Chiến lược dự phòng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh

Loạn sản phế quản phổi (Bronchopulmonary dysplasia - BPD) là một bệnh phổi mãn

tính hay gặp ở trẻ sinh non cần hỗ trợ thở máy và nhu cầu oxy caotrong quá trình điều trị

suy hô hấp cấp tính. Mặc dù những tiến bộ trong chăm sóc trẻ sơ sinh đã giúp cải thiện tỷ

lệ sống sót của trẻ sinh non, nhưng chưa hạn chế được tỷ lệ mắc bệnh BPD. Một số chiến

lược bảo vệ phổi bao gồm sử dụng hỗ trợ không xâm lấn, cũng như rút ống nội khí quản

sớm đã được chứng minh làm giảm nguy cơ mắc bệnh BPD; tuy nhiên, tiên lượng lâu dài

còn hạn chế do đó vẫn là một thách thức trong quản lý và gánh nặng ngày càng tăng đối

với các hệ thống y tế

pdf 9 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược dự phòng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chiến lược dự phòng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh

Chiến lược dự phòng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh
 Vietnam National Children’s Hospital , Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
20 
Research Paper 
Strategy for Prevention 
of Bronchopulmonary Dysplasia in Newborns 
Chu Lan Huong*, Ngo Quoc Thai, Nguyen Thi Quynh Nga 
Vietnam National Children's Hospital, 18/879 La Thanh, Dong Da, Hanoi, Vietnam 
Received 04 March 2020 
Revised 27 March 2020; Accepted 15 April 2020 
Abstract 
Bronchopulmonary dysplasia (BPD) is a chronic lung disease most commonly seen in 
premature infants who required mechanical ventilation and oxygen therapy for acute 
respiratory distress. While advances in neonatal care have resulted in improved survival 
rates of premature infants, limited progress has been made in reducing rates of BPD. Lack 
of progress may in part be attributed to the limited therapeutic options available for 
prevention and treatment of BPD. Several lung-protective strategies have been shown to 
reduce risks, including use of non-invasive support, as well as early extubation and volume 
ventilation when intubation is required. These approaches, along with optimal nutrition 
and medical therapy, decrease risk of BPD; however, impacts on long-term outcomes are 
poorly defined. Abnormal ventilatory responses and pulmonary hypertension can further 
complicate disease. These pulmonary morbidities, combined with environmental and 
infectious exposures, may result in significant long-term pulmonary sequalae and represent 
a growing burden on health systems. 
Keywords: Bronchopulmonary Dysplasia 
*
_______ 
*
 Corresponding author. 
 E-mail address: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i2.194 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
21 
Chiến lược dự phòng loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh 
Chu Lan Hương*, Ngô Quốc Thái, Nguyễn Thị Quỳnh Nga 
Bệnh viện Nhi Trung ương, 18/879 La Thành, Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam 
Nhận ngày 04 tháng 3 năm 2019 
Chỉnh sửa ngày 27 tháng 3 năm 2020; Chấp nhận đăng ngày 15 tháng 4 năm 2020 
Tóm tắt 
Loạn sản phế quản phổi (Bronchopulmonary dysplasia - BPD) là một bệnh phổi mãn 
tính hay gặp ở trẻ sinh non cần hỗ trợ thở máy và nhu cầu oxy caotrong quá trình điều trị 
suy hô hấp cấp tính. Mặc dù những tiến bộ trong chăm sóc trẻ sơ sinh đã giúp cải thiện tỷ 
lệ sống sót của trẻ sinh non, nhưng chưa hạn chế được tỷ lệ mắc bệnh BPD. Một số chiến 
lược bảo vệ phổi bao gồm sử dụng hỗ trợ không xâm lấn, cũng như rút ống nội khí quản 
sớm đã được chứng minh làm giảm nguy cơ mắc bệnh BPD; tuy nhiên, tiên lượng lâu dài 
còn hạn chế do đó vẫn là một thách thức trong quản lý và gánh nặng ngày càng tăng đối 
với các hệ thống y tế. 
Từ khóa: Loạn sản phế quản phổi 
1. Giới thiệu * 
Loạn sản phế quản phổi 
(Bronchopulmonary dysplasia - BPD) lần 
đầu tiên được báo cáo vào năm 1967 bởi 
Northway và cộng sự, trong một nhóm trẻ 
sinh non mắc bệnh phổi mãn tính sau khi 
được thở máy với nồng độ oxy cao trong 
quá trình điều trị hội chứng suy hô hấp [1]. 
