Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng Lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám

tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2018 - 2019.

Phương pháp: Mô tả cắt ngang. Bệnh nhi được chẩn đoán SLE theo tiêu chuẩn của Hiệp

hội Thấp khớp Hoa Kỳ 1982 (cập nhật 1997) đến khám và điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi

Vĩnh Phúc từ 01/2018 đến 12/2019.

Kết quả: Tỷ lệ trẻ nữ là 82,5%, 75,4% sống ở nông thôn. Triệu chứng khởi phát 64,9% là

mệt mỏi, 57,9% là sốt. Trên 80% có tổn thương ở da, niêm mạc và huyết học. 84,2% có

hồng ban cánh bướm, 64,9% nhạy cảm với ánh sáng, 50,9% loét miệng, 42,1% viêm khớp,

50,9% chán ăn, 91,2% tiểu máu, 87,7% tiểu đạm, 61,4% phù, 50,9% thận hư.

Kết luận: Bệnh lupus ban đỏ hệ thống thường xảy ra ở nữ giới, trẻ > 10 tuổi, tuổi khởi

phát trung bình là 12,7. Bệnh gây tổn thương nhiều nhất ở da, niêm mạc, huyết học, cơ

xương khớp và thận. Các tổn thương ngoài thận phổ biến và nổi bật là: thiếu máu, hồng

ban cánh bướm, viêm khớp, tràn dịch màng tim, tràn dịch màng phổi. Tổn thương thận

thường gặp là phù, tiểu máu vi thể, tiểu đạm, tiểu bạch cầu.

pdf 9 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng Lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng Lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng Lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
55 
Research Paper 
Epidemiological and Clinical Characteristics of the Systemic 
Lupus Erythematosus at Vinh Phuc Obstetrics and Pediatrics 
Hospital 
Vu Thi Huyen*, Nguyen Van Nhien 
 Vinh Phuc Obstetrics and Pediatrics Hospital, 394 Me Linh, 
Khai Quang, Vinh Yen City, Vinh Phuc, Vietnam 
Received 14 August 2020 
Revised 24 August 2020; Accepted 04 September 2020 
Abstract 
Purpose: To describe the epidemiological and clinical characteristics of the systemic 
lupus erythematosus of patients coming to Vinh Phuc Obstetrics and Pediatrics Hospital in 
2019. 
Methods: A cross-sectional descriptive study was conducted on pediatric patients 
diagnosed with SLE according to Low Association standards of The United States 1982 
(updated 1997) admitted and treated at Vinh Phuc Obstetrics and Pediatrics Hospital from 
01/2018 to 12/2019. 
Results: Percentage of female was 82.5%, 75.4% live in rural areas. Onset of symptoms 
64.9% were fatigue, 57.9% were fever. Over 80% had damage to the skin, mucous 
membranes and blood. 84.2% had butterfly erythema, 64.9% sensitivity to light, 50.9% 
mouth ulcers, 42.1% arthritis, 50.9% anorexia, 91.2% hematuria, 87, 7% urinary protein, 
61.4% edema, 50.9% kidney damage. 
Conclusions: Systemic lupus erythematosus usually occurs in females, > 10 years old, the 
average onset age was 12.7. The disease causes the most damage in the skin, mucous 
membranes, hematology, musculoskeletal, and kidney. The most common and prominent 
non-renal lesions were: anemia, erythema papilloma, arthritis, pericardial effusion, pleural 
effusion. Common kidney damage was edema, microscopic hematuria, proteinuria, 
leukocytes. 
Keywords: SLE, children. 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.228 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
56 
Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng Lupus ban đỏ hệ thống 
của bệnh nhi tới khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc 
Vũ Thị Huyền*, Nguyễn Văn Nhiên 
 Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc, 394 Mê Linh, Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, Việt Nam 
Nhận ngày 14 tháng 8 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 24 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 04 tháng 9 năm 2020 
Tóm tắt 
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới khám 
tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 2018 - 2019. 
Phương pháp: Mô tả cắt ngang. Bệnh nhi được chẩn đoán SLE theo tiêu chuẩn của Hiệp 
hội Thấp khớp Hoa Kỳ 1982 (cập nhật 1997) đến khám và điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi 
Vĩnh Phúc từ 01/2018 đến 12/2019. 
