Chuyển ngón chân làm ngón tay tại khoa chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân 115, Báo cáo 3 trường hợp

Tổn thương mất ngón tay thường do tai nạn lao động, tai nạn giao thông hay ẩu

đả, để lại di chứng nặng nề không những cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Sau

khi mất ngón tay bàn tay sẽ giảm chức năng tùy theo ngón và số ngón mất trong

đó ngón cái chiếm 40-50%. Bệnh nhân mất ngón tay sẽ mất chức năng lao động,

ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày và tạo tâm lý mặc cảm cho bệnh nhân trong

các mối quan hệ xã hội.

Tùy theo chiều dài của ngón tay còn lại mà có thể sử dụng các kỹ thuật như: kéo

dài đốt ngón bằng khung cố định ngoài, sử dụng vạt da có kèm một đoạn xương,

chuyển ngón chân làm ngón tay, mất ngón cái có thể cái hóa ngón tay từ các ngón

tay dài. Trong các kỹ thuật này thì chuyển ngón chân làm ngón tay có những ưu

điểm vượt trội: tương đồng về kích thước và chiều dài, có cảm giác và phục hồi

gần hoàn toàn chức năng vận động của ngón tay

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Chuyển ngón chân làm ngón tay tại khoa chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân 115, Báo cáo 3 trường hợp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chuyển ngón chân làm ngón tay tại khoa chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân 115, Báo cáo 3 trường hợp

