Đặc điểm hình ảnh PET/CT sau xạ trị chiếu trong chọn lọc bằng hạt vi cầu gắn 90Y với hình ảnh 99M TC MAA mô phỏng trước điều trị ở bệnh nhân ung thư gan đối chiếu

Mục đích: Xạ trị chiếu trong chọn lọc sử dụng hạt vi cầu phóng xạ gắn 90 Y được áp dụng để điều trị ung thư gan. Để lập kể

hoạch điều trị, xạ hình 99mTc-MAA là một trong những xét nghiệm chủ yếu để mô phỏng điều trị và hình ảnh 90 Y PET/CT dùng để đánh

giá sau điều trị. Mục đích của nghiên cứu này là đối chiếu và đánh giá mối tương quan giữa hình ảnh mô phỏng trước điều trị và hình

ảnh sau điều trị.

Phương pháp: 20 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát có chỉ định điều trị hạt vi cầu gắn 90Y được chọn vào nghiên cứu. Hạt

99mTc-MAA được bơm chọn lọc vào động mạch gan nuôi khối u với liều 05 mCi, bệnh nhân được chụp xạ hình với99mTc-MAA tại khoa

Y học hạt nhân 60 phút sau đó và thực hiện90Y PET/CT trong vòng 24 giờ sau điều trị. Hình ảnh mô phỏng trước điều trị và PET/CT

sau điều trị được đối chiếu, mối tương quan giữa tỷ suất số đếm phóng xạ ở khối u và gan lành (chỉ số T/N) trên hình ảnh 99mTc-MAA

và 90Y PET/CT được tính dựa trên thuật toán Spearman rank.

pdf 8 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm hình ảnh PET/CT sau xạ trị chiếu trong chọn lọc bằng hạt vi cầu gắn 90Y với hình ảnh 99M TC MAA mô phỏng trước điều trị ở bệnh nhân ung thư gan đối chiếu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm hình ảnh PET/CT sau xạ trị chiếu trong chọn lọc bằng hạt vi cầu gắn 90Y với hình ảnh 99M TC MAA mô phỏng trước điều trị ở bệnh nhân ung thư gan đối chiếu

Đặc điểm hình ảnh PET/CT sau xạ trị chiếu trong chọn lọc bằng hạt vi cầu gắn 90Y với hình ảnh 99M TC MAA mô phỏng trước điều trị ở bệnh nhân ung thư gan đối chiếu
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/201862
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
SCIENTIFIC RESEARCH
SUMMARY
ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH PET/CT SAU XẠ TRỊ 
CHIẾU TRONG CHỌN LỌC BẰNG HẠT VI 
CẦU GẮN90 Y VỚI HÌNH ẢNH 99MTC MAA MÔ 
PHỎNG TRƯỚC ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN 
UNG THƯ GAN ĐỐI CHIẾU 
Characteristics of Post- Selective Internal Radiation 
Therapy (SIRT)90 Y Microsphere PET/CT in 
Hepatocellular Carcinoma Comparison With 99mTc 
Macroaggregated Albumin (MAA) scan
* Khoa y học hạt nhân bệnh 
viện TƯQĐ 108, 
** Khoa nội tiêu hóa bệnh 
viện TƯQĐ 108, 
*** Khoa nội tiêu hóa, Bệnh 
viện quân Y 175
Mai Hồng Sơn, Nguyễn Thị Nhung, Nguyễn Thanh Hướng, Lê Ngọc Hà*, 
Thái Doãn Kỳ, Đinh Trường Giang, Nguyễn Tiến Thịnh**,
Đào Đức Tiến***
Purpose: 90Y microspheres are recommended for intra-arterial 
treatment of hepatocellular carcinoma. Before treatment,99mTc-labelled 
macroaggregated albumin (MAA) is injected intra-arterially to 
simulate the treatment and 
yttirum-90 (90Y PET/CT) images is performed to evaluate post-
treatment. The aim of the study is to assess the correlation between the 
pretreatment planning and posttreatment images.
Methods: Twenty patients with the intermediate and advanced 
stage of HCC were reviewed in this study. 99mTc-MAA was injected 
intra -arterially before treatment and whole body scintigraphy 
and abdominal SPECT was done after 60 min.Post-injection of 
90Y microspheres (SIRTEX, Australia), the patients underwent 
posttreatment 90Y PET/CTwithin 24 h. The tumor to normal ratios (T/N 
ratios) on PET/CT and SPECT were analyzed and correlated using 
Spearman rank correlation test. 