Kết quả: Tỷ lệ trẻ nữ là 82,5%, 75,4% sống ở nông thôn. Triệu chứng khởi phát 64,9% là 
mệt mỏi, 57,9% là sốt. Trên 80% có tổn thương ở da, niêm mạc và huyết học. 84,2% có 
hồng ban cánh bướm, 64,9% nhạy cảm với ánh sáng, 50,9% loét miệng, 42,1% viêm khớp, 
50,9% chán ăn, 91,2% tiểu máu, 87,7% tiểu đạm, 61,4% phù, 50,9% thận hư. 
Kết luận: Bệnh lupus ban đỏ hệ thống thường xảy ra ở nữ giới, trẻ > 10 tuổi, tuổi khởi 
phát trung bình là 12,7. Bệnh gây tổn thương nhiều nhất ở da, niêm mạc, huyết học, cơ 
xương khớp và thận. Các tổn thương ngoài thận phổ biến và nổi bật là: thiếu máu, hồng 
ban cánh bướm, viêm khớp, tràn dịch màng tim, tràn dịch màng phổi. Tổn thương thận 
thường gặp là phù, tiểu máu vi thể, tiểu đạm, tiểu bạch cầu. 
Từ khóa: Lupus ban đỏ hệ thống, trẻ em. 
1. Đặt vấn đề* 
Lupus ban đỏ hệ thống (SLE - Systemic 
lupus erythematosus) là một bệnh ít gặp, 
đặc biệt là ở trẻ em, tỷ suất hằng năm ở Mỹ 
khoảng 0,56-0,6/100.000 trẻ [1]. Đây là 
bệnh tự miễn tổn thương đa cơ quan, trong 
đó tổn thương thận chiếm tỷ lệ cao khoảng 
75% [2]. Mặc dù nguyên nhân phần lớn 
không được biết, nhưng sinh lý bệnh được 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.228 
cho là do một số yếu tố. Về mặt lâm sàng, 
rối loạn này được đặc trưng bởi các giai 
đoạn thuyên giảm và tái phát và có thể biểu 
hiện với các triệu chứng cụ thể về cơ quan 
và cơ quan. Các cân nhắc điều trị chung bao 
gồm chống nắng, chế độ ăn uống và dinh 
dưỡng, cai thuốc lá, tập thể dục và chủng 
ngừa thích hợp, trong khi các phương pháp 
điều trị cụ thể cho từng cơ quan bao gồm sử 
dụng thuốc chống viêm steroid và không 
steroid, chất ức chế miễn dịch và chất sinh 
học [3]. 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
57 
Hiện nay y học chưa tìm ra phương thức 
chữa trị hoàn toàn căn bệnh này thế nhưng 
nếu phát hiện sớm và điều trị đúng cách sẽ 
kiểm soát được diễn tiến của bệnh. Tuy 
nhiên, ở Việt nam chưa có nhiều công trình 
nghiên cứu về SLE ở trẻ em. Để nâng cao 
khả năng khám, phát hiện và điều trị bệnh, 
chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục 
tiêu: “Mô tả đặc điểm dịch tễ, lâm sàng 
lupus ban đỏ hệ thống của bệnh nhi tới 
khám tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc năm 
2018-2019”. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian 
nghiên cứu 
Bệnh nhi được chẩn đoán SLE theo tiêu 
chuẩn của Hiệp hội Thấp khớp Hoa Kỳ 
1982 (cập nhật 1997) đến khám và điều trị 
tại Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc từ 
01/2018 đến 12/2019. 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn: 
● Bệnh nhi vào viện vì bệnh SLE 
lần đầu. 
● Bệnh nhi chưa từng được điều trị đặc 
hiệu ở tuyến dưới. 
● Gia đình đồng ý tham gia nghiên cứu. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: 
● Gia đình không đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt 
ngang 
2.2.2. Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 
 Chọn mẫu thuận tiện các đối tượng 
đủ tiêu chuẩn trong khoảng thời gian 
nghiên cứu. 
 Toàn bộ bệnh nhân Bệnh nhi được 
chẩn đoán SLE theo tiêu chuẩn của Hiệp 
hội Thấp khớp Hoa Kỳ 1982 (cập nhật 
1997) đến khám và điều trị tại Bệnh viện 
Sản Nhi Vĩnh Phúc từ 01/2018 đến 
12/2019. 
