Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương

Đặt vấn đề/Mục tiêu:Viêm phổi là bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân chính gây tử

vong ở trẻ em . Vi rút là nguyên nhân quan trọng gây viêm phổi ở trẻ em , trong đó RSV

là nguyên nhân thường gặp nhất. Chúng tôi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm

sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan ở các trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV.

Phương pháp: Nghiên cứu 250 bệnh nhân viêm phổi nặng có nhiễm RSV trong thời

gian từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019.

Kết quả: Tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương, trong 6 tháng cuối năm 2019, có

3472 ca nhập viện vì viêm phổi, trong đó 7,2% là viêm phổi nặng do RSV. Bệnh chủ yếu gặp

ở nam (66,7%), tỷ lệ nam/nữ = 2/1. Tuổi nhập viện trung bình 4,94±6,04 tháng tuổi. Tỷ lệ

nhiễm RSV ở các nhóm tuổi lần lượt là < 3="" tháng="" (21,3%),="" từ="" 3="" tháng="" -="" 6="" tháng="" (23,4%),="" từ="">

tháng - 12 tháng (27%), từ 12 tháng - 24 tháng (19%), trên 2 tuổi 9,3%. Các triệu chứng lâm

sàng hay gặp ho, chảy mũi, khò khè, thở nhanh, rút lõm lồng ngực đều chiếm tỷ lệ cao

(> 80%). Tỷ lệ bệnh tăng cao đột biến vào tháng 12 với 25,1% số trường hợp. Các trẻ nhập

viện đều có triệu chứng SHH với biến đổi khí máu hay gặp là tăng CO2 chiếm 59,2%. Thời

gian nằm viện trung bình 6,2±7,4 ngày.

Kết luận: Tỷ lệ nhiễm RSV gia tăng 6 tháng cuối năm 2019, trẻ nhập viện chủ yếu là ở

nhóm trẻ dưới 1 tuổi, với các triệu chứng nặng, suy hô hấp nặng ở các mức độ khác

nhau. Một số yếu tố liên quan như đẻ non, suy dinh dưỡng, loạn sản phế quản phổi làm

gia tăng tỷ lệ mắc RSV và mức độ nặng ở các trẻ viêm phổi nhập viện.

