Đặc điểm của dậy thì sớm trung ương do Harmatoma vùng dưới đồi

Harmatoma vùng dưới đồi là loại u não hiếm gặp nhưng là một trong

những nguyên nhân quan trọng của dậy thì sớm trung ương.

Mục tiêu: nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, xét

nghiệm của dậy thì sớm trung ương do harmatoma.

Phương pháp: nghiên cứu hồi cứu 16 bệnh nhân thời gian từ 2000-2016.

Kết quả: tuổi chẩn đoán rất sớm, ở nam là 55,8 ± 11,2 tháng; nữ là

46,1±9,3 tháng. Trẻ nữ 100% phát triển vú từ giai đoạn B2 trở lên, 75%

không có lông mu và 37,5% có kinh nguyệt. Trẻ nam: chiều dài dương

vật là 7,1 ±1,7 cm và thể tích tinh hoàn tăng là 10,1±4,3 ml, 62,5%

chưa có lông mu. Xét nghiệm ở nữ: LH tĩnh là 5,4±2,2 IU/L, FSH tĩnh là

6,4±2,2 UI/L, Etradiol là 168,5±63,4 pmol/L. Testosteron ở nam tăng cao

17,4±5,1 nmol/L. Tuổi xương lớn hơn tuổi thực ở nam là 34,5±15,7 tháng,

nữ là 23,8± 11,3 tháng.

Kết luận: dậy thì sớm trung ương do harmatoma khởi phát sớm, tăng

trưởng xương nhanh, hormon sinh dục và gonadotropin tăng cao hơn

dậy thì sớm tự phát khác. Cần chụp MRI sọ não để tìm nguyên nhân

harmatoma vùng dưới đồi

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm của dậy thì sớm trung ương do Harmatoma vùng dưới đồi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Đặc điểm của dậy thì sớm trung ương do Harmatoma vùng dưới đồi