Năm 2001, hội nghị đồng thuận được tổ 
chức với sự phối hợp của Viện Sức khoẻ trẻ 
em và Phát triển con người quốc gia 
(National Institute of Child Heath and 
Human Development - NICHD), Hội Tim - 
Phổi- Máu quốc gia (National Heart, Lung 
and Blood Institute - NHLBI) và văn phòng 
Các bệnh hiếm (Office of Rare Diseases) đã 
đề ra tiêu chuẩn và định nghĩa mới cho bệnh 
Loạn sản phế quản phổi dựa trên tuổi thai 
và nhu cầu oxy [2] (Bảng 1). 
_______ 
* Tác giả liên hệ. 
 Địa chỉ email: [email protected] 
 https://doi.org/10.25073/ jprp.v4i2.194 
2. Chiến lược dự phòng loạn sản phế 
quản phổi 
2.1. Dự phòng trước sinh 
Dự phòng đẻ non chính là phương pháp 
hữu hiệu nhất để phòng chống các biến 
chứng và tử vong ở trẻ đẻ non, trong đó có 
cả bệnh phổi mạn. Vì vậy, cần sử dụng 
corticosteroid trước sinh ở những bà mẹ có 
nguy cơ đẻ non trong khoảng thời gian từ 
24 đến 34 tuần. Sử dụng corticoid có tác 
dụng trưởng thành phổi, qua đó làm giảm 
khả năng mắc cũng như mức độ nặng của 
bệnh màng trong. Đồng thuận mới nhất của 
ACOG - Hiệp hội sản phụ khoa Hoa Kỳ 
khuyến cáo điều trị Corticosteroid trước 
sinh cho trưởng thành phổi thai nhi [3], 
Viêm màng ối là một trong những 
nguyên nhân thường gặp gây sinh non, đặc 
biệt ở trẻ dưới 30 tuần. Ureaplasma là nhóm 
vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất có thể 
gây nhiễm khuẩn thai nhi mạn tính, viêm 
màng ối, nhiễm khuẩn ối và viêm phổi bẩm 
sinh tuy nhiên thực sự còn đang tranh cãi 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
22 
[4]. Viêm màng ối là một yếu tố nguy cơ 
của bệnh phổi mạn, tuy chưa rõ ràng về tính 
độc lập của yếu tố này nhưng nếu có tình 
trạng viêm màng ối của sản phụ, cần tiến 
hành điều trị sớm. 
2.2. Tại phòng đẻ 
Trong cuộc đẻ, việc thở oxy lưu lượng 
cao gây ra tình trạng tăng oxy có thể ảnh 
hưởng cả bà mẹ lẫn thai nhi. Hiện nay, với 
khái niệm tăng O2 cho mẹ sẽ giúp tăng O2 
cho thai nhi nên trong thực hành lâm sàng 
thường cho bà mẹ thở oxy trong quá trình 
sinh nở.Trên thực tế tăng O2 cho mẹ không 
ảnh hưởng nhiều đến O2 trong máu của thai 
nhi. Hơn thế nữa, tăng O2 sẽ gây ra hiện 
tượng oxy hóa lipid tạo ra các gốc tự do và 
ảnh hưởng đến hệ thống chống oxy hóa, gây 
hại cho sản phụ và thai nhi. Vì vậy chỉ cung 
cấp O2 cho những trường hợp sản phụ thực 
sự có tình trạng thiếu oxy. 
Ngay sau khi sinh, trẻ có nguy cơ tổn 
thương phổi nếu được hồi sức bằng bóp 
bóng. Vì vậy, quá trình hồi sức sau đẻ cũng 
có thể ảnh hưởng đến tiên lượng của trẻ, 
đặc biệt trẻ đẻ non.Theo Guideline của Hiệp 
hội Hồi Sức Châu Âu 2019 [5] và Hội Hồi 
sức Australia: 
- Trẻ đủ tháng, nếu cần phải hỗ trợ hô 
hấp cho trẻ với áp lực dương, hỗ trợ nồng 
độ O2 ban đầu là 21%. Chỉ khi trẻ vẫn tiếp 
tục có nhịp tim hoặc mức độ bão hòa không 
cải thiện, tăng nồng độ O2 hỗ trợ để đạt 
mức bão hòa phù hợp. 
- Trẻ thiếu tháng dưới 35 tuần, nồng độ 
O2 hỗ trợ từ 21%-35%. 