pdf 9 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương

Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương
 Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
1 
 Research Paper 
Epidemiological and Clinical Features of Patients Suffering 
from Severe Pneumonia Caused by RSV in the Respiratory 
Center of Vietnam National Children's Hospital 
Le Thi Hong Hanh*, Hoang Thi Thu Hang, 
Nguyen Thi Le, Hoang Phuong Thanh, Dang Mai Lien 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 11 August 2020 
Revised 22 August 2020; Accepted 28 August 2020 
Abstract 
Background/Purpose: Pneumonia is a common respiratory and life-threatening 
disease in pediatrics. Virus is an important cause of pneumonia in children, of which 
Respiratory syncytial virus (RSV) is the most common cause. The aim of this research 
is to access the clinical, epidemiological features and risk factors of patients suffering 
from RSV severe pneumonia. 
Methods: We studied 250 patients suffering from severe pneumonia caused by RSV 
from June 2019 to December 2019 in the Respiratory Center of Vietnam National 
Children’s Hospital. 
Results: In Respiratory Center of our hospital, 3472 hospitalizations caused by 
pneumonia occurred in the last 6 months in 2019; 7.2% of these caused by RSV severe 
pneumonia. Pneumonia caused by RSV occurred most in male (66,7%), the rate of 
male/female = 2/1. The mean age was 4,94 ± 6,04 months. The prevalence of RSV in 
age groups is, respectively, as follows: less than 3 months (21,3%), from 3 months to 6 
months (23,4%), from 6 months to 12 months (27%), from 12 months to 24 months 
(19%), over 2 years (9,3%). The most common symptoms which were accounted for 
over 80% were rhinorrhea, cough, wheeze, tachypnea and chest recession. The rate of 
admission increased sharply in December with 25.1% of cases. All hospitalized 
patients had respiratory distress symptoms with the changes in blood gas analysis, 
accounting for 59.2% of hypercapnia. The mean of hospitalization was 6,2 ± 7,4 days. 
Conclusions: the rate of RSV infection increased in the last 6 months in 2019. Most of 
patients who less than 1 year of age were admitted to hospital because of severe 
clinical symptoms and respiratory distress. Risk factors were related to the severity of 
RSV severe pneumonia were: premature, malnutrition, bronchopulmonary dysplasia. 
Keywords: Severe pneumonia; RSV. 
* 
_______ 
* Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.225 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
2 
Đặc điểm dịch tễ học lâm sàng ở trẻ viêm phổi nặng có nhiễm 
RSV tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương 
Lê Thị Hồng Hanh*, Hoàng Thị Thu Hằng, 
Nguyễn Thị Lê, Hoàng Phương Thanh, Đặng Mai Liên 
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 11 tháng 8 năm 2020 
Chỉnh sửa ngày 22 tháng 8 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 28 tháng 8 năm 2020 
Tóm tắt 
Đặt vấn đề/Mục tiêu:Viêm phổi là bệnh lý thường gặp và là nguyên nhân chính gây tử 