 Thông tin của bệnh nhân được thu 
thập vào một mẫu bệnh án riêng đã được 
nghiên cứu từ trước. 
 Thực tế chúng tôi thu thập được 57 
bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. 
2.2.3. Các bước tiến hành 
● Khi phát hiện bệnh nhi bị lupus ban 
đỏ, bác sĩ tiến hành ghi phiếu điều tra các 
thông tin đã khám và hỏi bệnh sử. 
● Làm các xét nghiệm cơ bản: huyết đồ, 
VS, điện di đạm, chức năng thận, 10 thông 
số nước tiểu, XQ phổi thẳng. 
● Làm các xét nghiệm đánh giá tổn 
thương cơ quan: thận, tim, phổi, gan. 
● Ghi lại kết quả vào phiếu điều tra và 
tập hợp lại. 
2.2.4. Thu thập số liệu 
- Thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu 
đã được thiết kế từ trước. Quá trình thu thập 
số liệu do các bác sĩ chuyên khám và phân 
loại viêm phổi. 
- Thu thập số liệu bao gồm: Mỗi bệnh 
nhi có một bệnh án riêng trong đó ghi chép 
đầy đủ họ tên, tuổi, giới tính, khu vực nông 
thôn hay thành thị, mùa vào viện. 
2.2.5. Xử lý số liệu 
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần 
mềm thống kê SPSS 20.0. 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
58 
2.3. Đạo đức trong nghiên cứu 
- Đây là nghiên cứu quan sát không can 
thiệp, các quy trình chẩn đoán và điều trị 
viêm phổi theo phác đồ Bệnh viện Sản Nhi 
Vĩnh Phúc đã được Bộ Y tế phê duyệt 
- Các thông tin thu thập được trong điều 
tra nghiên cứu được giữ bí mật, không được 
tiết lộ thông tin nghiên cứu cho một cá nhân 
hay một tổ chức nào khác. 
3. Kết quả nghiên cứu 
Bảng 1. Thông tin chung đối tượng nghiên cứu 
Đặc điểm Số lượng n=57 Tỷ lệ % 
Giới 
tính 
Nam 10 17,5 
Nữ 47 82,5 
Tuổi (X SD) 12,7 ± 3,8 
Nơi 
sống 
Thành 
thị 
14 24,6 
Nông 
thôn 
43 75,4 
Đa số trẻ có giới tính là nữ và sống ở 
nông thôn, độ tuổi trung bình là 12,7 3,8. 
Bảng 2. Triệu chứng khởi phát 
Triệu chứng khởi phát 
Số lượng 
n=57 
Tỷ lệ 
% 
Sốt 33 57,9 
Mệt mỏi 37 64,9 
Sụt cân 5 8,8 
Sốt và mệt mỏi là 2 triệu chứng khởi 
phát phổ biến với xấp xỉ 60%. 
Bảng 3. Tổn thương các cơ quan 
Cơ quan tổn thương 
Số lượng 
n=57 
Tỷ lệ % 
Da niêm mạc 51 89,5 
Huyết học 46 80,7 
Cơ xương khớp 37 64,9 
Thận 35 61,4 
Tiêu hóa 33 57,9 
Rụng tóc 32 56,1 
Thần kinh 26 45,6 
Hệ võng nội mô 21 36,8 
Phổi 17 29,8 
Viêm mạch máu 
ngoại vi 
17 28,1 
Tim 15 26,3 
Mắt 2 3,5 
Da, niêm mạc, huyết học, cơ xương 
khớp và thận là những cơ quan có tỷ lệ tổn 
thương cao nhất. 
Bảng 4. Tổn thương ở da, niêm mạc, tóc 
Tổn thương da niêm 
mạc 
Số lượng 
n=57 
Tỷ lệ 
% 
Hồng ban cánh bướm 48 84,2 
Nhạy cảm ánh sáng 37 64,9 
Loét miệng 29 50,9 
Hồng ban dát sẩn 17 29,8 
Hồng ban đĩa 9 15,8 
Hồm ban vòm khẩu cái 8 14,0 
Tăng sắc tố da 2 3,5 
Nốt thấp 1 1,8 
Chấm xuất huyết 1 1,8 
Rụng tóc 32 56,1 
Hồng ban cánh bướm, nhạy cảm ánh 
sáng, loét miệng là những biểu hiện tổn 
thương da, niêm mạc phổ biến. 