Đặc điểm của dậy thì sớm trung ương do Harmatoma vùng dưới đồi
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 183 - 188, 2017
183
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Lê Ngọc Duy, Lê Thanh Hải, Vũ Chí Dũng, Bùi Phương Thảo 
Bệnh viện Nhi Trung ương
ĐẶC ĐIỂM CỦA DẬY THÌ SỚM TRUNG ƯƠNG 
DO HARMATOMA VÙNG DƯỚI ĐỒI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Lê Ngọc Duy, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: dậy thì sớm trung 
ương, harmatoma.
Keywords: central precocious 
puberty, harmatoma.
Tóm tắt
Harmatoma vùng dưới đồi là loại u não hiếm gặp nhưng là một trong 
những nguyên nhân quan trọng của dậy thì sớm trung ương. 
Mục tiêu: nghiên cứu thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, xét 
nghiệm của dậy thì sớm trung ương do harmatoma. 
Phương pháp: nghiên cứu hồi cứu 16 bệnh nhân thời gian từ 2000-2016. 
Kết quả: tuổi chẩn đoán rất sớm, ở nam là 55,8 ± 11,2 tháng; nữ là 
46,1±9,3 tháng. Trẻ nữ 100% phát triển vú từ giai đoạn B2 trở lên, 75% 
không có lông mu và 37,5% có kinh nguyệt. Trẻ nam: chiều dài dương 
vật là 7,1 ±1,7 cm và thể tích tinh hoàn tăng là 10,1±4,3 ml, 62,5% 
chưa có lông mu. Xét nghiệm ở nữ: LH tĩnh là 5,4±2,2 IU/L, FSH tĩnh là 
6,4±2,2 UI/L, Etradiol là 168,5±63,4 pmol/L. Testosteron ở nam tăng cao 
17,4±5,1 nmol/L. Tuổi xương lớn hơn tuổi thực ở nam là 34,5±15,7 tháng, 
nữ là 23,8± 11,3 tháng. 
Kết luận: dậy thì sớm trung ương do harmatoma khởi phát sớm, tăng 
trưởng xương nhanh, hormon sinh dục và gonadotropin tăng cao hơn 
dậy thì sớm tự phát khác. Cần chụp MRI sọ não để tìm nguyên nhân 
harmatoma vùng dưới đồi. 
Từ khoá: dậy thì sớm trung ương, harmatoma. 
Abstract 
CHARACTERISTICS OF CENTRAL PRECOCIOUS 
PUBERTY CAUSED BY HYPOTHALMIC HARMATOMA
Hypothalamic harmatoma is a rare brain tumor but one of the most 
important causes of central precocious puberty. 
Objectives: the study conducted to describe the clinical characteristics, 
tests of central precocious puberty due to harmatoma. 
Methods: retrospective study of 16 patients. 
Results: the age at diagnosis was young: 55.8±11.2 months in boys, 
and 46.1± 9.3 months in girls. In girls: In females 100% developed breasts 
from stage B2, 75% did not develop pubic hair, 37.5% had menstruation. 
LÊ NGỌC DUY, LÊ THANH HẢI, VŨ CHÍ DŨNG, BÙI PHƯƠNG THẢO
184
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
In boys: stretched penile length was 7.1±1.7 cm (5-10 cm). Testicular volume was 10.1±4.3 ml (4-
15ml). Pubic hair in stages P1 were found in 62.5%. In girls, basal LH, FSH and estradiol were 5.4±2.2 
IU/L, 6.4±2.2 IU/L, and 168.5±63.4 pmol/L, respectively. In boys, the mean testosterone level was 
17.4±5.1 nmol/L. Bone age was higher than chronological age by 34.5±15.7 months in boys, and by 
23.8±11.3 months in girls.100% of girls had uterus in puberty with dimension of 42.2±5.8 mm. 
Conclusions: central precocious puberty caused by harmatoma had fast and strong bone growth, 
elevated levels of gonadotropin and gonadotropin are higher than other precocious puberty. MRI 