vong ở trẻ em . Vi rút là nguyên nhân quan trọng gây viêm phổi ở trẻ em , trong đó RSV 
là nguyên nhân thường gặp nhất. Chúng tôi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm 
sàng, cận lâm sàng và các yếu tố liên quan ở các trẻ viêm phổi nặng có nhiễm RSV. 
Phương pháp: Nghiên cứu 250 bệnh nhân viêm phổi nặng có nhiễm RSV trong thời 
gian từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019. 
Kết quả: Tại Trung tâm Hô hấp Bệnh viện Nhi Trung ương, trong 6 tháng cuối năm 2019, có 
3472 ca nhập viện vì viêm phổi, trong đó 7,2% là viêm phổi nặng do RSV. Bệnh chủ yếu gặp 
ở nam (66,7%), tỷ lệ nam/nữ = 2/1. Tuổi nhập viện trung bình 4,94±6,04 tháng tuổi. Tỷ lệ 
nhiễm RSV ở các nhóm tuổi lần lượt là < 3 tháng (21,3%), từ 3 tháng - 6 tháng (23,4%), từ 6 
tháng - 12 tháng (27%), từ 12 tháng - 24 tháng (19%), trên 2 tuổi 9,3%. Các triệu chứng lâm 
sàng hay gặp ho, chảy mũi, khò khè, thở nhanh, rút lõm lồng ngực đều chiếm tỷ lệ cao 
(> 80%). Tỷ lệ bệnh tăng cao đột biến vào tháng 12 với 25,1% số trường hợp. Các trẻ nhập 
viện đều có triệu chứng SHH với biến đổi khí máu hay gặp là tăng CO2 chiếm 59,2%. Thời 
gian nằm viện trung bình 6,2±7,4 ngày. 
Kết luận: Tỷ lệ nhiễm RSV gia tăng 6 tháng cuối năm 2019, trẻ nhập viện chủ yếu là ở 
nhóm trẻ dưới 1 tuổi, với các triệu chứng nặng, suy hô hấp nặng ở các mức độ khác 
nhau. Một số yếu tố liên quan như đẻ non, suy dinh dưỡng, loạn sản phế quản phổi làm 
gia tăng tỷ lệ mắc RSV và mức độ nặng ở các trẻ viêm phổi nhập viện. 
Từ khóa: Viêm phổi nặng, RSV. 
1. Đặt vấn đề* 
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới 
năm 2006, trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước 
đang phát triển, nhiễm khuẩn hô hấp dưới 
cấp tính đứng hàng đầu trong các nguyên 
nhân gây tử vong ở lứa tuổi này [1,2]. Ở trẻ 
em, tỷ lệ mắc viêm phổi vi rút khá cao, 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/jprp.v4i5.225 
chiếm 60 đến 70% [1,3]. Những vi rút gây 
viêm phổi hay gặp nhất như vi rút hợp bào 
hô hấp (RSV). Trong năm 2005 ước tính có 
khoảng 33,8 triệu trường hợp nhiễm trùng 
đường hô hấp dưới do nhiễm RSV xảy ra 
trên toàn thế giới ở trẻ dưới 5 tuổi, với ít nhất 
3,4 triệu trẻ bị nhiễm trùng đường hô hấp 
dưới cần phải nhập viện điều trị và có 
khoảng 66000 - 199000 trẻ dưới 5 tuổi chết 
vì nhiễm trùng đường hô hấp dưới do nhiễm 
RSV [4]. Việc nghiên cứu và cập nhật tình 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
3 
hình viêm phổi do vi rút RSV tại các đơn vị 
điều trị về hô hấp là rất cần thiết . Tỷ lệ 
nhiễm vi rút RSV đặc biệt gia tăng vào các 
mùa thu, đông. Trung tâm hô hấp Bệnh viện 
Nhi Trung ương trong 6 tháng cuối năm 
cũng tiếp nhận và điều trị rất nhiều bệnh 
nhân nhiễm RSV. Chính vì thế, chúng tôi 
tiến hành đề tài với mục tiêu sau: “Nghiên 
cứu một số đặc điểm dịch tễ, lâm sàng , 
cận lâm sàng trẻ viêm phổi nặng có 
nhiễm vi rút hợp bào hô hấp”. 
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Bao gồm các bệnh nhân từ 1 tháng đến 
15 tuổi nhập viện tại Trung tâm Hô hấp 
Bệnh viện Nhi Trung ương được chẩn đoán 