Chuyển ngón chân làm ngón tay tại khoa chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Nhân dân 115, Báo cáo 3 trường hợp
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
270
Vũ Minh Đức*
Trương Văn Tài*
Nguyễn Đình Phú**
(*) Bác sĩ phẫu thuật khoa 
Ngoại Chấn Thương Chỉnh 
Hình BV Nhân Dân 115
(**)Bác sĩ Phó Giám Đốc, 
Trưởng khoa Chấn Thương 
Chỉnh Hình, BV Nhân Dân 115; 
Phó Chủ Nhiệm Bộ Môn Chấn 
Thương Chỉnh Hình Đại Học Y 
Khoa Phạm Ngọc Thạch
Vu Minh Duc
Truong Van Tai
Nguyen Dinh Phu
CHUYỂN NGÓN CHÂN LÀM NGÓN TAY TẠI KHOA 
CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN NHÂN 
DÂN 115, BÁO CÁO 3 TRƯỜNG HỢP 
TÓM TẮT
Tổn thương mất ngón tay thường do tai nạn lao động, tai nạn giao thông hay ẩu 
đả, để lại di chứng nặng nề không những cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Sau 
khi mất ngón tay bàn tay sẽ giảm chức năng tùy theo ngón và số ngón mất trong 
đó ngón cái chiếm 40-50%. Bệnh nhân mất ngón tay sẽ mất chức năng lao động, 
ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày và tạo tâm lý mặc cảm cho bệnh nhân trong 
các mối quan hệ xã hội.
Tùy theo chiều dài của ngón tay còn lại mà có thể sử dụng các kỹ thuật như: kéo 
dài đốt ngón bằng khung cố định ngoài, sử dụng vạt da có kèm một đoạn xương, 
chuyển ngón chân làm ngón tay, mất ngón cái có thể cái hóa ngón tay từ các ngón 
tay dài. Trong các kỹ thuật này thì chuyển ngón chân làm ngón tay có những ưu 
điểm vượt trội: tương đồng về kích thước và chiều dài, có cảm giác và phục hồi 
gần hoàn toàn chức năng vận động của ngón tay.
Từ tháng 4/2015 đến nay, tại khoa Chấn Thương Chỉnh Hình, Bệnh viện Nhân 
Dân 115, Tp Hồ Chí Minh chúng thôi thực hiện thành công phẫu thuật chuyển 
ngón chân cho 3 bệnh nhân mất ngón tay cho kết quả rất lạc quan.
ABTRACT
Amputated fingers of hand often caused by occupational, traffic accidents or 
sharp object cut giving a severe sequela not only for the patients but also for their 
families and society. After lost of finger the hand function will decrease, depend 
on which finger or how many fingers were affected, in which thumb is about 40 – 
50%. The patients with finger amputation will lost function of labour, has effect on 
ordinary activities and causes depressed thinking in social relationships.
Depends on the length of the finger lost, some procedures can be used: lengthen 
the phalanx of the finger using external fixators, osteocutaneous flap, toe to hand 
transfer, if that is the thumb we can use long finger pollicization. Among these 
techniques, toe to hand transfer has the best advantages: the same in size and 
length, has sensation and nearly total recovery of finger movement.
From April 2015 to now, at The Department of Trauma and Orthopedic of The 
People’s Hospital 115, We have performed three cases of toe to hand transfer with 
good result.
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
271
ĐẶT VẤN ĐỀ
 Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và kỹ 
thuật, nhu cầu tăng năng suất trong sản xuất, sự đầu tư 
máy móc trang thiết bị công nghiệp càng nhiều, ý thức 
và tay nghề của công nhân chưa bắt kịp nhu cầu đó nên 
các tai nạn lao động và tai nạn giao thông ngày càng 
nặng nề và phức tạp, trong các tai nạn đó các tai nạn gây 
tổn thương phức tạp của bàn tay cũng có xu hướng gia 