Results: In 20 patients, the distribution of microspheres was 
consistently demonstrated in both 99mTc-MAA planar scintigraphy 
before therapy and posttreatmentPET/CT images. Agood correlation 
was observed between T/N on scintigraphy before treatment and T/N 
on PET/CT images after treatment (rho value=0.58, p<0.005). The TN 
on PET/CT (median 14.85) tends to show significantly higher values 
than T/N stimulated (median 11.2, p<0.05). The T/N post treatment 
showed 
good correlation with tumor volume (rho=0.69, p<0.05). 
Conclusions The 99m-Tc MAA planar imgaes showed a good 
correlation with 90Y PET/CT in T/N values, suggesting that it should 
be used as an adequate pretreatment evaluation method. 90Y PET/CT 
should be included routinely in 
the post-therapeutic evaluation.
Keywords: resin microspheres 90Y, 99mTc-MAA, hepatocellular 
carcinoma
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/2018 63
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
I. MỤC TIÊU
Theo thống kê của tổ chức ung thư toàn cầu 
(Globocan) cho đến năm 2012, tỷ lệ mắc ung thư gan 
(UTG) và tỷ lệ tử vong do ung thư gan ở vùng Đông 
Nam Á, trong đó có Việt Nam đứng hàng thứ 2 trên thế 
giới [11]. Tuy nhiên, ở thời điểm phát hiện bệnh, có tới 
70% bệnh nhân ung thư gan không còn chỉ định phẫu 
thuật triệt căn. Hạt vi cầu (SIRSpheres, Sirtex Medical, 
Sidney, Australia) gắn 90 Y đã được nhiều nghiên cứu trên 
thế giới cho thấy lợi ích trong điều trị UTG giai đoạn tiến 
triển{Ahmadzadehfar, 2010, Radioembolization of liver 
tumors with yttrium-90 microspheres}[7],[9]. Trong quá 
trình chuẩn bị điều trị UTG nguyên phát bằng hạt vi cầu 
gắn 90 Y, xạ hình 99mTc-MAA là một trong những bước đầu 
tiên để mô phỏng lập kế hoạch điều trị. Hạt MAA có kích 
thước và đường đi tương tự như hạt vi cầu gắn 90 Y, do 
vậy khi được gắn với 99mTc và bơm qua đường động mạch 
chọn lọc nuôi khối u gan, hình ảnh xạ hình MAA sẽ giúp 
ích cho mô phỏng điều trị, ngăn ngừa tồn thương ngoài 
cơ quan đích khi điều trị 90 Y và tính liều điều trị. Ngoài ra 
chỉ số phân bố phóng xạ trong khối u gan (T/N ratio) là rất 
quan trọng để tính liều điều trị chọn lọc cho tổn thương 
HCC nguyên phát. Sau khi tiêm hạt vi cầu gắn 90 Y, đánh 
giá sự phân bố của dược chất phóng xạ là rất cần thiết để 
dự báo các biến chứng và đáp ứng điều trị. Trước đây, xạ 
hình bremstrahlung SPECT được sử dụng để đánh giá sự 
phân bố của 90 Y ở tổn thương đích nhưng nhược điểm 
của phương pháp này là độ phân giải hình ảnh thấp, thời 
gian chụp và dựng hình lâu. Do vậy, ngày nay PET/CT 
được chụp sau điều trị ung thư gan bằng hạt vi cầu gắn 90 
Y được khuyến cáo vì chất lượng hình ảnh cao.