viêm phổi nặng và có nhiễm RSV trong thời 
gian từ 01/06/2019-31/12/2019. 
 Tiêu chuẩn viêm phổi theo WHO 
(2013) [5]: 
 Có viêm phổi: ho hoặc khó thở kèm 
theo một trong các dấu hiệu 
+ Thở nhanh 
+ Rút lõm lồng ngực 
+ Nghe phổi có bất thường 
 Có dấu hiệu nặng: có 1 trong các 
dấu hiệu 
+ Tím trung ương hoặc độ bão hòa oxy 
qua da SpO2 < 90% 
+ Khó thở nặng: thở rên, rút lõm lồng 
ngực nặng 
+ Có dấu hiệu nguy hiểm toàn thân 
● Bỏ bú hoặc không uống được 
● Li bì khó đánh thức 
● Co giật 
 Tiêu chuẩn chẩn đoán có nhiễm 
RSV: Xét nghiệm dịch hô hấp (dịch tỵ hầu, 
dịch nội khí quản) tìm RSV bằng phương 
pháp Quick test hoặc PCR tại trung tâm Vi 
sinh Bệnh viện Nhi Trung ương dương tính. 
 Tiêu chuẩn loại trừ: Loại bỏ khỏi 
nghiên cứu các trường hợp sau: 
 Viêm tiểu phế quản 
 Viêm phổi không nặng 
 Lứa tuổi 15 tuổi 
 Gia đình không hợp tác nghiên cứu 
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Thiết kế mô 
tảtiến cứu 
2.2.2. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu thuận tiện 
2.2.3. Cách thức nghiên cứu: Các trẻ 
nằm viện tại trung tâm hô hấp trong thời 
gian nghiên cứu đủ tiêu chuẩn chẩn đoán 
viêm phổi nặng và có xét nghiệm RSV 
dương tính tại lúc vào viện hoặc trong quá 
trình nằm viện. Mẫu bệnh phẩm làm xét 
nghiệm RSV được lấy từ các dịch hô hấp 
(dịch tỵ hầu, dịch nội khí quản) 
2.2.4. Xử lý số liệu: Sử dụng phần 
mềm SPSS 20.0. 
3. Kết quả nghiên cứu 
Trong thời gian từ 01/06/2019 đến 
31/12/2019 có 250 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn 
chẩn đoán viêm phổi nặng có nhiễm RSV 
được đưa vào nghiên cứu. Tổng số bệnh 
nhân nhập viện điều trị nội trú tại Trung 
tâm Hô hấp trong 6 tháng cuối năm là 3473 
bệnh nhân. Như vậy tỷ lệ viêm phổi nặng có 
nhiễm RSV chiếm 7,2 % các trường hợp 
nhập viện tại Trung tâm Hô hấp 6 tháng 
cuối năm 2019. Cụ thể, chúng tôi thu được 
kết quả như sau: 
Tỷ lệ mắc bệnh theo giới: 
f 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
4 
j 
D
Hình 1. Tỷ lệ mắc bệnh theo giới. 
Nhận xét: Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ là 2/1Tuổi nhập viện trung bình 4,94 ± 6,04 
tháng tuổi, nhỏ nhất là 1 tháng tuổi và lớn nhất là 3 tuổi. 
7.4
4.5 5.3
17.2
21.3
19.2
25.1
0
5
10
15
20
25
30
tháng 6 tháng 7 tháng 8 tháng 9 tháng 10 tháng 11 tháng 12
Hình 2. Tỷ lệ mắc bệnh theo tháng. 
Nhận xét: Tỷ lệ mắc bệnh rải rác tất cả các tháng, có xu hướng tăng dần và cao nhất là tháng 12. 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
5 
Bảng 1. Triệu chứng cơ năng viêm phổi nặng có nhiễm RSV 
 Bệnh nhân 
Triệu chứng 
Số BN Tỷ lệ % 
Sốt 47 18,8 
Khò khè 228 91,2 
Ho 204 81,6 
Sổ mũi 231 92,4 
Khó thở 250 100 
Ăn kém 234 93,6 
Nhận xét: Ho, khò khè, chảy mũi, ăn kém là những triệu chứng cơ năng hay gặp khiến trẻ phải đi 
khám và nhập viện. Sốt là triệu chứng gặp với tần suất ít hơn. Khó thở là triệu chứng gặp ở 100% các 
bệnh nhân nhập viện. 
Bảng 2. Triệu chứng thực thể viêm phổi nặng nhiễm RSV 
Nhận xét: Các triệu chứng thở nhanh, RLLN, ran ở phổi hầu hết có ở các bệnh nhân viêm phổi 