Bảng 5. Tổn thương ở cơ xương khớp 
Tổn thương cơ 
xương khớp 
Số 
lượng 
Tỷ lệ 
% 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
59 
n=57 
Viêm khớp 24 42,1 
Đau khớp 11 19,3 
Đau cơ 6 10,5 
Viêm cơ 2 3,5 
Tràn dịch ổ khớp 2 3,5 
Trên 40% trẻ có viêm khớp, gần 20% 
đau khớp và xấp xỉ 10% đau cơ. 
Bảng 6. Tổn thương ở các cơ quan 
nội trạng trừ thận 
Tổn thương cơ quan 
Số 
lượng 
n=57 
Tỷ lệ 
% 
Phổi 
Tràn dịch màng phổi 10 17,5 
Thâm nhiễm mô kẽ 7 12,3 
Viêm phổi 6 10,5 
Xẹp phổi 2 3,5 
Tim 
Tràn dịch màng tim 8 14,0 
Rối loạn nhịp 5 8,8 
Viêm cơ tim 4 7,0 
Dày thất trái 4 7,0 
Tràn mủ màng tim 1 1,8 
Hở van hai lá 1 1,8 
Hệ 
võng 
nội 
mô 
Gan to 19 33,3 
Hạch to 6 10,5 
Lách to 3 5,3 
Tiêu 
hóa 
Chán ăn 29 50,9 
Đau bụng mạn 3 5,3 
Đau bụng cấp 4 7,0 
Tâm 
thần 
kinh 
Nhức đầu 25 43,9 
Rối loạn tâm thần 
kinh 
11 19,3 
Tổn thương thực thể 
TKTƯ 
5 8,8 
Tràn dịch màng phổi, tràn dịch màng 
tim, gan to, nhức đầu, chán ăn là những 
biểu hiện hay gặp ở trẻ. 
Bảng 7. Biến đổi về huyết học 
Biến đổi huyết học 
Số lượng 
n=57 
Tỷ lệ % 
Thiếu máu 38 66,7 
Giảm tiểu cầu 8 14,0 
Hội chứng Evans 3 5,2 
Giảm bạch cầu 18 31,6 
Tăng bạch cầu 8 14,0 
Khoảng 2/3 số trẻ có biểu hiện thiếu 
máu, 1/3 có giảm bạch cầu. 
Bảng 8. Biểu hiện tổn thương tại thận 
Biểu hiện 
Số 
lượng 
n=57 
Tỷ lệ 
% 
Tiểu máu 52 91,2 
Tiểu đạm 50 87,7 
Tiểu bạch cầu 42 73,7 
Phù 35 61,4 
Thận hư 29 50,9 
Trụ niệu bất thường 26 45,6 
Tăng huyết áp 20 35,1 
Giảm độ lọc cầu thận 17 29,8 
Tiểu máu, tiểu đạm, tiểu bạch cầu và 
phù là những biểu hiện hay gặp. 
4. Bàn luận 
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống (SLE) là 
một bệnh tự miễn hệ thống không rõ 
nguyên nhân, trong đó các phản ứng miễn 
dịch bình thường chống lại các cơ quan và 
mô khỏe mạnh. Hệ thống miễn dịch không 
được kiểm soát tạo ra các kháng thể tấn 
công da, khớp, thận, tim và não. Một số 
người bị phát ban nhẹ và viêm khớp, những 
người khác bị sốt suy nhược, mệt mỏi, đau 
khớp và các cơ quan nghiêm trọng và/hoặc 
bệnh đe dọa tính mạng, những thách thức 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
60 
của việc chẩn đoán SLE, sự phức tạp của 
các biểu hiện lâm sàng và các vấn đề điều 
trị, và tác động của SLE đối với cuộc sống 
của bệnh nhân. Nghiên cứu này của chúng 
tôi này chỉ dừng lại đánh giá các đặc điểm 
lâm sàng và đặc điểm dịch tễ của bệnh nhi 
đến Bệnh viện Sản Nhi Vĩnh Phúc khám và 
điều trị trong thời gian nghiên cứu. 