 Đặc điểm hình ảnh của xạ hình 99mTc-MAA mô 
phỏng trước điều trị được cho rằng cũng có một số 
điểm khác biệt so với hình ảnh thực tế sau điều trị 
bằng hạt vi cầu gắn 90 Y. Do vậy, đối chiếu hình ảnh mô 
phỏng trước điều trị và hình ảnh thực tế sau điều trị 
là rất quan trọng. Theo hiểu biết của chúng tôi, đây là 
hướng nghiên cứu mới và trên thế giới hiện nay cũng 
chưa có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này [3], 
[5]. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu so 
sánh chỉ số T/N trước với sau điều trị và mô tả đối chiếu 
đặc điểm hình ảnh mô phỏng bằng 99mTc-MAA với hình 
ảnh PET/CT sau điều trị.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
Trong nghiên cứu này chúng tôi có 20 bệnh nhân 
ung thư gan nguyên phát có chỉ định điều trị bằng hạt vi 
cầu phòng xạ gắn 90 Y tại khoa Nội tiêu hóa, bệnh viện 
TUQĐ 108 từ tháng 2/2014 đến 1/2016 theo dướng 
dẫn điều trị của của hội Y học hạt nhân Châu Âu 2010 
[2]. Các bệnh nhân được chụp động mạch gan và lựa 
chọn động mạch nuôi khối u gan để đặt catheter giống 
như vị trí sẽ tiêm hạt vi cầu gắn 90 Y và tiêm 99mTc-MAA 
với liều 5 mCi. Sau khi tiêm dược chất phóng xạ sau 60 
phút, bệnh nhân được chuyển đến khoa Y học hạt nhân 
để chụp xạ hình. Bệnh nhân được chụp với tư thế nằm 
ngửa, chụp từ cực trên của hai thùy tuyến giáp đến vị trí 
cực dưới hai thận bằng máy INFINIA SPECT gammar 
camera hai đầu của hang GE với đầu thu mức năng 
lượng thấp độ phân giải cao, ma trận 1024 x 256, tốc 
độ 100 cm/phút. Sau khi ghi hình plannar MAA, bệnh 
nhân được chụp SPECT riêng vùng gan và ổ bụng 
để đánh giá cụ thể vị trí của khối u và các tổn thương 
ngoài gan. Hình ảnh xạ hình với 99mTc -MAA được phân 
tích và đồng thuận bởi hai bác sĩ y học hạt nhân có 
kinh nghiệm cùng với hình ảnh CT gan 3 pha để đánh 
giá chất lượng hình ảnh, tính chỉ số T/N trên hình ảnh 
plannar. Vùng quan tâm được vẽ vào hình ảnh tăng 
hoạt tính phóng xạ tương ứng với tổn thương nguyên 
phát trên CT và toàn bộ gan được điều trị (gan phải 
hoặc gan trái), T/N=số đếm phóng xạ ở khối u/số đếm 
phóng xạ ở toàn bộ gan. Bệnh nhân được điều trị bằng 
hạt vi cầu gắn Y-90 của hãng SIRTEX (Australia), liều 
điều trị được tính theo phương pháp chọn lọc (partition 
model) với liều chiếu tối đa vào khối u là 120 Gy. Sau 
điều trị 6 giờ, bệnh nhân được chụp PET/CT (discovery 
light speed, GE) vùng gan. Các bệnh nhân được chụp 
hai giường PET với thời gian 15 phút/giường, trường 
chụp phải bao phủ toàn bộ gan. Hình ảnh PET được 
hiệu chỉnh hiệu hứng suy giảm bằng CT liều thấp. Vùng 
quan tâm được vẽ vào khối u và vùng gan cần điều trị 
và chỉ số T/N được tính theo công thưc tương tự như 
đã nêu ở trên. Hình ảnh PET/CT cũng được đánh giá 
bởi hai bác sĩ y học hạt nhân và có đối chiếu với hình 
ảnh 99mTc -MAA trước điều trị.
Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần 
mềm SPSS 18.0. Các biến định lượng được biểu diễn 
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/201864
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
dưới dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn. Sử dụng Student t-test so sánh các giá trị trung bình, sử dụng Chi-square 
test so sánh các tỷ lệ. Chỉ số kappa được sử dụng để đánh giá độ phù hợp của hình ảnh mô phỏng bằng 99mTc -MAA 
và PET/CT sau điều trị. Chỉ số T/N trước và sau điều trị được thể hiện bằng mối tương quan R. Khác biệt chỉ có ý 
nghĩa thống kê khi p <0,05.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1. Đặc điểm chung của bệnh nhân trong nghiên cứu
Số lượng bệnh nhân 20
Tuổi 58,8 ± 11,8 (34 – 76)
Giới
Nam Nữ
20 (100%) 0
Chẩn đoán bệnh
HCC nguyên phát Di căn gan
20 (100%) 0
Giai đoạn bệnh
Giai đoạn trung gian Giai đoạn tiến triển
15/20(75%) 5/20(25%)
Child pugh
A B
20(100%) 0
Phương pháp điều trị
Chọn lọc Không chọn lọc
19/20 (95%) 1/20 (5%)
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 20 bệnh nhân, toàn bộ làm nam giới, được chẩn đoán HCC nguyên phát 
và xơ gan ở mức Child pugh A. Bên cạnh đó, phần lớn bệnh nhân ở giai đoạn trung gian với tỷ lệ là 75% còn lại 
25% là giai đoạn tiến triển. Hầu như tất cả các tổn thương gan được điều trị đều nằm ở thùy gan phải với tỷ lệ 19/20 
(95%), chỉ có 1 tổn thương ở gan trái. Phương pháp điều trị được lựa chọn là điều trị chọn lọc vào động mạch nuôi 
khối u cho tất cả các bệnh nhân.