nặng nhiễm RSV. Phần lớn các trẻ có nồng độ Oxy thấp lúc vào viện với 78% trẻ có Sp02 dưới 90%. 
Tím tái gặp ở 4,8% trường hợp. 
Bảng 3. Một số yếu tố liên quan đến viêm phổi nặng nhiễm RSV 
Một số yếu tố liên quan Tổng số Tỷ lệ % 
Đẻ non 62 24,8 
Suy dinh dưỡng 78 31,2 
LSPQP 31 12,4 
Bệnh lý thần kinh 15 6 
Không được bú mẹ 39 15,6 
 Bệnh nhân 
Triệu chứng 
Tổng số Tỷ lệ % 
Thở nhanh so với lứa tuổi 250 100 
Tím 12 4,8 
Rút lõm lồng ngực 236 94,4 
Ran ẩm, ran rít 242 96,8 
SpO2 không O2 
< 90 % 195 78 
90- 95% 55 22 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
6 
Nhận xét: Trong số các trẻ VP nặng nhiêm RSV nhập viện, tỷ lệ trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng, 
LSPQP gặp với tỷ lệ lần lượt là 24,8%, 31,2%, 12,4%. 
Bảng 4. Đặc điểm công thức máu và CRP của bệnh nhân khi vào viện 
 Bệnh nhân 
Chỉ số 
X±SD 
BC (G/L) 14,07 ± 4,08 (2,80-40,9) 
BC Trung tính ( G/L) 5,74 ± 3,51 (0,10-27,00) 
BC Lympho( G/L) 3,59 ± 2,54 (0,40-14,40) 
CRP (mg/dl) 19,75 ± 34,32 (0,1-182) 
Nhận xét:- Bệnh nhân có số lượng bạch cầu ≤ 10 G/L là 141 bệnh nhân (56,4), bệnh nhân có số 
lượng 
bạch cầu > 10 G/L là 109 bệnh nhân (43,6%) với số lượng BC trung bình 14,07 ± 4,08G/L. Bệnh nhân 
có chỉ số CRP ≤ 6 mg/dl là 162 bệnh nhân (64,8%), bệnh nhân có chỉ số CRP > 6 mg/dl là 88 bệnh 
nhân (35,2%) với chỉ số trung bình là 19,75 ± 34,32mg/dl. 
Bảng 5. Đặc điểm khí máu 
Đặc điểm khí máu Tổng số Tỷ lệ % 
Giảm Oxy 38 15,2 
Tăng CO2 148 59,2 
Hỗn hợp 64 25,6 
Nhận xét: Biến đổi trên khí máu hay gặp nhất là tình trạng tăng CO2. 
Bảng 6. Đặc điểm Xquang phổi của bệnh nhân khi vào viện 
Bệnh nhân Xquang Tổng số Tỷ lệ % 
Tổn thương phổi 
mờ đám/rải rác 162 64,8 
kẽ 23 9,2 
thùy 10 4 
ứ khí 67 26,8 
Nhận xét: Bệnh nhân có tổn thương phổi dạng đám mờ tập trung hay rải rác chiếm 64,8%, ứ khí 
26,8%, tổn thương phổi kẽ 9,2%, tổn thương dạng thùy 4%. 
Bảng 7. Kết quả cấy dịch tỵ hầu 
Kết quả cấy dịch tỵ hầu Số lượng Tỷ lệ 
Âm tính 196 78,4% 
Dương tính 
Gram âm 
Gram dương 
40 16% 
14 5,6% 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
7 
Nhận xét: Tỷ lệ cấy vi khuẩn dương tính chiếm 21,6%, trong đó chủ yếu là vi khuẩn gram âm 
(40/54 trường hợp, chiếm 74,1%). 
Bảng 8. Kết quả điều trị chung 
 Bệnh nhân 
Kết quả 
Tổng số Tỷ lệ % 
Khỏi - Đỡ giảm 173 69,2 
Chuyển viện (trong tình trạng đỡ hơn) 12 30,8 
Tử vong - Xin về 0 0 
Nhận xét: Tỷ lệ chữa khỏi và đỡ giảm chiếm 100%. Trong thời gian nghiên cứu chưa ghi nhận 
trường hợp nào tử vong. Thời gian nằm viện trung bình 6,2± 7,4 ngày. Thời gian thở oxy trung bình 
4,7 ± 5,9 ngày. 
4. Bàn luận 
Tỷ lệ nhiễm RSV trong 6 tháng cuối 
năm 2019 ở các trường hợp mắc viêm phổi 
nặng là 7,2%. Con số này chưa bao gồm các 
trường hợp viêm phổi không nặng và viêm 
tiểu phế quản. Điều này cho thấy RSV là 
căn nguyên quan trọng gây viêm phổi ở trẻ. 
Vềgiới tính, số trẻ nam nhiều hơn số trẻ nữ, 
tỷ lệ nam/nữ = 2/1. Có thể do thực tế hiện 
nay, trẻ nam được sinh ra nhiều hơn so với 
trẻ nữ. 
Tỷ lệ mắc RSV tăng cao ở tháng 12 do 
thời tiết lạnh ẩm. Trong 1 nghiên cứu 117 