Tìm hiểu về đặc điểm dịch tễ học, 
chúng tôi nhận thấy tuổi khởi phát trung 
bình là 12,7 3,8 tuổi. Kết quả này tương 
đồng với nhiều nghiên cứu trong và ngoài 
nước [1-3]. Bệnh đa số khởi phát sau 10 
tuổi, chiếm 87,7%. Lehman JA cũng ghi 
nhận nhóm tuổi > 10 gấp 3 lần < 10 [4]; Hà 
Mạnh Tuấn cũng cho ra tỷ lệ là 88,0% [1]. 
Giới nữ gặp nhiều hơn nam với tỷ số 4,7, 
tương tự trong các y văn thế giới [3]. Theo 
nghiên cứu của Deborah M. Levy năm 2012 
cho thấy: SLE khởi phát thời thơ ấu (SLE) 
là một bệnh hiếm gặp với tỷ lệ mắc 0,3-0,9 
trên 100.000 trẻ em-tuổi và tỷ lệ hiện mắc là 
3,3-8,8 trên 100.000 trẻ. Tần suất SLE cao 
hơn được báo cáo ở người châu Á, người 
Mỹ gốc Phi, người gốc Tây Ban Nha và 
Người Mỹ bản địa. Hầu hết các nghiên cứu 
báo cáo độ tuổi khởi phát cSLE trung bình 
từ 11-12 tuổi; bệnh này khá hiếm ở lứa tuổi 
dưới 5 tuổi. 
Triệu chứng khởi phát ở các bệnh nhi 
lupus, chúng tôi nhận thấy mệt mỏi và sốt là 
2 triệu chứng chiếm tỷ lệ cao, xấp xỉ 6/10 
trẻ, trong khi đó sụt cân ít gặp hơn với 
8,8%. Tuy nhiên sốt và mệt mỏi không phải 
là một triệu chứng chỉ điểm vì nó thường 
xuất hiện ở rất nhiều các bệnh lý phổ biến 
khác và phụ thuộc nhiều vào cảm giác chủ 
quan của bệnh nhi. Lupus ban đỏ hệ thống 
là một bệnh tự miễn không rõ nguyên nhân, 
đặc trưng bởi các đợt cấp và thuyên giảm. 
Biểu hiện bệnh rất đa dạng, nhưng các triệu 
chứng phổ biến nhất là mệt mỏi, sốt, sụt 
cân, phát ban trên da, viêm khớp hoặc đau 
khớp và thiếu máu. Các phát hiện lâm sàng 
và đo hiệu giá kháng thể là tiêu chuẩn chẩn 
đoán phổ biến nhất. Điều trị cá nhân với 
corticosteroid, thuốc ức chế miễn dịch hoặc 
thuốc chống sốt rét và theo dõi cẩn thận 
hoạt động của bệnh là điều cần thiết. 
Đặc điểm tổn thương các cơ quan, 
chúng tôi nhận thấy tất cả các cơ quan từ 
trong ra ngoài để có thể bị tổn thương. 
Trong đó, da, niêm mạc và huyết học dễ 
gặp tổn thương nhất với trên 80%. Thấp 
hơn là cơ xương khớp, thận với trên 60%. 
Cơ quan tiêu hóa và tóc trên 50%. Các cơ 
quan còn lại có tỷ lệ tổn thương thấp hơn. 
Kết quả của chúng tôi tương đồng với các 
tác giả trong và ngoài nước [1, 4, 5]. Theo 
các nghiên cứu của Trung Quốc, của tác giả 
X Feng nhận xét về các thay đổi đặc điểm 
lâm sàng và biểu hiện của bệnh lupus thì 
cho thấy: Bệnh nhân khởi phát vị thành niên 
có nhiều khả năng không được điều trị 
trước khi nhập viện (p < 0,001) và có biểu 
hiện da niêm mạc (p < 0,001), nhưng các 
triệu chứng cơ xương (p < 0,05) và giảm 
bạch cầu (p < 0,05) ít gặp hơn, trong khi các 
bệnh đi kèm thì nhiều. cao hơn ở bệnh nhân 
SLE khởi phát muộn (p < 0,001) [9]. 