Bảng 2. Đặc điểm hình ảnh tổn thương gan trên CT
Thể tích khối u gan (cm3)
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình ± SD
25
1030
318,55 ± 218,55
Số lượng tổn thương 25
Vị trí tổn thương gan
Gan phải
Gan trái
20/25(80%)
5/25(20%)
 Tổng số tổn thương đích được điều trị trong nghiên cứu là 30, trong đó 80% là ở gan phải. Thể tích khối lớn 
nhất là 1030 cm3 trong đó khối nhỏ nhất là 25 cm3.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/2018 65
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu đồ 1. So sánh giá trị T/N được tính trên hình ảnh trước điều trị (trên xạ hình MAA) và sau điều trị 
(trên hình ảnh PET/CT)
Trên hình ảnh 99mTc -MAA trước điều trị giá trị T/N nhỏ nhất là: 3,3; lớn nhất là 82,5 ; trung vị là 14,85 tron khí 
đó T/N sau điều trị tính được dựa vào hình ảnh PET/CT có giá trị nhỏ nhất là 3; lớn nhất là 23,5; trung vị là 11,2. 
Giá trị trung vị T/N trên hình ảnh mô phỏng trước điều trị cao hơn so với giá trị tương ứng trên hình ảnh PET/CT 
sau điều trị (p= 0.236). 
Biểu đồ 2. Mối tương quan r giữa chỉ số T/N trên hình ảnh mô phỏng trước điều trị (trên xạ hình MAA) 
và sau điều trị (trên hình ảnh PET/CT)
Chỉ số T/N trước điều trị có mối tương quan thuận, ở mức độ trung bình với chỉ số T/N sau điều trị (r = 0.58, 
p < 0.05). 
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/201866
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Biểu đồ 3. Mối tương quan r giữa thể tích khối u (Cm3) với chỉ số T/N sau điều trị được tính dựa trên 
hình ảnh PET/CT.
Thể tích khối u gan cần điều trị và chỉ số T/N có mối tương quan thuận, mức độ tương quan tốt (r=0.69, 
p<0.05). 
Hình 1. A: hình ảnh Tc-99m MAA trước điều trị: 01 khối u ở gan phải, T/N = 4. B: hình ảnh PET/CT sau điều trị 
Y-90, tăng hoạt tính phóng xạ ở gan phải tương ứng với khối u đã được điều trị, T/N=3, ngoài ra PET/CT còn phát 
hiện thêm hình ảnh khối u ở gan phải (mũi tên nhỏ) mà hình ảnh trước điều trị không cho thấy. 
IV. BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân 
UTG nguyên phát ở giai đoạn tiến triển và giai đoạn 
trung gian là tương đương nhau, tỷ lệ xơ gan Child 
pugh A thấp hơn Child pugh B và không có Child pugh 
C. Theo nhiều nghiên cứu tổng kết điều trị UTG nguyên 
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/2018 67
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
phát bằng hạt vi cầu gắn 90Y khác thì, tỷ lệ bệnh nhân ở 
giai đoạn muộn và xơ gan Child B chiếm đa số. Do đa 
số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có một 
khối u ở gan phải nên phương pháp điều trị chọn lọc là 
chủ yếu. Phương pháp này nhằm tăng liều chiếu ở khối 
u lên tới 120 Gy, trong khi đó vẫn đảm bảo liều chiếu an 
toàn ở mô gan lành < 40Gy và ở phổi < 20Gy. Trường 
hợp một bệnh nhân có u gan đa ổ nên chúng tôi đã lựa 
chọn phương pháp điều trị không chọn lọc, điều trị toàn 
bộ gan phải và liều điều trị dựa vào diện tích bề mặt 
cơ thể (BSA) [2]. Về đặc điểm hình ảnh khối u gan cần 
điều trị trên CT, các khối u có thể tích khá đa dạng với 
những khối u nhỏ và có những khối u lớn lên tới 1020 
cm3. Thể tích khối u có vai trò rất quan trọng để quyết 
định đến khả năng có điều trị xạ trị chiếu trong chọn lọc 
hay không. Nếu thể tích của khối u lớn hơn 50% tổng 
thể tích gan lành thì không có chỉ định điều trị vì có thể 
gây suy gan sau điều trị [8]. 