bệnh nhân nhi dưới 18 tuổi của Huijskens 
và cộng sự tại Netherlands năm 2012 tác giả 
cũng thấy rằng tỷ lệ phân lập được vi rút, 
đặc biệt là RSV cao nhất từ tháng 11 đến 
tháng 2 năm sau [6]. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ 
dưới 6 tháng chiếm tới 44,7%. Nghiên cứu 
của chúng tôi có kết quả tương tự so với 
Đào Minh Tuấn và cộng sự, trẻ < 6 tháng 
chiếm 62,5% (năm 2013), chiếm 60,34% 
(năm 2014) [7]. 
Các triệu chứng lâm sàng là các triệu 
chứng điển hình của viêm phổi và ở mức độ 
nặng.Nghiên cứu của Dan Peng và Van de 
Zalm cũng thấy rằng ho khan hoặc ho xuất 
tiết nhiều dịch nhầy (71,9-67,7%), khò khè 
(41,1%), chảy nước mũi (61,6%), thở nhanh 
theo tuổi, khó thở, co rút lồng ngực, cánh 
mũi phập phồng, đầu gật gù theo nhịp thở, 
co kéo cơ liên sườn, rút lõm hõm ức 
(53,1%) [8, 9]. 
Một số yếu tố liên quan đến mắc viêm 
phổi nặng có nhiễm RSV có thể kể đến như 
tình trạng đẻ non, SDD, LSPQP, không 
được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ. Tuy nhiên 
cần thêm các nghiên cứu so sánh với nhóm 
chứng để khẳng định. 
Tổn thương trên phim chụp Xquang 
phổi cho thấy, đa số bệnh nhân có tổn 
thương phổi dạng đám mờ tập trung hay rải 
rác chiếm 64,8%, tổn thương phổi kẽ 9,2%, 
ứ khí 26,8%, tổn thương dạng thùy 4%. Kết 
quả này gần tương tự với nghiên cứu trên 
210 bệnh nhi viêm phổi của tác giả W Guo 
và cộng sự năm 2012. Nghiên cứu chỉ ra, 
bệnh nhân có tổn thương mờ 2 bên phổi 
63,33%, tổn thương dạng kẽ 15,71%, dạng 
thùy 7,14%, ứ khí 13,82% [10]. 
Tỷ lệ đồng nhiễm vi khuẩn được ghi 
nhận chắc chắn ở 21,6% bệnh nhân. Tỷ lệ 
cấy âm tính rất cao, tuy nhiên chưa loại trừ 
các trường hợp âm tính giả. Trong đó chủ 
yếu là các vi khuẩn gram âm (chiếm 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
8 
74,1%). Có thể do các bệnh nhân đã nằm 
viện ở các tuyến dưới trước khi lên Bệnh 
viện Nhi Trung ương, điều này cho thấy 
nhiễm khuẩn bệnh viện là một trong các yếu 
tố làm tăng thêm tình trạng nặng của bệnh 
nhân. 
100 % trẻ được điều trị khỏi hoặc đỡ để 
chuyển tuyến với thời gian nằm viện trung 
bình 6,2 ± 7,4 ngày, trong đó thời gian thở 
oxy trung bình là 4,7 ± 5,9 ngày. Thời gian 
nằm viện trung bình của chúng tôi thấp hơn 
so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc 
Trân là 15,71 ngày khi nghiên cứu về viêm 
phổi do vi rút nói chung [9]. Trong nghiên 
cứu này, nhóm tác giả cũng ghi nhận những 
trường hợp viêm phổi nặng , đặc biệt liên 
quan tới adenovi rút , hoặc đồng nhiễm 
nhiều vi rú t, vi rút và vi khuẩn cùng lúc , có 
thể do đó thời gian nằm viện kéo dài hơn . 
Trong khi nghiên cứu của chúng tôi chỉ lấy 
các trường hợp nhiễm RSV , các trường hợp 
xét nghiệm vi rút khác dương tính kèm theo 
không lấy vào nghiên cứu. Hầu hết các bệnh 
nhân bỏ oxy được 1-2 ngày sẽ được xuất 
viện về nhà hoặc chuyển tuyến do tình trạng 
quá tải, cần giải phóng bệnh nhân tại Trung 
tâm hô hấp. 
5. Kết luận 
Nghiên cứu của chúng tôi rút ra 1 số kết 
luận sau: 
Tỷ lệ nhiễm RSV gia tăng 6 tháng cuối 
năm 2019. Tỷ lệ viêm phổi nặng có nhiễm 