- Trẻ < 28 tuần tuổi thai sử dụng FiO2: 
30%, trẻ từ 28 - 31 tuần FiO2 từ 21% - 
30%. Trẻ ≥ 32 tuần FiO2: 21% 
Bảng 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh loạn sản phế quản phổi theo NICHD 
Tuổi thai < 32 tuần ≥ 32 tuần 
Thời điểm đánh giá* 
36 tuần tuổi hiệu 
chỉnh hoặc khi trẻ 
xuất viện 
> 28 ngày nhưng < 56 ngày 
sau sinh hoặc khi trẻ xuất 
viện 
Được hỗ trợ oxy > 21% ít nhất 28 ngày kèm theo 
Loạn sản phế quản 
phổi nhẹ 
Tự thở khí trời Tự thở khí trời 
Loạn sản phế quản 
phổi trung bình 
Cần** hỗ trợ oxy < 
30% 
Cần* hỗ trợ oxy < 30% 
Loạn sản phế quản 
phổi nặng 
Cần * hỗ trợ oxy ≥ 
30% và/hoặc áp lực 
dương PPV hoặc 
NCPAP) 
Cần * hỗ trợ oxy ≥ 30% 
và/hoặc áp lực dương (PPV 
hoặc NCPAP) 
* Tuỳ thuộc thời điểm nào đến trước, 
** Phương pháp đánh giá nhu cầu oxy của trẻ vẫn còn bỏ ngỏ. 
Biểu hiện lâm sàng BPD là hậu quả cuối cùng của một quá trình đa yếu tố nguy cơ phức 
tạp trong đó các yếu tố trước và sau sinh ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của phổi chưa 
trưởng thành. 
Tiến triển loạn sản phế quản phổi. Nguồn: Radiographic Features of Pulmonary Oxygen 
Toxicity in the Newborn: Bronchopulmonary Dysplasia. 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
23 
Giai đoạn I (2 - 3 ngày) - suy hô 
hấp cấp. 
Giai đoạn II (4-10 ngày) - giai 
đoạn phục hồi 
Hình ảnh trên phim Xquang “điển 
hình”, tổn thương lan toả dạng hạt 
và tăng tỷ trọng nhu mô phổi kèm 
với tình trạng xẹp các phế nang ở 
mức độ hiển vi. 
Phim x- quang ngực hình ảnh mờ 
toàn bộ trường phổi hai bên. Bờ 
tim bị xóa mờ hoàn toàn bởi nhu 
mô phổi. 
Giai đoạn III (10-20 ngày) 
- chuyển tiếp bệnh mạn 
Giai đoạn IV (>1tháng) 
- giai đoạn bệnh mạn 
Hình ảnh trên phim từ mờ hoàn 
toàn ở giai đoạn II sang hình ảnh 
các nốt tròn đều không cản quang 
ở khắp hai trường phổi. Xen kẽ 
chúng là các tổ chức có mật độ 
cản quang bất thường. 
Trên x-quang thấy các bóng khí ở 
giai đoạn trên giãn to ra kèm theo 
đó là các dải tổn thương. 
3 
Bão hòa oxy chấp nhận được theo 
bảng sau: 
Những trẻ non tháng mắc bệnh màng 
trong mà có nhịp tự thở, hỗ trợ hô hấp ban 
đầu bằng CPAP ở những trẻ < 30 tuần khi 
chưa có chỉ định dặt nội khí quản bắt đầu 
với áp lực PEEP 6 - 8 cmH2O [6]. Nghiên 
cứu cho thấy với những trẻ dưới 30 tuần 
thai, hỗ trợ ban đầu bằng CPAP thay vì đặt 
ống nội khí quản có lợi ích hơn trong việc 
giảm thời gian cần phải đặt ống và thở máy, 
không có nhược điểm ngắn hạn trước mắt 
khi dùng CPAP. 
1 phút 
60% - 
65% 
 4 phút 
75% - 
80% 
2 phút 
65% - 
70% 
 5 phút 
80% - 
85% 
3 phút 
70% - 
75% 
10 
phút 
85% - 
90% 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
24 
2.3. Tại khoa Sơ sinh, Hồi sức sơ sinh 
Surfactant 
Northway và cs [2] lần đầu miêu tả bệnh 
loạn sản phế quản phổi ở những trẻ mắc 
bệnh màng trong có tình trạng suy hô hấp 
nặng phải thở máy. Có thể thấy chính bệnh 
màng trong là một yếu tố nguy cơ của 
LSPQP, bởi nó khiến trẻ sơ sinh mắc bệnh 
phải thở oxy và nếu nặng phải hỗ trợ thở 
máy gây tổn thương phổi với các cơ chế: 
ngộ độc oxy, chấn thương thể tích, chấn 
thương xẹp cũng như là những hệ lụy viêm 
phổi do bội nhiễm. Vì vậy với surfactant - 
phương pháp điều trị trong bệnh màng trong 
từ độ II, nó có ý nghĩa trong điều trị dự 
phòng bệnh phổi mạn ở trẻ sơ sinh [7]. 