 Vai trò chính của xạ hình 99mTc-MAA là mô phỏng 
sự phân bố của hạt vi cầu gắn phóng xạ trước điều trị 90 
Y. Bên cạnh đó, xạ hình mô phỏng trước điều trị còn có 
thể giúp tiên lượng khả năng đáp ứng điều trị. Trong đó 
tỷ số phân bố phóng xạ ở khổi u và mô gan lành (T/N) 
rất quan trọng. Nghiên cứu của Garin và các cộng sự 
cho thấy chỉ số T/N trên xạ hình mô phỏng càng cao thì 
tỷ lệ đáp ứng sau điều trị, thời gian sống thêm toàn bộ 
của bệnh nhân sẽ cao hơn so với những trường hợp 
mà T/N thấp[10]. Trước đây, xạ hình bremsstrahlung 
sau điều trị 90 Y được coi là phương pháp kinh điển để 
đánh giá sau điều trị vì thực hiện dễ dàng. Sau này, 
hình ảnh SPECT kết hợp với CT làm tăng độ chính 
xác để định vị tổn thương đích sau điều trị. Tuy nhiên, 
nhược điểm của xạ hình bremsstrahlung là độ phân giải 
hình ảnh ở mức thấp, thời gian chụp kéo dài. Đồng thời 
nhiều nghiên cứu cũng cho rằng sự phù hợp chẩn đoán 
giữa bremsstrahlung SPECT và hình ảnh mô phỏng 
trước điều trị là không cao[1], [4]. Trong đó nghiên cứu 
của Y. H. Kim và cộng sự cho thấy chỉ số T/N trên xạ 
hình bremsstrahlung có giá trị thấp hơn so với T/N khi 
mô phỏng trước điều trị [12]. Do vậy, hình ảnh PET/CT 
sau điều trị với độ phân giải cao hơn, chất lượng hình 
ảnh tốt hơn sẽ có độ tin cậy cao hơn trong đánh giá 
sau điều trị so với bremsstrahlungSPECT. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi sự khác biệt giữa các giá trị T/N mô 
phỏng trước điều trị và T/N sau điều trị chưa có ý nhĩa 
thống kê. Thông thường đối với những khối u có kích 
thước nhỏ, vẽ vùng quan tâm để tính số đếm phóng xạ 
là không dễ trên hình ảnh plannar mô phỏng. Do vậy chỉ 
số T/N có thể thấp hơn hoặc cao hơn so với T/N thực 
tế sau điều trị. Đối với những khối u có kích thước lớn 
số đếm phóng xạ tại khối u tập trung cao hơn và khó 
xác định được số đếm ở nhu mô gan lành trên hình ảnh 
plannar mô phỏng do đó chỉ số T/N cũng có thể cao 
hơn thực tế. Chính vì vậy trong nghiên cứu của chúng 
tôi chỉ số T/N trước điều trị cao hơn so với T/N trên hình 
ảnh PET/CT. Nghiên cứu của Ng SC và cộng sự cũng 
cho kết quả tương tự với nghiên cứu của chúng tôi[6]. 
Hình ảnh SPECT mô phỏng là hình ảnh có hiện tượng 
tán xạ Compton gây ra sai số trong tính toán phân bố 
phóng xạ ở khối u nguyên phát và nhu mô gan lành. 