RSV so với tổng số ca nhập viện tại Trung 
tâm Hô hấp 6 tháng cuối năm 2019 là 7,2 
%. Điều này cho thấy RSV rất dễ lây lan 
thành dịch. Trẻ nhập viện chủ yếu là ở 
nhóm trẻ dưới 1 tuổi, với các triệu chứng 
nặng, suy hô hấp nặng ở các mức độ khác 
nhau. 
100% các bệnh nhân nhập viện đều có triệu 
chứng khó thở. Phần lớn các trẻ có nồng độ 
Oxy thấp lúc vào viện với 78% trẻ có Sp02 
dưới 90% 
Thời gian nằm viện trung bình 6,2 ± 7,4 
ngày, trong đó thời gian thở oxy trung bình 
4,7 ± 5,9 ngày. Một số yếu tố liên quan như 
đẻ non, suy dinh dưỡng, loạn sản phế quản 
phổi làm gia tăng tỷ lệ mắc RSV và mức độ 
nặng ở các trẻ viêm phổi nhập viện. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Simoes EAF, Cherian T, Chow J et al. 
Acute Respiratory Infections in Children. 
In: Jamison DT, Breman JG, Measham AR, 
et al., editors. Disease Control Priorities in 
Developing Countries. 2nd edition. 
Washington (DC): The International Bank 
for Reconstruction and Development The 
World Bank; 2006. 
[2] WHO, UNICEF. Global Action Plan for 
Prevention and Control of Pneumonia 
(GAPP); 2008. 
[3] Pavia AT. Viral infections of the lower 
respiratory tract: old viruses, new viruses, 
and the role of diagnosis. Clin Infect Dis 
2011;52(4):S284-9. https://doi.org/10.1093/ 
cid/cir043. 
[4] Nair H, Nores DJ, Gessner BD et al. Global 
burden of acute lower respiratory infections 
due to respiratory syncytial virus in young 
children: a systematic review and meta 
analysis. Lancet 2010;375(9725):1545 - 
1555.vhttps://doi.org/10.1016/S0140-6736 
(10)60206-1. 
[5] WHO. Cough or difficult breathing. Pocket 
book of hospital care for children; 2005, p. 
69-106. 
[6] Huijskens EG, Biesmans RC, Buiting AG et 
al. Diagnostic value of respiratory virus 
detection in symptomatic children using real-
time PCR. Virology Journal 2012;9:276. 
https://doi.org/10.1186/1743-422X-9-276. 
[7] Tuan DM, Tran NTN. Some clinical, 
subclinical, and clinical epidemiological 
characteristics of severe acute lower 
L.T.H. Hanh et al. / Journal of Pediatric Research and Practice, Vol. 4, No. 5 (2020) 1-9 
9 
respiratory tract infections in children in the 
Department of Respiratory of the Vietnam 
National Children's Hospital in 2013 and 
2014. Vietnam Journal of Medicine. 2012; 
436:28-33. (in Vietnamese). 
[8] Peng D, Zhao D, Liu J et al. Multipathogen 
infections in hospitatized children with 
acute respiratory infections. Virol 
J 2009;6:155. https://doi.org/10.1186/1743-
422X-6-155 
[9] Van der Zalm MM, van Ewijk BE, 
Wilbrink B et al. Respiratory pathogens in 
children with and without respiratory 
symptoms. J Pediatr 2009;154(3):396-400. 
https://doi.org/10.1016/j.jpeds.2008.08.036. 
[10] Guo W, Wang J, Sheng M et al. 
Radiological findings in 210 paediatric 
patients with viral pneumonia: a 
retrospective case study. Br J Radiol 2012; 
85(1018):1385-1389. https://doi.org/10.125 
 9/bjr/20276974 

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_dich_te_hoc_lam_sang_o_tre_viem_phoi_nang_co_nhiem.pdf