scans are needed to find the cause of hypothalamic harmatoma.
Keywords: central precocious puberty, harmatoma.
1. Đặt vấn đề
Harmatoma vùng dưới đồi là một tổn thương 
bẩm sinh ở não hiếm gặp (khoảng1-2 /100 
000) nhưng lại là một trong những nguyên nhân 
quan trọng của dậy thì sớm trung ương [1],[2]. 
Harmatoma gây dậy thì sớm, suy giảm nhận thức, 
động kinh khó điều trị và rối loạn hành vi [3],[4]. 
Đây là một dị tật bẩm sinh lành tính bắt nguồn 
gần củ xám thần kinh do các mô thần kinh tăng 
sản lạc vị, kích thích tế bào nơron thần kinh tiết ra 
gonadotropin để giải phóng hormon và kích hoạt 
trục dưới đồi- tuyến yên- tuyến sinh dục [3],[4],[5]. 
Dậy thì sớm ở bệnh nhân harmatoma bắt đầu ở 
độ tuổi rất nhỏ, nếu không điều trị sẽ ảnh hưởng 
tới sự phát triển chiều cao thậm chí ảnh hưởng 
đến sức khỏe nghiêm trọng do tổn thương sọ não 
[6],[7]. Trong điều trị không khuyến khích phẫu 
thuật loại bỏ, mà ưu tiên các chất tương tự GnRH 
để ngăn chặn quá trình dậy thì [7], [8],[9],[10]. 
Trên thế giới đã có một số báo cáo một vài trường 
hợp dậy thì sớm do harmatoma, ở Việt Nam chưa 
có nhiều nghiêu cứu về vấn đề này. Do vậy chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu “đặc điểm của dậy thì 
sớm trung ương do do harmatoma vùng dưới đồi 
” nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm 
của dậy thì sớm trung ương do harmatoma vùng 
dưới đồi.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
16 bệnh nhân được chẩn đoán dậy thì sớm 
trung ương do harmatoma vùng dưới đồi được theo 
dõi tại Khoa Nội tiết-Chuyển hóa-Di truyền, Bệnh 
viện Nhi Trung Ương. Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa 
theo Carel và CS [2].
2.2. Phương pháp nghiên cứu 
Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu hồ sơ bệnh 
án của 16 bệnh nhân chẩn đoán dậy thì sớm trung 
ương do harmatoma tại khoa Nội tiết-Chuyển 
hóa-Di truyền, Bệnh viện Nhi Trung Ương từ 2000 
-2016. Các thông tin được thu thập theo một mẫu 
thống nhất có bệnh án nghiên cứu kèm theo. Đánh 
giá sự phát triển của đặc tính sinh dục phụ theo các 
mức độ của Marshall và Tanner. Trẻ nữ: đánh giá 
phát triển tuyến vú mức độ từ B1 đến B5; lông mu từ 
P1 đến P5; kinh nguyệt có hay không. Ở trẻ nam: 
đo chiều dài dương vật, thể tích tinh hoàn. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 183 - 188, 2017
185
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
• Đánh giá tuổi xương bằng chụp XQ xương cổ 
tay theo Greulich-Pyle.
• Xét nghiệm hormon FSH, LH, estradiol ở trẻ 
nữ, testosterone ở trẻ nam. 
• Test kích thích bằng GnRH trong trường hợp 
nghi ngờ chẩn đoán được thực hiện với Dipherelin 
0.1mg tiêm dưới da, LH và FSH đo tại thời điểm 
1h, 2h và 3h.
• Chụp MRI não có hình ảnh đặc trưng của 
harmatoma vùng dưới đồi.
• Siêu âm bụng để loại trừ các nguyên nhân khác.
Phân tích và xử lý số liệu: Kết quả được ghi lại 
theo mẫu bệnh án nghiên cứu chuẩn và được xử lý 
bằng phần mềm SPSS 20.0. Phân tích được thực 
hiện thông qua các test thống kê thích hợp như: tính 