Theo European Consensus Guideline 2019 
[6] về việc quản lý RDS như sau: 
- RDS khi có chỉ định surfactant, nên 
dùng sản phẩm chiết xuất từ thiên nhiên. 
- Chiến lược surfactant điều trị được 
chuẩn hoá thực hành. 
- RDS khi có chỉ định dùng surfactant 
nên được dùng sớm trước 2 giờ tuổi khi nhu 
cầu FiO2 > 30% đã được hỗ trợ CPAP với 
áp lực PEEP tối thiểu 6 cmH2O. 
- Poractant alfa liều đầu 200 mg/kg tốt 
hơn 100 mg/kg. 
- LISA nên được áp dụng khi chỉ định 
surfactant cho trẻ chỉ cần hỗ trợ CPAP. 
- Liều thứ 2 và đôi khi liều thứ 3 được 
chỉ định nếu có bằng chứng RDS tiến triển. 
Tuy nhiên với việc dùng surfactant tự 
nhiên hay tổng hợp trong điều trị bệnh 
màng trong ở trẻ sơ sinh, người ta thấy 
không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc về việc 
dùng hay không dùng nhưng có sự giảm rõ 
tỷ lệ tử vong của trẻ được điều trị surfactant 
mắc bệnh phổi mạn.Tương tự với việc dùng 
surfactant để điều trị dự phòng cũng không 
có sự khác biệt trong tỷ lệ mắc bệnh nhưng 
tỷ lệ tử vong cũng giảm rõ. 
Hỗ trợ hô hấp và thở máy 
* Đích bão hòa oxy 
Về mặt sinh lý, ở trẻ em và người lớn, 
PaO2 thông thường là khoảng 100 mmHg, 
tuy nhiên ở trẻ sơ sinh, con số này thấp hơn, 
chỉ vào khoảng 45-75 mmHg do tình trạng 
shunt trong và ngoài phổi. 
Việc đặt đích SpO2 cao ở trẻ đẻ non 
không có lợi hơn gì nhiều mà còn làm tăng 
nguy cơ mắc bệnh võng mạc ở trẻ sinh non 
(Retinopathy of prematurity), làm mất cân 
bằng oxy, tạo ra các gốc tự do, tăng nguy cơ 
phụ thuộc O2, hình thành bệnh phổi mạn. 
Ngược lại nếu SpO2 quá thấp, lại tăng nguy 
cơ tổn thương cơ quan do không đủ O2 như 
viêm ruột hoại tử và tăng nguy cơ bại não. 
Đích SpO2 với trẻ đẻ non đạt 90% - 94%. 
Nghiên cứu STOP-ROP [8] đánh giá 
ảnh hưởng của nồng độ oxy lên tiến triển 
tới bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non, bệnh nhân 
được chia làm hai nhóm với đích điều trị 
SpO2 là 89% - 94% và 96% - 99%, kết quả 
cho thấy không có nhiều sự khác biệt giữa 
hai nhóm nhưng có thấy ở nhóm có độ bão 
hòa oxy cao hơn có thời gian cần hỗ trợ oxy 
dài hơn. Tương tự như vậy, trong nghiên 
cứu BOOST (Benefits of Oxygen 
Saturation Targeting) so sánh giữa hai 
nhóm đích bão hòa 91%-94% và 95%-98% 
cũng không cho thấy sự khác biệt giữa hai 
nhóm nhưng ở nhóm có đích bão hòa oxy 
cao hơn cũng có thời gian kéo dài hơn. 
Đồng thởi, cả hai nghiên cứu này cũng cho 
kết quả nhóm có đích SpO2 cao hơn có tỷ lệ 
phải sử dụng thuốc lợi tiểu và corticosteroid 
(trong điều trị bệnh phổi mạn) cao hơn. 
* Chiến lược bảo vệ phổi ở bệnh nhân 
thở máy 
Kiểm soát thể tích (Volume-Targeted 
Ventilation) 
Giảm tổn thương phổi do cơ chế chấn 
thương thể tích bằng cách hạn chế thể tích 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
25 
khí cung cấp ở mỗi nhịp thở bằng cách cài 
đặt chế độ kiểm soát thể tích (VTV) cho 
bệnh nhân thở máy. 
Áp lực, tần số và thời gian thì hít 
vào (Ti) 
Với thông khí phút hằng định, chọn tần 
số cao với thể tích khí lưu thông thấp (Vt) 
có hiệu quả hơn so với tần số thấp nhưng 
Vt lại lớn do làm giảm thiểu chấn thương 
thể tích. 