Tổn thương ở da và niêm mạc, đây là 
nơi có tỷ lệ tổn thương cao và đa dạng. Phổ 
biến là hồng ban cánh bướm với 84,2%, 
thấp hơn là nhạy cảm ánh sáng (64,9%), 
loét miệng (50,9%), hồng ban dát sần 
(29,8%) và rụng tóc (56,1%). Kết quả này 
cao hơn so với của Cassidy J.T [3], Sultan 
Bahabri [5] và Shahid Iqbal [6] tuy nhiên, 
Hà Mạnh Tuấn lại đưa ra nhận xét tương 
đương [1]. Chúng tôi cho rằng sự khác biệt 
là do nước ta ở vùng nhiệt đới, tiếp xúc 
nhiều với tia cực tím do đó khiến tỷ lệ này 
cao hơn. Ngoài ra hoại tử mạch máu có thể 
xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị 
bằng corticosteroid và có thể phụ thuộc vào 
liều lượng thuốc, mặc dù xảy ra ở bệnh 
nhân SLE nhiều hơn so với các bệnh khác 
được điều trị tương tự bằng corticosteroid. 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
61 
Ngoài ra, tình trạng loãng xương xảy ra 
thường xuyên, liên quan đến việc sử dụng 
corticosteroid và tăng nguy cơ gãy xương. 
Các biểu hiện ở cơ xương khớp, tỷ lệ 
viêm khớp trong nghiên cứu của chúng tôi 
chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,1%, ít hơn là 
đau khớp 19,3%, đau cơ 10,5%. Viêm cơ và 
tràn dịch ổ khớp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 3,5%. 
Tính chất viêm khớp thường nhẹ, 100% 
phục hồi hoàn toàn giống như ghi nhận của 
Sultan Bahabri [5]. Vị trí viêm khớp chúng 
tôi nhận thấy chủ yếu là khớp lớn hoặc kết 
hợp khớp nhỏ và lớn. Viêm khớp gối đơn 
thuần hay kết hợp với các khớp khác chiếm 
tỷ lệ cao nhất. Còn về đau cơ, vị trí đau chủ 
yếu là cơ đùi và cơ cẳng chân. Biểu hiện 
bao gồm đau khớp và viêm khớp, hoại tử vô 
mạch, gãy xương dễ gãy và đau thứ phát. 
Viêm khớp xảy ra ở 80% bệnh nhân mắc 
SLE, và mặc dù mô tả điển hình là viêm đa 
khớp gây đau đớn, trên thực tế, một tỷ lệ 
đáng kể trẻ em bị SLE chỉ cảm thấy đau nhẹ 
Đau khớp cũng thường xảy ra và có thể là 
thứ phát sau hội chứng khuếch đại cơn đau 
xảy ra trong hoặc sau khi bệnh bùng phát 
với kết quả là ngủ kém và mệt mỏi vào ban 
ngày, giảm điều hòa tim mạch và đau toàn 
thân [10]. 
Tổn thương ở phổi và tổn thương ở tim, 
tỷ lệ tổn thương là 29,8% trẻ, 26,3% trẻ có 
tổn thương, tỷ lệ cao nhất là tràn dịch màng 
tim với 14,0%, rối loạn nhịp 8,8%, viêm và 
dày thất trái chiếm 7,0%.. Kết quả này 
tương tự Cassidy J.T là 31,0% [3] và Hà 
Mạnh Tuấn 30,0% [1], cao hơn của Glidden 
RS là 18,0% [7], Shahid Iqbal là 5% [6]. 