trung bình, trung vị, so sánh. Mức ý nghĩa thống kê 
α = 0,05 được áp dụng. 
2.3 Đạo đức nghiên cứu
Đây là nghiên cứu hồi cứu không can thiệp 
nên không ảnh hưởng đến bệnh nhân. Thông tin 
thu thập từ các đối tượng chỉ dùng cho mục đích 
nghiên cứu và hoàn toàn được giữ bí mật.
3. Kết quả 
Có 16 trường hợp dậy thì sớm do harmatoma vùng 
dưới đồi được khảo sát. Tuổi chẩn đoán nhóm trẻ nam 
nhỏ nhất là 15 tháng, lớn nhất là 96 tháng, trung bình 
là 55,8 ± 11,2 tháng. Tuổi chẩn đoán nhóm trẻ nữ 
nhỏ nhất là 19 tháng, lớn nhất là 96 tháng, trung bình 
là 46,1±9,3. Lý do đến khám đầu tiên ở trẻ nam là 
dương vật to (100%), ở trẻ nữ là vú to (62,5%) sau đó 
là có kinh nguyệt (37,5%). Thời gian từ khi xuất hiện 
triệu chứng đến lúc khám bệnh ở trẻ nam trung bình là 
7,3±2,1 tháng, trẻ nữ là 11,3±3,7 tháng.
* Triệu chứng lâm sàng 
Đặc điểm Giai đoạn theo Tanner Số lượng/ Tỷ lệ %
Tuyến vú
B1 0 (0%)
B2 3 (37,5%)
B3 4 (50%)
B4 12,5 (0%)
B5 0 (0%)
Lông mu
P1 6 (75%)
P2 2 (25%)
P3 0
P4 0
P5 0
Kinh nguyệt 3 (37,5%)
Trứng cá 0 (0%)
Bảng 1. Đặc điểm lâm sàng ở trẻ nữ
Nhóm trẻ nữ: tất cả đều phát triển tuyến vú ở 
mức dậy thì trong đó giai đoạn B2, B3, B4 lần lượt 
là 37,5%, 50%, 12,5% và không có trẻ nào ở giai 
đoạn B5. Phần lớn trẻ không phát triển lông mu 
chiếm 75% và chỉ có 25% trẻ có lông mu phát triển 
giai đoạn P2. Có 37,5% có kinh nguyệt và không 
có trẻ nào có trứng cá.
Nhóm trẻ nam: chiều dài dương vật của trẻ 
nam: 7,1 ±1,7 cm (5-10 cm), thể tích tinh hoàn: 
10,1±4,3 ml (4-15ml). Lông mu ở giai đoạn P1: 
62,5%, P2:25% và P3: 12,5%. Không có trẻ nào ở 
mức P4 và P5.
* Kết quả xét nghiệm
Trong nhóm nghiên cứu, chưa có trường hợp 
nào phải thực hiện test kích thích GnRH. Nồng độ 
hormon sinh dục tăng cao ở mức dậy thì ngay tại 
thời điểm chẩn đoán, trẻ nữ có nồng độ LH tĩnh là 
5,4±2,2 IU/L, FSH tĩnh là 6,4±2,2 UI/L, etradiol là 
168,5±63,4 pmol/L. Trẻ nam có nồng độ testosteron 
tăng cao trung bình là 17,4±5,1 nmol/L. Nồng độ 
hormon giảm dưới mức dậy thì sau 3 tháng điều trị 
ức chế GnRH, sự khác biệt có ý nghĩa (P< 0,05).
Đặc điểm Kết quả Số lượng/ Tỷ lệ %
Chiều dài dương vật 7,1±1,7 (cm) 8
Thể tích tinh hoàn 10,1±4,3 (cm) 8
Trứng cá 2 (25%)
Bảng 2. Đặc điểm lâm sàng ở trẻ nam
Ảnh 1. Trẻ nam 2 tuổi có thể tích tinh hoàn 
4ml, dương vật 8 cm
Ảnh	1.	Trẻ	nam	2	tuổi	có	thể	tích	Ảnh	2.	Trẻ	nữ	2,5	tuổi,	vú	mức	độ	B3,	
	tinh	hoàn	4ml,	dương	vật	8	cm.	âm	vật	phát	triển	
Ảnh	1.	Trẻ	nam	2	tuổi	có thể	tích	 	 	Ảnh	2.	Trẻ nữ	2,5	tuổi,	vú	mức	độ	B3,	 	
	tin 	hoàn	4ml,	dương	vật	8	cm.	âm	vật	phát triển
Ảnh 2. Trẻ nữ 2,5 tuổi, vú mức độ B3, âm vật 
phát triển
Xét nghiệm Khi chẩn đoán Sau điều trị 3 tháng Số lượng P
 LH (UI/L) 5,4±2,2 0,5±0,2 8
<0,05FSH (UI/L) 6,4±2,2 1,4±1,0 8
Estradiol (pmol/L) 168,5±63,4 24,7±9,5 8
Bảng 3. Xét nghiệm ở nhóm trẻ nữ
Xét nghiệm Khi chẩn đoán Sau điều trị 3 tháng Số lượng P
LH (UI/L) 2,4±0,6 1,2±0,6 8
>0,05
FSH (UI/L) 8,8±3,7 0,69±0,3 8
Testosteron (nmol/L) 17,4±5,1 0,45±0,3 8 <0,05
Bảng 4. Xét nghiệm ở nhóm trẻ nam
LÊ NGỌC DUY, LÊ THANH HẢI, VŨ CHÍ DŨNG, BÙI PHƯƠNG THẢO
186