Nghiên cứu cho thấy sử dụng Ti ngắn 
mặc dù không có sự khác biệt trong tỷ lệ 
mắc LSPQP so với Ti kéo dài nhưng lại 
giảm rõ tỷ lệ chấn thương phổi cấp (air 
leak) [9]. Với trẻ sơ sinh, có tổn thương 
phổi cụ thể là bệnh màng trong, nhịp thở 
bình thường cũng cao (> 60 nhịp/phút) nên 
cài đặt Ti ngắn là hoàn toàn có thể. 
Để hạn chế chấn thương do áp lực, ta 
nên để áp lực đỉnh (PIP) thấp. Nhưng để 
đảm được trao đổi oxy máu và phế nang với 
Vt thấp và Ti ngắn, ta phải duy trì được áp 
lực đường thở trung bình (MAP) đủ cao. Vì 
vậy cần nâng áp lực dương cuối thì thở ra 
(PEEP) để tránh phải nâng PIP. 
Thở máy cao tần (High Frequency 
Ventilation) 
Sử dụng thở máy cao tầncung cấp thể 
tích khí lưu thông thấp nhưng với tần số cao 
đủ để đảm bảo trao đổi oxy máu - phế nang, 
thêm vào đó khiến cho phế nang không bị 
giãn nở liên tục, giảm thiểu tổn thương phổi 
do thở máy. Tuy nhiên nghiên cứu phân tích 
tổng hợp năm 2010 so sánh thở HFO so với 
thở máy thông thường cho thấy không có sự 
khác biệt giữa hai hình thức về tỷ lệ mắc 
LSPQP cũng như các biến chứng khác 
Tăng CO2 máu chấp nhận (Permissive 
hypercapnia) 
Cơ sở của giả thuyết chấp nhận tăng 
CO2 máu là từ các nghiên cứu của Kraybill 
và Garland cho thấy giá trị PaCO2 máu cao 
trong những ngày đầu ở trẻ đẻ non làm 
giảm tỷ lệ mắc bệnh phổi mạn. Tuy nhiên 
nghiên cứu phân tích tổng hợp Cochranecho 
thấy không có bằng chứng việc chấp nhận 
PaCO2 cao làm giảm tỷ lệ mắc LSPQP. 
Gần đây nghiên cứu đa trung tâm PHELBI 
[10] với đích PaCO2 trong những ngày đầu 
trong khoảng 55-75 mmHg so với 40-60 
mmHg cho thấy không có sự khác biệt về tỷ 
lệ mắc bệnh phổi mạn. 
Corticosteroid 
Corticoid trong dự phòng bệnh có tác 
dụng làm giảm đáp ứng viêm, cải thiện 
nhanh chóng chức năng phổi, tăng cường 
sản xuất surfactant, giảm phù nề đường thở, 
ổn định tính thấm mao mạch và giảm tình 
trạng xơ phổi. 
* Corticoid đường tĩnh mạch 
(Dexamethasone, hydrocortison) 
Sử dụng sớm 
Sử dụng corticoid đường tĩnh mạch sớm 
là trước 96 giờ sau sinh (4 ngày) do tình 
trạng viêm của phổi bắt đầu rất sớm (do 
bệnh màng trong hoặc do viêm phổi bẩm 
sinh). Dùng sớm sẽ làm giảm nồng độ 
cytokin tiền viêm ở trong đường thở . 
Tác dụng phụ của nó bao gồm thủng 
ruột, tăng huyết áp, tăng phì đại cơ tim và 
quan trọng nhất là tăng nguy cơ bại não. 
Tuy nhiên nếu sử dụng sớm với liều thấp 
làm giảm nguy cơ mắc bệnh phổi mạn và 
giảm tác dụng phụ [11]. 
Mặc dù ý nghĩa lợi ích của việc dùng 
sớm corticoid là hơn hẳn so với những tác 
dụng phụ. Nhưng với trẻ đẻ non hay rất non 
bằng ảnh hưởng lên phát triển hệ thần kinh 
là không thể chối cãi, vì vậy cần cân nhắc. 
Sử dụng muộn 
Sử dụng muộn là sau 7 ngày sau sinh 
(muộn trung bình là 7-14 ngày, rất muộn là 
sau 3 tuần).Sử dụng muộn cho phép ta xác 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
26 
định rõ hơn các yếu tố nguy cơ hình thành 
bệnh phổi mạn của trẻ. Lúc này với những 
trẻ có nguy cơ cao, tác dụng điều trị của 
thuốc lợi ích hơn hẳn so với tác dụng phụ 
của nó, đặc biệt là bại não. 