Tràn dịch màng phổi trong nghiên cứu của 
chúng tôi là 17,5% tuy nhiên thường ở múc 
độ nhẹ, biến mất sau điều trị và không để lại 
di chứng. Ngoài ra chúng tôi cũng ghi nhận 
12,3% thâm nhiễm mô kẽ và 10,5% viêm 
phổi. Quá trình viêm, viêm thanh mạc là 
một trong số ít các biểu hiện SLE có liên 
quan đến protein phản ứng (CRP). Mặc dù 
tràn dịch màng ngoài tim và màng phổi lớn 
được nhìn thấy trên phim chụp X-quang 
hoặc siêu âm tim, nhưng một đợt bùng phát 
viêm thanh mạc có thể chỉ xuất hiện với cơn 
đau, dấu hiệu xét nghiệm máu về hoạt động 
của bệnh và tăng CRP khi đối mặt với 
những phát hiện tối thiểu trên chụp 
X-quang. Các biểu hiện tim phổi khác hiếm 
gặp hơn của SLE bao gồm viêm cơ tim, 
viêm nội tâm mạc không nhiễm trùng 
(Libman-Sacks), viêm phổi kẽ, xuất huyết 
phổi và tăng áp phổi. Đây là những biến 
chứng thường nghiêm trọng và có thể đe 
dọa đến tính mạng cần được điều trị tích 
cực và nhanh chóng 
Triệu chứng tâm thần kinh, một điểm 
đáng lưu ý đó là biểu hiện nhức đầu chiếm 
43,9%. Điều này hợp lý với tỷ lệ trong y 
văn cũng như của các tác giả trong và ngoài 
nước khác. Tuy nhiên, đây cũng là một triệu 
chứng khó tìm hiểu rõ nguyên nhân. Có 5 
trường hợp có tổn thương thực thể hệ thần 
kinh trương ương, cả 5 trường hợp đều có 
co giật, 4 trường hợp loạn tri giác và 1 
trường hợp liệt nửa người. Tỷ lệ này không 
có nhiều khác biệt so với Hà Mạnh Tuấn [1] 
và thấp hơn của Cassidy [3] và Glidden RS 
[7]. Trong rất nhiều các nghiên cứu có chỉ 
ra rằng: co giật hiếm khi được nhìn thấy 
trong cSLE như một sự kiện riêng biệt, 
nhưng thay vào đó thường được quan sát 
thấy đồng thời với các hội chứng NPSLE 
khác. Động kinh cũng có thể xảy ra ở 
những bệnh nhân bị nhiễm trùng thần kinh 
trung ương, tăng huyết áp nặng và ở những 
bệnh nhân có một biến chứng mới được 
công nhận gần đây được gọi là hội chứng 
bệnh não có hồi phục sau (PRES). Tình 
trạng suy giảm khả năng nhận thức có thể 
được biểu hiện bằng việc giảm sút thành 
tích học tập và những khó khăn nhỏ khi làm 
việc với trí nhớ và các nhiệm vụ tập trung. 
Rối loạn chức năng nhận thức được chẩn 
đoán bằng xét nghiệm tâm lý thần kinh 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
62 
truyền thống và đã được quan sát thấy ở 
hơn một phần ba bệnh nhân cSLE không có 
triệu chứng [9,10]. 
Triệu chứng huyết học, tỷ lệ xảy ra là 
80,7%. Thiếu máu là triệu chứng phổ biến 
với khoảng 2/3 bệnh nhi mắc phải, giảm 
bạch cầu có tỷ lệ thấp hơn là 31,6%. Kết 
quả này tương tự Hà Mạnh Tuấn 80% [1], 
Shahid Iqbal 85% [6] và Glidden RS 76% 
[7] cao hơn của Sultan Bahabri 66,6% [5], 
King KK 46% [8]. Chúng tôi ghi nhận thiếu 
máu đa số ở mức độ nhẹ, hồng cầu hầu hết 
là đẳng sắc đẳng bào, phù hợp với thiếu 
máu do viêm, tuy nhiên cũng có thiếu máu 
hồng cầu nhỏ nhược sắc khi bệnh tiến triển 
nặng và kéo dài. Các nguy cơ chảy máu 
(trong sọ, trong phúc mạc) tương tự trong 
giảm tiểu cầu liên quan đến SLE như trong 
ban xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch 
(ITP), do đó, điều trị thường dành cho giảm 
tiểu cầu có triệu chứng hoặc nghiêm trọng, 
và cho những bệnh nhân có tiền sử giảm 
tiểu cầu nặng có biểu hiện giảm cấp tính 
(tức là bùng phát) số lượng tiểu cầu của họ. 
Trẻ em và thanh thiếu niên bị ITP mãn tính 
nên được đánh giá về sự hiện diện của 
kháng thể kháng nhân vì chúng có nguy cơ 
cao phát triển SLE. 