Đồng thời hạt MAA mô phỏng điều trị có kích thước và 
mật độ phân bố không thể trùng khớp hoàn toàn với hạt 
vi cầu gắn Y-90 trong điều trị thực tế. Nghiên cứu của 
chúng tôi cho thấy chỉ số T/N mô phỏng trước điều trị có 
mối tương quan tuyến tính với T/N thực tế trên hình ảnh 
PET/CT (r = 0.58, p<0.05). So sánh với nghiên cứu của 
Rhee SH và cộng sự mối tương quan này ở mức tốt với 
r =0.68[13]. Nghiên cứu của nhóm tác giả này so sánh 
T/N trên PET/CT và SPECT/CT có độ chính xác cao 
hơn do vậy mối tương quan có thể chặt chẽ hơn nghiên 
cứu của chúng tôi. Như vậy, hình ảnh mô phỏng trước 
điều trị có độ tin cậy nhất định để đánh giá cũng như 
tiên lượng đáp ứng điều trị. Chỉ số T/N thực tế sau điều 
trị trên hình ảnh PET/CT có mối tương quan thuận so 
với thể tích khối u cần điều trị trên CT. Mối tương quan 
này cũng chỉ ở mức độ tốt (r= 0.69, p<0.05). Nếu thể 
tích khối u tăng thì chỉ số T/N thực tế sẽ tăng do khối u 
có thể tích càng lớn thì tỷ lệ tập trung các hạt phóng xạ 
sẽ tăng lên so với nhu mô gan bình thường. Điều này 
cũng phù hợp với các nghiên cứu khác trong đó nghiên 
cứu của Rhee SH và cộng sự cho hệ số tương quan 
thấp (r=0.23 và p>0,05) [13]. 
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu này cho thấy xạ hình 99mTc-MAA mô 
phỏng trước xạ trị chiếu trong chọn lọc cho bệnh nhân 
ung thư gan bằng hạt vi cầu gắn Y-90 có sự phù hợp với 
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/201868
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
hình ảnh PET/CT sau điều trị. Chỉ số T/N trên hình ảnh 
mô phỏng bằng 99mTc-MAA có mối tương quan tuyến 
tính ở mức độ trung bình với chỉ số T/N trên 90Y PET/
CT sau điều trị. Do vậy xạ hình 99mTc-MAA là phương 
pháp tin cậy để tính liều trước điều trị và chụp PET/CT 
sau điều trị cần được áp dụng thường qui để đảm bảo 
tính an toàn, chính xác của kỹ thuật điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ahmadzadehfar H. et al. (2011), “99mTc-MAA/ 90Y-Bremsstrahlung SPECT/CT after simultaneous Tc-MAA/90Y-
microsphere injection for immediate treatment monitoring and further therapy planning for radioembolization”, 
Eur J Nucl Med Mol Imaging. 38 (7),pp.1281-1288.
2. Giammarile F. et al. (2011), “EANM procedure guideline for the treatment of liver cancer and liver metastases 
with intra-arterial radioactive compounds”, Eur J Nucl Med Mol Imaging. 38 (7),pp.1393-1406.
3. Ilhan H. et al. (2015), “Predictive Value of 99mTc-MAA SPECT for 90Y-Labeled Resin Microsphere Distribution 
in Radioembolization of Primary and Secondary Hepatic Tumors”, J Nucl Med. 56 (11),pp.1654-1660.
4. Knesaurek K. et al. (2010), “Quantitative comparison of yttrium-90 (90Y)-microspheres and technetium-99m 
(99mTc)-macroaggregated albumin SPECT images for planning 90Y therapy of liver cancer”, Technol Cancer 
Res Treat. 9 (3),pp.253-262.
5. Lambert B. et al. (2010), “99mTc-labelled macroaggregated albumin (MAA) scintigraphy for planning treatment 
with 90Y microspheres”, Eur J Nucl Med Mol Imaging. 37 (12),pp.2328-2333.
6. Ng S. C. et al. (2013), “Patient dosimetry for 90Y selective internal radiation treatment based on 90Y PET 
imaging”, J Appl Clin Med Phys. 14 (5),pp.212-221.
7. Ozkan Z. G. et al. (2015), “Favorable survival time provided with radioembolization in hepatocellular carcinoma 
patients with and without portal vein thrombosis”, Cancer Biother Radiopharm. 30 (3),pp.132-138.
8. Salem R. et al. (2006), “Radioembolization with 90Yttrium microspheres: a state-of-the-art brachytherapy 
treatment for primary and secondary liver malignancies. Part 1: Technical and methodologic considerations”, J 
Vasc Interv Radiol. 17 (8),pp.1251-1278.
9. Bhangoo M. S. et al. (2015), “Radioembolization with Yttrium-90 microspheres for patients with unresectable 
hepatocellular carcinoma”, J Gastrointest Oncol. 6 (5),pp.469-478.