Tác dụng của corticoid lúc này không 
chỉ đơn thuần là chống viêm do bệnh màng 
trong (và cũng không có tác dụng chống 
viêm được như sử dụng sớm) mà còn giúp 
rút ngắn thời gian thở máy của trẻ. 
Khí dung corticoid 
Do những tác dụng phụ của sử dụng 
bằng đường tĩnh mạch, câu hỏi đặt ra là sử 
dụng đường tại chỗ (khí dung budesonide) 
có tác dụng trong điều trị và dự phòng 
hay không. 
Một phương án cũng được đề ra là sử 
dụng đường khí dung kết hợp với 
surfactant. Yeh và cs [12] tiến hành thử 
nghiệm bơm surfactant kèm với 
budesnonide cho bệnh nhân so với nhóm 
chứng chỉ bơm surfactant, tối đa 5 liều cách 
8h. Kết quả cho thấy chỉ có 42% ở nhóm có 
dùng budesonide tử vong/mắc bệnh phổi 
mạn trong khi ở nhóm chứng là 66%. Theo 
dõi sau 2 năm cho thấy không có sự khác 
biệt về biến chứng thần kinh giữa hai nhóm. 
Caffein citrat 
Với tác dụng kích thích hô hấp, giảm 
thời gian thở máy và tác dụng lợi tiểu và 
giảm viêm, sử dụng caffein có tác dụng 
trong điều trị dự phòng LSPQP. Nghiên cứu 
của Schmidt cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phổi 
mạn giảm tới 36%. Sử dụng sớm (1-3 ngày 
sau sinh) cũng có lợi ích hơn hẳn: sử dụng 
sớm làm giảm tỷ lệ mắc 52% so với 23% 
khi sử dụng muộn (sau 3 ngày). Các nghiên 
cứu phân tích tổng hợp khác cũng cho kết 
quả tương tự [13]. 
Điều trị nhiễm khuẩn 
Ureaplasma urealyticum là vi khuẩn hay 
gặp nhất trong viêm màng ối, thế nhưng 
việc nó có phải là một yếu tố gây bệnh phổi 
mạn không thì vẫn còn tranh cãi. Nghiên 
cứu tổng hợp cho thấy điều trị dự phòng 
erythromycin không có ảnh hưởng đến tỷ lệ 
tử vong và mắc LSPQP. Một nghiên cứu 
rộng hơn về tác dụng của kháng sinh nhóm 
macrolide cho thấy có giảm tỷ lệ tử 
vong/bệnh phổi mạn, đặc biệt là 
azithromycin. 
Dinh dưỡng 
Trẻ sinh non nhỏ so với tuổi thai (SGA) 
hoặc bị hạn chế tăng trưởng trong tử cung 
(IUGR) có nguy cơ tăng BPD. Các nghiên 
cứu đã chứng minh nguy cơ tăng gấp đôi 
của BPD (28% so với 14%) và tử vong sơ 
sinh (23% so với 11%) với SGA, nguy cơ bị 
hạn chế tăng trưởng sau sinh là những thách 
thức trong việc cung cấp dinh dưỡng tối ưu 
mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể hỗ trợ 
dinh dưỡng qua đường ruột. Thất bại tăng 
trưởng sau sinh ảnh hưởng đến tiến triển 
bệnh BPD, cung cấp đủ dinh dưỡng trong 
tuần đầu tiên đóng một vai trò quan 
trọng [14]. 
Vitamin A đóng vai trò quan trọng trong 
việc phát triển và biệt hóa của phổi. Vitamin 
E có vai trò chống oxy hóa, làm giảm tình 
trạng mất cân bằng oxy trong cơ chế hình 
thành bệnh phổi mạn. Tuy nhiên tiến hành 
thử nghiệm so với nhóm giả dược cho thấy 
hai chất này không có ảnh hưởng đến tỷ lệ 
tử vong/bệnh phổi mạn [15]. 
Sữa mẹ có vai trò làm giảm tỷ lệ viêm 
ruột hoại tử và bệnh võng mạc ở trẻ đẻ non, 
tuy nhiên hiện chưa có nghiên cứu nào về 
vai trò của nó với bệnh LSPQP. Nghiên cứu 
của Spiegler [16] cho thấy nếu chỉ sử dụng 
đơn thuần sữa công thức thì làm tăng nguy 
cơ mắc bệnh phổi mạn, vì vậy với trẻ đẻ 
non, vẫn khuyên dùng sữa mẹ để phòng 
bệnh. 
iNO 
Nitơ oxit là một chất giãn mạch, khí 
dung NO có tác dụng làm giãn mạch phổi, 
tăng cường máu lên phổi từ đó cải thiện khả 
năng trao đổi khí. Ở trẻ đẻ non có bệnh lý 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
27 
phải cần sử dụng NO, nó làm giãn mạch 
phổi làm giảm áp lực động mạch phổi cải 
thiện tưới máu từ đó giảm thời gian thở máu 
và nguy cơ ngộ độc oxy. Nghiên cứu 
EUNO cho thấy sử dụng iNO ở trẻ bệnh 
màng trong mức độ vừa và nặng không cải 
thiện tỷ lệ sống không mắc bệnh phổi mạn ở 
trẻ sơ sinh. 