Tìm hiểu về tổn thương tại thận khá đa 
dạng, tuy nhiên hay gặp nhất là tiểu máu 
91,2%, tiểu đạm 87,7%, tiểu bạch cầu 
73,7%, phù 61,4% và thận hư 50,9%. Kết 
quả này tương tự với Sultan Bahabri [5]. 
Lupus ban đỏ hệ thống thường ảnh hưởng 
nhất đến cầu thận (tức là “viêm thận 
lupus”), và các kẽ thận hiếm khi liên quan. 
Ở một bệnh nhân bị suy thận cấp, ban xuất 
huyết giảm tiểu cầu huyết khối (TTP), bệnh 
lý vi mô huyết khối nên được xem xét. TTP 
được thảo luận thêm bên dưới. Vì mức độ 
nghiêm trọng của viêm thận thường không 
tương quan với mức độ nghiêm trọng của 
các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng, nên 
sinh thiết thận nếu nghi ngờ viêm cầu thận, 
bao gồm protein niệu nhẹ dai dẳng [10]. 
5. Kết luận 
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống thường xảy 
ra ở nữ giới, trẻ > 10 tuổi, tuổi khởi phát 
trung bình là 12,7. Bệnh gây tổn thương 
nhiều nhất ở da, niêm mạc, huyết học, cơ 
xương khớp và thận. Các tổn thương ngoài 
thận phổ biến và nổi bật là: thiếu máu, hồng 
ban cánh bướm, viêm khớp, tràn dịch màng 
tim, tràn dịch màng phổi. Tổn thương thận 
thường gặp là phù, tiểu máu vi thể, tiểu 
đạm, tiểu bạch cầu. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Tuan HM, Kim HT. Risk factors for 
hospital infections in the ICU. Medical and 
Pharmaceutical News 2005;6:139-142 (in 
Vietnamese) 
[2] Tuan NM. Immune hemolysis in children. 
Residency Graduate Thesis in Paediatrics, 
University of Medicine and Pharmacy, Ho 
Chi Minh City 2002. (in Vietnamese) 
[3] Cassidy JT. Systemic lupus erythematosus, 
Juvenile dermatomyositis, Scleroderma and 
Vasculitis. Kelly's textbook of 
Rheumatology, 6
th
 ed. W.B Saunders; 
2001, p. 1316-1318. 
[4] Lehman Thomas JA, Janet A. Mouradian. 
Systemic lupus erythematosus, Pediatric 
nephrology, 4
th
 ed, Lippincott Williams & 
Wilkins; 1999, p. 793-808. 
[5] Bahabri S, Sabban E, Rashed A et al. 
Juvenile systemic lupus erythematosus in 
60 Saudi children. Ann Saudi Med 
2019;17(6):612-615. https://doi.org/10.514 
4/0256-4947.1997.612 
[6] Iqbal S, Sher MR, Good RA et al. Diversity 
in presenting manifestations of systemic 
lupus erythematosus in children. J Pediatr 
V.T. Huyen, N.V. Nhien / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 55-63 
63 
1999;135(4):500-505. https://doi.org/10.10 
16/s0022-3476(99)70174-5. 
[7] Glidden RS, Mantzouranis EC, Borel Y. 
Systemic lupus erythematosus in 
childhood: clinical manifestations and 
improved survival in fifty-five patients. 
Clin Ummunol Immunopathol 
1983;29(2):196-210. https://doi.org/10.101 
6/0090-1229(83)90024-7 
[8] Fortuna G, Brennan MT. Systemic lupus 
erythematosus: epidemiology, pathophy- 
siology, manifestations, and management. 
Dent Clin North Am 2013;57(4):631-55. 
https://doi.org/10.1016/j.cden.2013.06.003. 
[9] Feng X, Zou Y, Pan W. Associations of 
clinical features and prognosis with age at 
disease onset in patients with systemic 
lupus erythematosus. Lupus 2014;23(3): 
327-340. https://doi.org/10.1177/096120331 
3513508. 
[10] Levy DM, Kamphuis. Systemic lupus 
erythematosus in children and adolescents. 
Pediatr Clin North Am 2012;59(2): 345-
364. https://doi.org/10.1016/j.pcl.2012.03.0 
07. 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_dich_te_lam_sang_lupus_ban_do_he_thong_cua_benh_nhi.pdf