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
* Chẩn đoán hình ảnh
- Trẻ nam: siêu âm tinh hoàn đều bình thường. 
Tuổi xương trung bình tại thời điểm chẩn đoán là 
93,0± 42,9 tháng, lớn hơn tuổi thực 34,5±15,7 
tháng. MRI sọ não có hình ảnh harmatoma vùng dưới 
đồi có kích thước là 12,2±6,6mm x 14,8±6,5 mm.
- Trẻ nữ: siêu âm tử cung có kích thước lớn ở 
mức dậy thì trung bình là 11,3±3,7mm x 42,2±5,8 
mm. Tuổi xương trung bình tại thời điểm chẩn 
đoán là 67,5 ±28,6 tháng và lớn hơn tuổi thực là 
23,8±11,3 tháng. MRI sọ não có harmatoma vùng 
dưới đồi có kích thước trung bình là 10,8±0,8mm 
x 13,8±1,2 mm.
4. Bàn luận 
Dậy thì sớm trung ương ở trẻ nữ thường là tự 
phát trong khi đó các bé nam, dậy thì sớm liên quan 
đến bệnh lý thần kinh trung ương. Từ khi có chẩn 
đoán hình ảnh phát triển như chụp cắt lớp vi tính 
và chụp cộng hưởng từ, ngày càng có nhiều trường 
hợp dậy thì sớm trước đây được xem là “tự phát” đã 
được phát hiện có u não, những nghiên cứu gần đây 
cho thấy harmatoma vùng dưới đồi là nguyên nhân 
thường gặp nhất của dậy thì sớm trung ương [1],[3]. 
Cơ chế harmatoma gây nên dậy thì sớm cũng dần 
được sáng tỏ, khối u tạo thành một “vùng dưới đồi 
phụ” nhận ra nhịp GnRH ở cổng tuyến yên, kích 
hoạt tiết GnRH sớm thông qua yếu tố có nguồn gốc 
thần kinh đệm tế bào hình sao, qua khớp thần kinh 
và/hoặc các cơ chế không khớp thần kinh [5].
Các dấu hiệu có thể gợi ý một chẩn đoán dậy 
thì sớm do harmatoma bao gồm: khởi phát dậy 
thì ở độ tuổi rất nhỏ, xét nghiệm hormon tăng cao 
tương ứng với dậy thì sớm, phát hiện một khối u 
đồng cường độ tín hiệu ở một vị trí điển hình trên 
MRI và có thể có hành vi bất thường, thiểu năng trí 
tuệ hoặc động kinh thể cười [3]. 
Ảnh 4. Hình ảnh harmatoma vùng dưới đồi Ảnh 5. Tuổi xương 5 tuổi ở trẻ nữ có tuổi 
thực là 2,5 tuổi
Ảnh	4.	Hình	ảnh	harmatoma	vùng	dưới	đồi	Ảnh	5.	Tuổi	xương	5	tuổi	ở	trẻ	nữ	
	 	 	 	 	 	 	có	tuổi	thực	là	2,5	tuổi	
Ảnh	4.	Hình	ảnh	harmatoma	vùng	dưới	đồi	Ảnh	5.	Tuổi xương	5	t ở	trẻ	nữ	
	 	 	 	 	 	có	tuổi thực là	2,5	tuổi	
Các trường hợp dậy thì sớm do harmatoma 
vùng dưới đồi trong khảo sát của chúng tôi, tỉ lệ 
trẻ nam là 23.5% và trẻ nữ là 1.3 %, trong đó tuổi 
chẩn đoán trung bình của trẻ nam là 55,8 ± 11,2 
tháng (tương đương 4,7 tuổi), trẻ nữ là 46,1±9,3 
(tương đương 3,8 tuổi). Lý do đến khám ở trẻ nam 
là dương vật to (100%), ở trẻ nữ thường là vú to 
(62,5%) sau đó là có kinh nguyệt (37,5%). Thời 
gian từ khi xuất hiện triệu chứng đến lúc khám 
bệnh ở nam trung bình là 7,3±2,1 tháng, nữ là 
11,3±3,7 tháng. Nghiên cứu trên 493 trẻ nữ dậy 
thì sớm cho thấy có 59,8% trẻ được chẩn đoán ở độ 
tuổi từ 7 đến 8 tuổi [11]. Còn một nghiên cứu khác 
báo cáo rằng tuổi chẩn đoán dậy thì sớm ở trẻ nam 
là 6,7 tuổi và trẻ nữ là 6,9 tuổi [12]. Tuy nhiên tuổi 
của trẻ bị dậy thì sớm do harmatoma có xu hướng 
xuất hiện ngay khi còn rất nhỏ và dậy thì cũng tiến 
triển nhanh hơn dạng tự phát hoặc các hình thức 
khác của dậy thì sớm. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi, trẻ nam được chẩn đoán sớm nhất lúc 15 tháng 
