chúng tôi phù hợp với các tác giả trong và ngoài nước. Về giới, có sự khác biệt giữa kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả của các tác giả khác. Nguyên nhân là bệnh nhân đa số là nữ giới đến khám vì rối loạn kinh nguyệt, tiết sữa, vô sinh, do vậy tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn nhiều so với các nghiên cứu khác. 4.2. Triệu chứng lâm sàng theo giới U tuyến yên tiết prolactin thường biểu hiện sớm hơn ở nữ giới, bằng các dấu hiệu rối loạn phóng noãn, do sự ức chế GnRH, gây ra các triệu chứng lâm sàng mà hay gặp nhất là vô sinh (68,9%), rối loạn kinh nguyệt (62,1%), và tiết sữa (55,2%). Còn các triệu chứng của hội chứng tăng áp lực nội sọ, chèn ép thần kinh khi khối u kích thước lớn ít gặp hơn như đau đầu (41,4%), nhìn mờ (6,9%). Mức độ xâm lấn Số BN (n=33) Tỷ lệ % Không xâm lấn 26 78,8 Xâm lấn lên trên và hai bên 3 9 Xâm lấn lên trên 2 6,1 Xâm lấn hai bên 2 6,1 Đè đẩy não thất III và gây giãn não thất 0 0 Tổng 33 100 Bảng 4. Đặc điểm xâm lấn của khối u Tác giả Lứa tuổi Tuổi trung bình Primeau V (2012) [5] 17-45 31 Nguyễn Đức Anh (2012) [6] 20-55 33,9 Colao A (2003) [7] 15-72 32 Kết quả của chúng tôi 23-56 32,7 Bảng 5. So sánh tuổi trung bình, lứa tuổi với các nghiên cứu khác Ở nam giới triệu chứng nội tiết kín đáo khó nhận biết, nên khối u thường được phát hiện muộn khi kích thước lớn gây triệu chứng chèn ép. 4.3. Thời gian khởi phát triệu chứng Chúng tôi đánh giá thời gian từ khi bệnh nhân bắt đầu xuất hiện các triệu chứng. Phần lớn các bệnh nhân chỉ đến viện khi bệnh đã nặng. Đa phần bệnh nhân có thời gian phát bệnh tương đối dài, trung bình là 3 năm, ngắn nhất là 1 tháng và lâu nhất là 40 năm. Cá biệt là trường hợp bệnh nhân nữ ở Nam Định, 56 tuổi, có triệu chứng tiết sữa từ năm 16 tuổi, kèm theo rối loạn kinh nguyệt (kinh thưa) sau đó mất kinh năm 24 tuổi. Bệnh nhân vô sinh nguyên phát, và đau đầu nhiều năm. Khi đau đầu tiến triển mới phát hiện khối u kích thước lớn xâm lấn xoang hang hai bên, phải điều trị bằng phẫu thuật. 4.4. Nồng độ prolactin máu ở thời điểm chẩn đoán Theo báo cáo của Colao (2003) tại Ý, nồng độ prolactin trung bình ở nam giới là 2848 ± 2954 ng/ml, ở nữ giới là 135,4 ± 60,5 ng/ml [7]. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Anh (2012), tỷ lệ này là 44,9% [6]. Như vậy nghiên cứu của chúng tôi tương tự với các tác giả trong và ngoài nước. Nguyên nhân là do bệnh thường được phát hiện muộn ở nam giới hơn nữ giới, khi khối u kích thước rất lớn, tương ứng với nồng độ prolactin rất cao. Nồng độ prolactin > 200 ng/ml gợi ý u macroadenoma. 4.5. Suy các trục hormon khác của tuyến yên Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra tỉ lệ suy tuyến yên 7-13 % tùy thuộc kích thước u. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các nghiên cứu nước ngoài. Nguyên nhân là do 5 bệnh nhân suy tuyến yên trong nghiên cứu của chúng tôi được phát hiện muộn, khối u kích thước rất lớn 32-45 mm, gây chèn ép và suy các trục khác của tuyến yên. 4.6. Đặc điểm kích thước khối u Cho đến nay, cộng hưởng từ tuyến yên là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng, giúp phát hiện và đánh giá sự xâm lấn của khối u tuyến yên chính xác nhất. Cộng hưởng từ còn cho phép phát hiện những khối u nhỏ đến 3mm, xác định chính xác vị trí của khối u, ranh giới TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(01), 173 - 177, 2018 177 Tập 16, số 01 Tháng 05-2018 của tổ chức lành và khối u, đánh giá xâm lấn, chèn ép các tổ chức xung quanh như giao thoa thị giác, xoang hanh, nhu mô não giúp cho việc chỉ định điều trị phù hợp và tránh các tai biến có thể xảy ra trong cuộc phẫu thuật. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy có sự tương quan đồng biến thuận khá chặt chẽ giữa nồng độ prolactin máu và kích thước khối u với R = 0,653 (p < 0,001). Việc đánh giá sự xâm lấn của khối u lên trên chèn ép vào giao thoa thị giác, sang 2 bên vào động mạch cảnh và xoang hang rất quan trọng, góp phần vào việc lựa chọn phương pháp điều trị phẫu thuật và tiên lượng cho cuộc phẫu thuật. 5. Kết luận U tuyến yên tiết prolactin có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là rối loạn nội tiết, tăng áp lực nội sọ và giảm thị lực. Bệnh nhân có biểu hiện lâm sàng khác nhau tùy theo tuổi và giới. Nồng độ prolactin máu tăng có tương quan với kích thước khối u. Hình ảnh cộng hưởng từ tiêm thuốc chẩn đoán chính xác khối u tuyến yên. Tài liệu tham khảo 1. Melmed S., et al., Diagnosis and Treatment of Hyperprolactinemia: An Endocrine Society Clinical Practice Guideline. The Journal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 2011. 96(2): p. 273-288. 2. Dumazeau O, Traitement médical et chirurgical des hyperprolactinémies. Thèse, 2009. Faculté de pharmacie(Université de Limoges). 3. Kharlip J, S.R., Yenokyan G , Wand GS, Recurrence of hyperprolactinemia after withdrawal of long-term cabergoline therapy. J Clin Endocrinol Metab, 2009. 94: p. 2428–2436. 4. Biswas M, S.J., Jadon D, McEwan P, Rees DA, Evans LM , Scanlon MF , Davies JS Long-term remission following withdrawal of dopamine agonist therapy in subjects with microprolactinomas. Clin Endocrinol (Oxf), 2005. 63: p. 26–31. 5. Primeau, V., C. Raftopoulos, and D. Maiter, Outcomes of transsphenoidal surgery in prolactinomas: improvement of hormonal control in dopamine agonist-resistant patients. Eur J Endocrinol, 2012. 166(5): p. 779-86. 6. Nguyễn Đức Anh, Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến yên tăng tiết prolactin. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, 2012. Đại học y Hà Nội. 7. Annamaria Colao, A.D.S., Gender differences in the prevalence, clinical features andresponse to cabergoline in hyperprolactinemia. European Journal of Endocrinology, 2003.
File đính kèm:
dac_diem_lam_sang_can_lam_sang_o_benh_nhan_tang_prolactin_ma.pdf