tăng. Các tổn thương dập nát bàn tay, dập nát hay đứt lìa 
ngón cái và các ngón tay dài ngày càng nhiều. Kết quả là 
bàn tay bị giảm hoặc mất chức năng đáng kể ảnh hưởng 
đến nghề nghiệp và sinh hoạt của bệnh nhân đặc biệt là 
mất ngón tay cái, vì ngón cái chiếm 40% - 50% các chức 
năng trong bàn tay và nếu mất cùng lúc 4 ngón tay dài 
thì mức độ giảm chức năng cũng tương tự.
Có nhiều phương pháp tái tạo ngón tay bị mất, tùy 
thuộc vào chiều dài của phần ngón tay còn lại, trang thiết 
bị của phòng mổ, tay nghề của phẫu thuật viên chúng ta 
có thể sử dụng các kỹ thuật như: đốt hóa xương bàn hai 
(1) (Littler) hoặc xương bàn 5 (2) (Tubiana), tạo hình 
da-xương (Nicoladoni), kéo dài xương bàn theo phương 
pháp Matev (3), tái tạo bằng vạt da Trung Quốc, cái hóa 
ngón tay 2, 3, 4 (Gosset, Hilgenfeld, Letac), tái tạo theo 
kỹ thuật Gillies, chuyển ngón chân làm ngón tay v.v
Hiện nay, chuyển ghép ngón chân cái hoặc ngón 
chân thứ hai lên thay thế ngón tay là một phẫu thuật 
được ưa chuộng vì có nhiều ưu điểm. Ngón chân cái 
thay thế ngón tay có lợi điểm là mạnh mẽ, thẩm mỹ chấp 
nhận được do ngón chân cái không có góc gù tự nhiên 
như các ngón chân dài, di động tốt nhưng để lại di chứng 
kém thẩm mỹ và chức năng cho bàn chân. Đối với người 
Âu Mỹ và người thành phố thì mất ngón chân cái không 
phải là vấn đề lớn vì họ thường mang giày. Nhưng đối 
với đa số người Á – Phi, những bệnh nhân đa phần là 
công nhân, nông dân họ phải sử dụng ngón chân cái để 
giữ thăng bằng khi đi trên các đoạn đường trơn trợt lầy 
lội. Để tránh các bất lợi kể trên, nhiều tác giả đã dùng 
ngón chân thứ hai để thay thế ngón tay như Foucher G, 
Lister G, Mitz V, Leung P.C.
Tại việt nam, Võ Văn Châu là người đầu tiên ứng 
dụng kỹ thuật chuyển ngón chân thứ 2 làm ngón tay cái 
và các ngón tay dài từ năm 1995 tại Bệnh Viện Chấn 
Thương Chỉnh Hình TP. Hồ Chí Minh. Sau đó kỹ thuật 
này được thực hiện tại nhiều trung tâm lớn trong cả 
nước, nhưng đây là lần đầu tiên Khoa Chấn Thương 
Chỉnh Hình Bệnh Viện Nhân Dân 115 thực hiện thành 
công kỹ thuật vi phẫu phức tạp này.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
. BN bị mất ngón tay do đứt lìa hay dập nát không 
được nối vi phẫu hay nối vi phẫu thất bại
. Điều kiện phụ: tuổi, phái tính, nghề nghiệp, tay 
thuận, tâm lý Bệnh Nhân, độ dài của ngón tay còn lại.
Phòng mổ có trang bị dụng cụ vi phẫu thuật: kính 
hiển vi, kính lúp, dụng cụ vi phẫu, chỉ khâu vi phẫu 
thuật
Phẫu thuật: Chúng tôi thực hiện phẫu thuật với 
cùng một ê kíp phẫu thuật bao gồm 2 phẫu thuật viên, 
bệnh nhân được gây mê nội khí quản, với garrot chân 
lấy ngón và tay tổn thương. Chúng tôi bóc tách mạch 
máu bàn tay trước sau đó bóc tách ngón chân kèm mạch 
máu, thần kinh
+ Chuẩn bị vùng nhận: 
. Tư thế: BN nằm ngửa, dang vai 900, khuỷu thẳng
. Ga-rô hơi cánh tay 250 mm Hg
. Đường mổ hình U đi từ mặt trước ra sau mỏm cụt 
ngón tay.
. Bóc tách và gặm mỏm xương bàn.
. Bóc tách gân duỗi và gân gập. Nếu gân cơ của ngón 
tay đã bị giật mất từ trước thì sử dụng các gân cơ khác 
như gân duỗi riêng ngón tay II, gân gập cổ tay quay, gân 
gan tay dài, gân gập nông ngón tay IV.
. Động mạch vùng nhận: động mạch quay ở hố lào 
hay các động mạch gian ngón, tĩnh mạch nhận: tĩnh 
mạch nông lưng bàn tay.
. Bóc tách thần kinh cảm giác mặt lòng và cảm giác 