tuổi, trẻ nữ là 19 tháng tuổi.
 Dậy thì sớm trung ương có đặc trưng là 
sự trưởng thành theo tuần tự của vú và lông mu 
ở trẻ nữ, và phát triển tinh hoàn, dương vật rồi 
đến lông mu ở các trẻ nam. Ở nữ do sự kích thích 
estrogen của niêm mạc âm đạo gây ra khí hư sinh 
lý, là một loại dịch màu trắng, không có mùi hôi, 
thường bắt đầu từ 6-12 tháng trước khi có kinh 
nguyệt. Kinh nguyệt xảy ra, trung bình 2-2,5 năm 
sau khi bắt đầu tuổi dậy thì. Còn ở nam hầu như tất 
cả đều có sự gia tăng thể tích tinh hoàn ≥4 mL và 
chiều dài dương vật ≥2.5 cm khoảng 6 tháng trước 
khi xuất hiện lông mu [2],[11]. Trong nhóm trẻ nữ 
được khảo sát, 100% đều phát triển tuyến vú ở mức 
dậy thì trong đó giai đoạn B2, B3, B4 lần lượt là 
37,5%, 50%, 12,5%, không có trẻ nào ở giai đoạn 
B5. Một báo cáo cho biết 69,2% trẻ dậy thì sớm 
phát triển tuyến vú đầu tiên [11]. Lông mu thường 
không phát triển chiếm tới 75%. Có 37,5% số trẻ 
có kinh nguyệt và đây cũng là triệu chứng để trẻ 
đến khám sớm nhất so với các dấu hiệu khác như 
vú to, trứng cá... Ở nam, để phân biệt dậy thì sớm 
trung ương và ngoại biên, thể tích tinh hoàn là một 
trong những dấu hiệu quan trọng. Trong dậy thì 
sớm ngoại biên, LH không đáp ứng với sự kích thích 
của GnRH và tinh hoàn được kích thích bởi các yếu 
tố LH phụ thuộc protein G do tổn thương ngoài trục 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 183 - 188, 2017
187
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
dưới đồi - tuyến yên - tuyến sinh dục, nếu thể tích 
tinh hoàn nhỏ hơn 4ml là dậy thì sớm ngoại biên. 
Trong nghiên cứu của chúng tôi, sự phát triển chiều 
dài dương vật và tăng kính thước tinh hoàn gặp 
ở tất cả các cá thể nghiên cứu: chiều dài dương 
vật trung bình 7,1 ±1,7 cm và thể tích tinh hoàn 
là 10,1±4,3 ml. Ngược lại dấu hiệu lông mu phát 
triển không thật sự rõ ràng.
Nồng độ huyết thanh FSH và LH cũng được 
phát hiện cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân 
có harmatoma so với những trẻ có dậy thì sớm 
tự phát, trong đó LH được cho là có giá trị chẩn 
đoán nhất, giá trị đỉnh LH của bệnh nhân dậy thì 
sớm trung ương do harmatoma vùng dưới đồi là 
cao hơn nhiều so với những bệnh nhân không tìm 
thấy nguyên nhân và những giá trị đó cho thấy 
không có mối tương quan nào với kích thước khối 
u [13]. Nghiên cứu của chúng tôi, trẻ nữ có LH 
tĩnh là 5,4±2,2 IU/L, FSH tĩnh là 6,4±2,2 UI/L, 
Etradiol là 168,5±63,4 pmol/L. Ở trẻ nam nồng 
độ testosteron tăng cao trung bình là 17,4±5,1 
nmol/L. Như vậy nồng độ hormon tăng cao điển 
hình ở mức dậy thì nên chưa có trẻ nào cần làm test 
kích thích GnRH.
Trong dậy thì sớm do harmatoma, tuổi xương 
cũng tăng nhanh và mạnh, tuổi xương lớn hơn 
tuổi thực trung bình ở trẻ nam là 34,5±15,7 tháng 
và trẻ nữ là 23,8±11,3 tháng. Bên cạnh đó, siêu 
âm bụng cũng là một xét nghiệm không xâm lấn, 
nhanh chóng và rất hữu ích cho chẩn đoán phân 
biệt dậy thì sớm trung ương với phát triển tuyến vú 
sớm. Các chỉ số có giá trị trong chẩn đoán bao 
gồm chiều dài tử cung trên 34mm, thể tích buồng 