10. Garin E. et al. (2016), “Clinical impact of (99m)Tc-MAA SPECT/CT-based dosimetry in the radioembolization 
of liver malignancies with (90)Y-loaded microspheres”, European journal of nuclear medicine and molecular 
imaging. 43,pp.559-575.
11. Globocan (2012), Liver Cancer, Estimated Incidence, Mortality and Prevalence Worldwide in 2012.
12. Kim Y. C. et al. (2011), “Usefulness of Bremsstrahlung Images after Intra-arterial Y-90 Resin Microphere 
Radioembolization for Hepatic Tumors”, Nuclear Medicine and Molecular Imaging. 45 (1),pp.59-67.
13. Rhee S. et al. (2016), “Semi-Quantitative Analysis of Post-Transarterial Radioembolization 90Y Microsphere 
Positron Emission Tomography Combined with Computed Tomography (PET/CT) Images in Advanced Liver 
Malignancy: Comparison With 99mTc Macroaggregated Albumin (MAA) Single Photon Emission Computed 
Tomography (SPECT)”, Nuclear Medicine and Molecular Imaging. 50 (1),pp.63-69.
ÑIEÄN QUANG VIEÄT NAM Số 30 - 4/2018 69
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TÓM TẮT
Mục đích: Xạ trị chiếu trong chọn lọc sử dụng hạt vi cầu phóng xạ gắn 90 Y được áp dụng để điều trị ung thư gan. Để lập kể 
hoạch điều trị, xạ hình 99mTc-MAA là một trong những xét nghiệm chủ yếu để mô phỏng điều trị và hình ảnh 90 Y PET/CT dùng để đánh 
giá sau điều trị. Mục đích của nghiên cứu này là đối chiếu và đánh giá mối tương quan giữa hình ảnh mô phỏng trước điều trị và hình 
ảnh sau điều trị. 
Phương pháp: 20 bệnh nhân ung thư gan nguyên phát có chỉ định điều trị hạt vi cầu gắn 90Y được chọn vào nghiên cứu. Hạt 
99mTc-MAA được bơm chọn lọc vào động mạch gan nuôi khối u với liều 05 mCi, bệnh nhân được chụp xạ hình với99mTc-MAA tại khoa 
Y học hạt nhân 60 phút sau đó và thực hiện90Y PET/CT trong vòng 24 giờ sau điều trị. Hình ảnh mô phỏng trước điều trị và PET/CT 
sau điều trị được đối chiếu, mối tương quan giữa tỷ suất số đếm phóng xạ ở khối u và gan lành (chỉ số T/N) trên hình ảnh 99mTc-MAA 
và 90Y PET/CT được tính dựa trên thuật toán Spearman rank. 
Kết quả: Nghiên cứu trên 20 bệnh nhân, chúng tôi thấy phân bố của hạt vi cầu gắn Y-90 trên hình ảnh PET/CT sau điều trị và 
hình ảnh mô phỏng trước điều trị có sự phù hợp. Chỉ số T/N trên hình ảnh mô phỏng trước điều trị có mối tương quan chặt chẽ với chỉ 
số T/N thực tế trên hình ảnh PET/CT sau điều trị (rho=0.58, p<0.005). Chỉ số T/N trung bình trên hình ảnh PET/CT có xu hướng cao 
hơn không rõ rệt so với T/N mô phỏng trước điều trị (14,85 so với 11,2, p>0,05). Thể tích khối u cần điều trị trên CT có mối tương quan 
thuận, mức độ tốt với chỉ số T/N sau điều trị trên hình ảnh PET/CT. 
Kết luận: Chỉ số T/N trên hình ảnh99mTc-MAA trước điều trị có mối tương quan tốt với chỉ số T/N trên hình ảnh PET/CT sau điều 
trị Y-90, xạ hình mô phỏng trước điều trị là phương pháp có sự tin cậy tốt. 90Y PET/CT cần được áp dụng thường quy để đánh giá sau 
điều trị.
Từ khóa: hạt vi cầu gắn 90Y, 99mTc-MAA, ung thư biểu mô tế bào gan
Người liên hệ: Mai Hồng Sơn, khoa YHHN bệnh viên 108, Email: [email protected].
Ngày nhận bài: 8/3/2018. Ngày chấp nhận đăng: 30/3/2018

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_hinh_anh_petct_sau_xa_tri_chieu_trong_chon_loc_bang.pdf