Pentoxifylline 
Pentoxifylline là chất methylxanthine 
tổng hợp và kháng phosophodiesterase, nó 
có chức năng điều hòa miễn dịch - giảm sản 
xuất các cytokin viêm như IL6, TNF-α và 
interferon γ, các chất này đã được nhắc đến 
ở trên trong hình thành của bệnh phổi mạn. 
Đã có nghiên cứu về tác dụng bảo vệ nhu 
mô phổi của pentoxifylline ở thỏ và chuột. 
Ở người, hiện mới chỉ có hai nghiên cứu 
đối chứng ngẫu nhiên của Lauterbach và 
Schulzke về tác dụng của khí dung 
pentoxifylline trong dự phòng bệnh phổi 
mạn. Kết quả cho thấy thuốc có tác dụng 
giảm tỷ lệ mắc LSPQP ở trẻ đẻ non và khá 
an toàn, tuy nhiên cần tiến hành thêm các 
nghiên cứu để rõ hơn về liều, hiệu quả cũng 
như tính an toàn của thuốc trong điều trị dự 
phòng bệnh phổi mạn ở trẻ đẻ non. 
α-1-antitrypsin 
α-1-antitrypsin có tác dụng bảo vệ phổi 
bằng cách tạo phức hợp với elastase tiết ra 
từ bạch cầu trung tính. Trong nghiên cứu 
thử nghiệm của Stiskal, so với nhóm giả 
dược thuốc có làm giảm tỷ lệ LSPQP nhưng 
lại chưa đủ để đạt ý nghĩa thống kê. Hiện 
vẫn chưa có nhiều nghiên cứu để có thể 
chứng minh rõ tác dụng của chúng trong dự 
phòng bệnh phổi mạn. 
4. Kết luận 
Loạn sản phế quản phổi là một bệnh lý 
thường gặp ở trẻ sơ sinh, đặc biệt là ở trẻ đẻ 
non, sau một thời gian dài điều trị hỗ trợ 
oxy.Năm 2001, bệnh có định nghĩa và tiêu 
chuẩn chẩn đoán mới, không nhấn mạnh 
vào tổn thương xơ hóa mà tập trung vào 
điều kiện hình thành bệnh, mở rộng các 
nguyên nhân yếu tố bệnh sinh của bệnh 
sang hướng ngăn chặn hình thành và phát 
triển của phế nang. 
Bệnh được hình thành bởi nhiều nguyên 
nhân và yếu tố nguy cơ: yếu tố nguy cơ 
trước sinh, trong sinh và sau sinh. Cụ thể, 
ảnh hưởng rõ ràng nhất là tuổi thai (hệ hô 
hấp chưa phát triển, tăng nguy cơ mắc bệnh 
màng trong gây tổn thương phổi cũng như 
phụ thuộc vào oxy), độc tố của oxy và tổn 
thương do thở máy. Ngoài ra còn có các yếu 
tố khác như nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, 
PDA tuy nhiên vai trò của chúng chưa 
thực sự rõ ràng. Nhìn chung cơ chế tổn 
thương của các yếu tố nguy cơ này là sự 
mất cân bằng oxy và yếu tố chống oxi hóa, 
mất cân bằng yếu tố phát triển và tình 
trạng viêm. 
Hiện nay vẫn chưa có một khuyến cáo 
chính thức nào về điều trị dự phòng bệnh 
loạn sản phế quản phổi ở trẻ sơ sinh. Cục 
Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ 
FDA cũng chưa chứng nhận bất kì loại 
thuốc nào có tác dụng để điều trị bệnh. Đa 
phần các thuốc trong điều trị bệnh còn đang 
tranh cãi, bằng chứng chưa rõ ràng. Cần tối 
ưu các chiến lược bảo vể phổi trong thở 
máy và đích oxy trong điều trị tại khoa hồi 
sức sơ sinh để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh 
phổi mạn ở trẻ sơ sinh. Cụ thể, nên cài đặt 
máy thở kiểm soát thể tích với Vt thấp và 
hạn chế tăng PIP, đích SpO2 cần đạt vào 
khoảng 90 -94% và vai trò surfactant. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Northway, W.H., Jr.; Rosan, R.C.; Porter, 
D.Y. Pulmonary disease following respirator 
therapy of hyaline-membrane disease. 