mặt lưng.
+ Bóc tách ngón chân: Tư thế BN nằm ngữa, vai dang, gối gập.
. Đường rạch da lưng bàn chân hình S để bóc tách động 
mạch, tĩnh mạch, gân duỗi dài ngón chân
. Đường rạch da quanh gốc ngón chân, bóc tách gân gấp, 
thần kinh mặt lòng.
. Bóc tách mạch máu từ trên xuống dưới theo động mạch 
kẽ ngón thứ I cho đến gốc ngón chân thứ hai hay ba
. Cắt xương bàn theo độ dài cần thiết.
. Cắt cuống để mang ngón chân lên ngón tay.
. Đóng vết mổ.
+ Ghép ngón chân vào ngón tay:
. Kết hợp xương sau khi ước lượng chiều dài thích 
hợp của ngón chân được chuyển ghép.
. Khâu tĩnh mạch, khâu động mạch, khâu thần kinh, 
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
272
khâu gân gập, duỗi.
. Khâu da không căng, nếu da quá căng thì tốt nhất nên 
ghép da bào rời.
Hậu phẫu:
. Kê cao tay, không tì đè vao nơi có khâu nối mạch máu, 
sưởi ấm để gia tăng tuần hoàn ngoại biên.
. Kháng sinh, chống co thắt mạch máu, kháng đông nếu 
cần thiết, chống đau.
. Theo dõi ngón tay chuyển ghép.
BÁO CÁO 3 TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG
Ca thứ I:
Họ tên: B. D. Đ nam SN 1997
Địa chỉ: Ấp 5, Tân Thới Thượng, Củ Chi
Nghề Nghiệp: Công Nhân
Nhập viện lúc: 18 giờ 50 phút ngày 28 tháng 1 năm 2015
Lí do nhập viện: Vết thương dập nát bàn tay Phải
Bệnh sử:
Bệnh Nhân khai “ Lúc 15 giờ ngày 28/1/2015 bệnh 
nhân đang làm việc, sơ ý bị máy dập dập vào bàn tay 
Phải bệnh nhân dược băng ép cầm máu, sơ cứu tại trung 
tâm y tế huyện Củ Chi chuyển BV Nhân Dân 115
Chẩn đoán lúc nhập viện: Vết thương dập nát bàn tay Phải
Bệnh nhân trải qua 4 lần phẫu thuật
Phẫu thuật lần đầu: Phẫu thuật cấp cứu
Bệnh nhân được cắt lọc vết thương, cắt bỏ ngón II, 
III cắt bỏ đốt xa ngón IV, V, xuyên kim dọc trục ngón I, 
để hở vết thương đắp ẩm, nẹp bột
Sau mổ 10 ngày, ngón tay cái hoại tử hoàn toàn, 
bệnh nhân được lên chương trình mổ cắt bỏ ngón I, cắt 
lọc mô hoại tử
Hình 1: Bàn tay Phải hoại từ sau tai nạn 10 ngày
Phẫu thuật lần hai: phẫu thuật cắt lọc
Bệnh nhân được cắt lọc hoàn toàn các mô hoại tử, 
cắt bỏ ngón I để hở da hoàn toàn
Hình 2: Bàn tay Phải sau khi cắt lọc sạch các mô hoại tử
Phẫu thuật lần ba: Phẫu thuật làm vạt da liên cốt 
sau che mỏm cụt
Hình 3: Thiết kế vạt da liên cốt sau che mỏm cụt bàn tay
Hình 4: Vạt da liên cốt sau che hoàn toàn mỏm cụt
bàn tay phải
Phẫu thuật lần bốn: phẫu thuật chuyển ngón 
Hình 5: Chuẩn bị vùng cho và vùng nhận
Hình 6: Bóc tách ngón chân thứ 2
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
273
Hình 7: Bóc tách ngón chân thứ 2 hoàn tất và khâu da
Hình 8: Kết quả 4 tuần sau mổ chuyển ghép ngón chân
chân thứ 2 làm ngón tay cái 
Hình 9: x-quang kiểm tra sau mổ 4 tuần
Hình 10: Dùng khung Banjo kéo thẳng ngón IV, V 
và kiểm tra chức năng đối ngón cái
Ca thứ II:
Họ tên: T. V. Đ nam SN 1976
Địa chỉ: Ấp 3, Tân Kiên, Bình Chánh
Nghề Nghiệp: Kinh Doanh
Nhập viện lúc: 8 giờ 45 phút ngày 22 tháng 9 năm 2015
Bệnh sử:
Bệnh Nhân khai “ năm 1999 bệnh nhân đang làm 
việc, sơ ý bị dây curoa quấn vào ngón II tay Phải, đã 
được khâu mỏm cụt ngón II, Hiện muốn chuyển ngón 
nhập BV Nhân Dân 115
Hình 1. Hình ảnh bàn tay P và X – quang trước chuyển ghép
Hình 2. Bóc tách ngón chân thứ II cho việc chuyển ghép
Hình 3. Kết quả sau mổ 6 tháng
Ca thứ III:
Họ tên: K. S. Đ nam SN 1973
Địa chỉ: Thôn 5, Dân Quyền, Triệu Sơn, Thanh Hóa
Nghề Nghiệp: Kinh Doanh