trứng trên 1-3ml [11]. Trong nghiên cứu của chúng 
tôi 100% trẻ gái có chiều dài tử cung trên 34 mm 
và trung bình là 42,2±5,8 mm.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, 
harmatoma thường dẫn đến dậy thì sớm, suy giảm 
nhận thức, động kinh thể cười khó điều trị và rối 
loạn hành vi. Trong thực tế, các biểu hiện khối u 
dưới đồi thị không giống nhau. Động kinh thể cười 
là dấu hiệu hiếm gặp, tỷ lệ hiện hành của động 
kinh liên quan đến khối u dưới đồi thị khoảng 1/ 
200.000. Đôi khi động kinh thể cười có thể bị hiểu 
lầm như một em bé hay cười và việc chẩn đoán 
chính xác do harmatoma phải mất nhiều năm theo 
dõi [3,[6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 
01 trẻ nam chậm phát triển tinh thần, chưa ghi 
nhận được trường hợp động kinh thể cười có lẽ do 
số lượng bệnh nhân chưa nhiều, kích thước khối u 
không quá lớn và đây là nghiên cứu hồi cứu nên có 
thể có những điểm khác so với kết quả của các tác 
giả khác. Các khối u trong bài này đều được phát 
hiện bằng chụp chụp MRI sọ não, trên hình ảnh 
cộng hưởng từ T1, có đồng cường độ với chất xám. 
Được thể hiện rõ nhất trên thì T2 khi nó xuất hiện 
tổn thương cường độ cao đồng nhất. Đáng chú ý 
là khi nghiên cứu mối liên quan giữa động kinh 
và Harmatoma, có tác giả đã chứng minh rằng 
harmatoma có đường kính từ 25mm trở lên đều bị 
các cơn động kinh [8]. Nghiên cứu của chúng tôi, 
kết quả chụp MRI sọ não cho thấy kích thước khối 
u của trẻ nam: 12,2±6,6 x 14,8±6,5 mm và trẻ 
nữ: 10,8±0,8 x 13,8±1,2 mm, chứng tỏ kích thước 
khối u chưa phải là quá lớn để ảnh hưởng đến dấu 
hiệu thần kinh để gây nên những cơn động kinh 
giống các tác giả trên.
Bởi vì harmatoma của hệ thần kinh trung ương 
thường không phát triển và lành tính vì vậy việc 
phẫu thuật phải cân nhắc khi có các ảnh hưởng 
không phù hợp về sự phát triển của tuổi dậy thì. 
Hiện nay có những cách khác nhau để tiếp cận 
điều trị dậy thì sớm do harmatoma. Phương pháp 
điều trị bằng GnRH được công nhận là có thể ngăn 
chặn có hiệu quả quá trình dậy thì và theo dõi định 
kỳ bằng chụp MRI. Tuy nhiên trong trường hợp 
động kinh khó chữa hoặc u to chèn ép gây ứ nước 
não thất thì nên phẫu thuật. Khi so sánh những 
bệnh nhân bị harmatoma được điều trị bằng phẫu 
thuật cắt bỏ với những trẻ được điều trị chất đồng 
vận GnRH và quan sát thấy không có sự khác biệt 
về tốc độ tăng trưởng và tốc độ phát triển xương. 
Họ cũng thấy tỷ lệ tăng trưởng trở lại bình thường 
và tỷ lệ phát triển xương đã giảm ở những bệnh 
nhân chỉ được điều trị bằng chất đồng vận GnRH. 
Do đó, nhóm tác giả khuyến cáo đề nghị sử dụng 
chất đồng vận GnRH để điều trị harmatoma vùng 
dưới đồi [10]. Chúng tôi cũng điều trị chất đồng 
vận GnRH mỗi 4 tuần cho nhóm bệnh nhân quan 
sát, không có trường hợp nào phẫu thuật, sau 3 
tháng điều trị các nồng độ hormon sinh dục và 
gonadotropin là giảm ở mức trước dậy thì trẻ nữ 
LH: 0,5±0,2UI/L; FSH:1,4±1,0 2 UI/L; estradiol 
:4,7±9,5 pmol/L và testosteron của trẻ nam giảm 
LÊ NGỌC DUY, LÊ THANH HẢI, VŨ CHÍ DŨNG, BÙI PHƯƠNG THẢO
188
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