Bronchopulmonary dysplasia. New Engl. J. 
C.L. Huong et al. / Vietnam National Children’s Hospital, Vol. 4, No. 2 (2020) 20-28 
28 
Med 1967;276:357–368.[CrossRef] [PubMed] 
[2] Jobe, A.H.; Bancalari, E. Bronchopulmonary 
dysplasia. Am. J. Respir. Crit. Care Med 
2001; 163: 1723–1729. [CrossRef] [PubMed] 
[3] Yasser Y. El-Sayed, MD, Ann E.B. Borders, 
MD, MSc, MPH, and the Society for 
Maternal–Fetal Medicine’s liaison member 
Cynthia Gyamfi-Bannerman, MD, MSc. 
Antenatal Corticosteroid Therapy for Fetal 
Maturation. The American College of 
Obstetricians and Gynecologists 2017;713. 
[4] Lapcharoensap, W.; Kan, P.; Powers, R.J.; 
Shaw, G.M.; Stevenson, D.K.; Gould, J.B.; 
Wirtschafter, D.D.; Lee, H.C. The 
relationship of nosocomial infection 
reduction to changes in neonatal intensive 
care unit rates of bronchopulmonary 
dysplasia. J. Pediatr 2016;180:105–109. 
[CrossRef] [PubMed]
 
[5] Wyllie J., Bruinenberg J., Roehr C.C., et al. 
European Resuscitation Council Guidelines 
for Resuscitation 2015. Resuscitation 2015; 
95:249–263. 
[6] David G. Sweeta Virgilio Carniellib Gorm 
Greisenc Mikko Hallmand
Eren Ozeke 
Arjan te Pasf Richard Plavkag Charles C. 
Roehrh Ola D. Saugstadi Umberto Simeonij 
Christian P. Speerk Maximo Ventol Gerhard 
H.A. Visserm Henry L. Halliday. European 
Consensus Guidelines on the Management of 
Respiratory Distress Syndrome - 2019 
Update. Neonatology 2019;115:432-450 
[7] Bancalari E. and del Moral T. 
Bronchopulmonary Dysplasia and Surfactant. 
Neonatology 2013. 
[8] STOP-ROP Multicenter Study Group (2000). 
Supplemental Therapeutic Oxygen for 
Prethreshold Retinopathy of Prematurity. 
Pediatrics. 
[9] Klingenberg C., Wheeler K.I., McCallion N., 
et al. Volume-targeted versus pressure-
limited ventilation in neonates. Cochrane 
Database Syst Rev 2017; (10). 
[10] Thome U.H., Genzel-Boroviczeny O., 
Bohnhorst B., et al. Permissive hypercapnia 
in extremely low birthweight infants 
(PHELBI): a randomised controlled 
multicentre trial. Lancet Respir Med 2015; 
3(7): 534–543. 
[11] Baud O., Maury L., Lebail F., et al. (2016). 
Effect of early low-dose hydrocortisone on 
survival without bronchopulmonary dysplasia 
in extremely preterm infants (PREMILOC): 
A double-blind, placebo-controlled, 
multicentre, randomised trial. Lancet. 
[12] Yeh T.F., Chen C.M., Wu S.Y., et al. 
Intratracheal Administration of 
Budesonide/Surfactant to Prevent 
Bronchopulmonary Dysplasia. Am J Respir 
Crit Care Med 2016; 193(1); 86–95. 
[13] Shenk E.E., Bondi D.S., Pellerite M.M., et al. 
Evaluation of Timing and Dosing of Caffeine 
Citrate in Preterm Neonates for the 
Prevention of Bronchopulmonary Dysplasia. 
J Pediatr Pharmacol Ther 2018. 
[14] Poindexter, B.B.; Martin, C.R. Impact of 
nutrition on bronchopulmonary dysplasia. 
Clin. Perinat. 2015;42: 797–806. [CrossRef] 
[PubMed] 
[15] Darlow B.A., Graham P.J., and Rojas-Reyes 
M.X. Vitamin A supplementation to prevent 
mortality and short- and long-term morbidity 
in very low birth weight infants. Cochrane 
Database of Systematic Reviews 2016. 
[16] Spiegler J., Preuß M., Gebauer C., et al. Does 
Breastmilk Influence the Development of 
Bronchopulmonary Dysplasia?. J Pediatr 
2016.

File đính kèm:

  • pdfchien_luoc_du_phong_loan_san_phe_quan_phoi_o_tre_so_sinh.pdf