Nhập viện lúc: 8 giờ 20 phút ngày 30 tháng 10 năm 2015
Bệnh sử:
Bệnh Nhân khai ngày 14/02/014 bệnh nhân bị tai 
nạn giao thông, không rõ cơ chế, được cắt cụt ngón II, 
III, IV, V tay Phải. Hiện muốn chuyển ngón nhập BV 
Nhân Dân 115
Hình 1. Bàn tay Phải trước mổ
TẠP CHÍ CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH VIỆT NAM - SỐ ĐẶC BIỆT - 2016
274
BÀN LUẬN 
1. Các phương pháp kéo dài ngón tay cho một ngón 
tay vừa thiếu thầm mỹ và không cải thiện nhiều về mặt 
chức năng. Chuyển ngón chân làm ngón tay được chấp 
nhận rộng rãi vì cho hình ảnh ngón tay thẩm mỹ hơn 
và có chức năng hơn vì tái tạo khả năng đối ngón và có 
cung cầm nắm tương đối rộng. Việc cái hóa các ngón 
tay dài bàn tay lại mất một ngón tay dài có thể gây giảm 
chức năng bàn tay ở những người lao động nặng nhọc.
2. Việc chọn lựa ngón chân cái hay ngón chân thứ 2 
cho việc thay thế ngón tay còn nhiều bàn cãi. Đối với 
những người làm việc văn phòng thường xuyên đi giày 
mất ngón chân cái thì không quá quan trọng, những 
người lao động chân tay,công nhân, nông dân, thường 
đi chân đất trên đường trơn trợt phải dùng ngón chân cái 
víu chặt xuống mặt đường thì mất một ngón chân cái là 
một mất mát khá lớn. Về mặt chức năng thì các tác giả 
Âu Mỹ thích lấy ngón chân cái vì nó có vẽ mạnh mẽ rắn 
Hình 4. Chức năng cầm nắm tốt và lành xương tốt sau 6 tháng
Hình 3. Kết quả sau 6 tháng tạo cung cầm nắm rất tốt
Hình 2. Bóc tách 2 ngón chân II và III
Phần 4: Phẫu thuật vi phẫu
275
Tài liệu tham khảo
1 VO VAN CHAU – Chuyển ghép ngón chân II để tái tạo ngón 
tay – Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh, 2005, tập 9, số 
2, trang 13
2 PAO-YUAN LIN et al - A systematic review of outcomes 
of toe-to- thumb transfers for isolated traumatic thumb 
amputation - Hand (2011) 6:235–243
3 STEVEN L. HENRY - Thumb Recon struction with Toe Transfer 
- J Hand Microsurg (July–December 2010) 2(2):72–78
4 ZHONG WEI CHEN et al - Reconstruction of the Thumb and 
Digit by Toe to Hand Transplantation - World J. Surg. 15, 
429-438, 1991
5 LITTLER J.W – On making a thumb: on one hundred years 
of surgical effort – J.Hans Surg. V1n1, 1976: 35 – 51.
6 TUBIANA R.- Traite de Chirugie de la main – Tome 3, Paris 
Edit, 1986: 968 – 976.
7 FOUCHER G, HULTGREN T, MERLE M, BRAUN F.M – 
Alongement digital selon Matevm à propos de 20 cas – Ann, 
Chir, Main V7N3, 1988: 210 – 216
chắc hơn và Buncke đã chủ trương dùng ngón chân cái 
thu nhỏ lại để cải thiện tính thẩm mỹ. 
3. Vì số ca chuyển ghép còn ít nên việc đánh giá 
chức năng vận động và cảm giác của ngón chân sau khi 
chuyển ghép làm ngón tay chưa thực hiện được, chúng 
tôi cần theo dõi thêm thời gian đủ dài và số lượng ca 
được chuyển ghép tương đối lớn
KẾT LUẬN
Việc chuyển ghép ngón chân làm ngón tay là một 
phẫu thuật phức tạp, đòi hỏi sự tỉ mỉ, điều kiện trang 
thiết bị hiện đại tốn nhiều công sức và thời gian. Đây 
là những ca phẫu thuật đầu tiên được thực hiện tại 
khoa Chấn Thương Chỉnh Hình Bệnh Viện Nhân Dân 
115, đánh dấu một bước ngoặc lớn tạo thêm cơ hội cho 
những bệnh nhân có tổn thương phức tạp bàn tay gây 
mất hay hoại tử ngón tay, nhằm giúp bệnh nhân phục hồi 
sức khỏe và nhanh chóng trở về với cuộc sống hữu ích 
thường ngày. 

File đính kèm:

  • pdfchuyen_ngon_chan_lam_ngon_tay_tai_khoa_chan_thuong_chinh_hin.pdf