ở mức trước dậy thì là 0,45±0,3 nmol/L. Sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
5. Kết luận
Harmatoma vùng dưới đồi là một nguyên nhân 
quan trọng dẫn đến dậy thì sớm với tuổi chẩn 
đoán tuổi chẩn đoán trung bình hầu hết trước 5 
tuổi. Các biểu hiện lâm sàng giống như dậy thì tự 
phát khác tuy nhiên đặc điểm lâm sàng rõ, tăng 
trưởng xương nhanh và mạnh, nồng độ hormon 
sinh dục và gonadotropin tăng cao ngày tại thời 
điểm chẩn đoán. Vì vậy ở cả trẻ nam và nữ, nếu 
dậy thì có tuổi khởi phát sớm cần chú ý nguyên 
nhân harmatoma vùng dưới đồi và chụp cộng 
hưởng từ là một chỉ định bắt buộc chẩn đoán. 
Trong trường hợp harmatoma, điều trị nội khoa 
bằng GnRH có thể được ưu tiên trước khi xem xét 
điều trị phẫu thuật.
Tài liệu tham khảo
1. Weissenberger AA, Dell ML, Liow K, Theodore W, Frattali CM, 
Hernandez D, et al. Aggression and psychiatric comorbidity in children 
with hypothalamic hamartomas and their unaffected siblings. J Am Acad 
Child Adolesc Psychiatry. 2001; 40:696–703. 
2. Carel JC, Leger J. Precocious Puberty.N Eng J Med. 2008; 358 (22): 
2366-2377.
3. Arita K, Kurisu K, Kiura Y, Iida K, Otsubo H. Hypothalamic hamartoma. 
Neurol Med Chir (Tokyo).2005; 45:221–231. 
4. Hochman B, Judge M, Reichlin S. Precocious puberty and hypothalamic 
harmatoma. Pediatrics. 1981; 67: 236-244.
5. Jung H, Ojeda SR. Pathogenesis of precocious puberty in hypothalamic 
hamartoma. Horm Res.2010; 57:31–4. 
6. Beningfield SJ, Bonnici F, Cremin BJ. Case reports. Magnetic resonance 
imaging of hypothalamic hamartomas. Br J Radiol.1988; 61:1177–80.
7. Carel JC, Eugster EA, Rogol A et al. Consensus statement on the use 
of gonadotropin releasing hormone analogs in children. Pediatrics. 2009; 
123 (4): 752-62.
8. Baocheng Wang and Jie Ma. The diagnosis and management 
of hypothalamic hamartomas in children. Chinese Neurosurgical 
Journal.2016; 2:29 DOI 10.1186/s41016-016-0047-2.
9. Mahachoklertwattana P, Kaplan SL, Grumbach MM. The luteinizing 
hormone-releasing hormone- secreting hypothalamic hamartoma is a 
congenital malformation: natural history. J Clin Endocrinol Metab.1993; 
77:118–24. 
10. Stewart L, Steinbok P, Daaboul J. Role of surgical resections in 
the treatment of hypothalamic hamartomas causing precocious puberty. 
Report of six cases. J Neurosurg.1998; 88: 340-345.
11. Giabicani E, Corrias A, Rizzo V et al. Presentation of 493 consecutive 
girls with idiopatric central precocious puberty: a single - center study. 
PLos One.2013; 8(7): e7093
12. Soriano-Guillen L, Corripio R, Labarta JI, et al. Central precocious 
puberty in children living in Spain: incidence, prevalence, and influence of 
adoption and immigration. J Clin Endocrinol Metab.2010; 95(9):4305-13.
13. De Sanctis V, Corrias A, Rizzo G at al. Etiology of CCP in males: 
results of the Italian Study Group for Physiology of Puberty. J Pediatr 
Endocrinol Metab.2000; 13 Suppl 1: 687-693.

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_cua_day_thi_som_trung_uong_do_harmatoma_vung_duoi_d.pdf