Chia trứng trong thụ tinh ống nghiệm sẻ chia hạnh phúc - Nhân đôi cơ hội

Thực tế cho thấy, nhiều phụ nữ khó khăn hoặc không thể có trứng

hoặc chất lượng trứng không tốt (đôi khi nguyên nhân do phụ khoa, đôi

khi chỉ đơn giản là vấn đề về tuối) mong muốn có con nhưng không

thể tìm được người cho trứng. Trong khi đó, không ít phụ nữ chức năng

buồng trứng tốt có nhiều trứng nhưng không có đủ kinh phí hoặc khi làm

thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) số trứng dư thừa quá nhiều, để lãng

phí trứng không cần dùng đến trong tương lai. Có một giải pháp mang

lại rất nhiều lợi ích cho 2 đối tượng này đó là chia trứng. Chia trứng là 1

phương pháp điều trị TTTON kết hợp cho những phụ nữ có nhiều trứng

(người chia trứng) với những phụ nữ không có trứng (người nhận trứng).

Chia trứng cho phép 2 nhóm phụ nữ này giúp đỡ lẫn nhau – người chia

trứng nhận được giảm phí hoặc miễn phí điều trị TTTON, trong khi đó

người nhận trứng có trứng cần cho họ làm TTTON với giá phải chăng.

Hiện nay, chia trứng là phương pháp áp dụng phổ biến trên thế giới

và hàng năm, có hàng ngàn phụ nữ được hưởng lợi ích mà phương pháp

mang lại. Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra rằng chia trứng không

làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời

giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến. Với số liệu thống kê

này, hầu hết phụ nữ tham gia chương trình này đã ủng hộ nó.

pdf 4 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Chia trứng trong thụ tinh ống nghiệm sẻ chia hạnh phúc - Nhân đôi cơ hội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chia trứng trong thụ tinh ống nghiệm sẻ chia hạnh phúc - Nhân đôi cơ hội

Chia trứng trong thụ tinh ống nghiệm sẻ chia hạnh phúc - Nhân đôi cơ hội
VŨ MINH NGỌC
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
26
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
Vũ Minh Ngọc
Bệnh viện Từ Dũ
CHIA TRỨNG TRONG THỤ TINH ỐNG NGHIỆM
SẺ CHIA HẠNH PHÚC - NHÂN ĐÔI CƠ HỘI
Tóm tắt
Thực tế cho thấy, nhiều phụ nữ khó khăn hoặc không thể có trứng 
hoặc chất lượng trứng không tốt (đôi khi nguyên nhân do phụ khoa, đôi 
khi chỉ đơn giản là vấn đề về tuối) mong muốn có con nhưng không 
thể tìm được người cho trứng. Trong khi đó, không ít phụ nữ chức năng 
buồng trứng tốt có nhiều trứng nhưng không có đủ kinh phí hoặc khi làm 
thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) số trứng dư thừa quá nhiều, để lãng 
phí trứng không cần dùng đến trong tương lai. Có một giải pháp mang 
lại rất nhiều lợi ích cho 2 đối tượng này đó là chia trứng. Chia trứng là 1 
phương pháp điều trị TTTON kết hợp cho những phụ nữ có nhiều trứng 
(người chia trứng) với những phụ nữ không có trứng (người nhận trứng). 
Chia trứng cho phép 2 nhóm phụ nữ này giúp đỡ lẫn nhau – người chia 
trứng nhận được giảm phí hoặc miễn phí điều trị TTTON, trong khi đó 
người nhận trứng có trứng cần cho họ làm TTTON với giá phải chăng. 
 Hiện nay, chia trứng là phương pháp áp dụng phổ biến trên thế giới 
và hàng năm, có hàng ngàn phụ nữ được hưởng lợi ích mà phương pháp 
mang lại. Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra rằng chia trứng không 
làm giảm cơ hội có thai của người chia trứng và việc có thai đồng thời 
giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến. Với số liệu thống kê 
này, hầu hết phụ nữ tham gia chương trình này đã ủng hộ nó. 
Abstract 
 EGG SHARING IN IN VITRO FERTILISATION 
SHARE HAPPINESS - DOUBLE CHANCE
The fact that, many women find it difficult or impossible to produce 
their own eggs or whose egg quality is poor (Sometimes the cause is 
gynaecological; sometimes it may simply be a matter of age) desire to 
have children but can not find anyone to donor eggs. Meanwhile, many 
women have ovarian function well with eggs but not enough money or 
when doing In Vitro Fertilisation (IVF) some eggs too much excess, 
to waste without the use of eggs in future. There is a solution to bring 
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Vũ Minh Ngọc, email: 
[email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/03/2016
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/04/2016
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 25/04/2016
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 26 - 29, 2016
27
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
many benefits to the both of them that is egg-sharing. Egg-sharing is an IVF treatment that brings 
together women who produce surplus eggs (an egg sharer) with those unable to produce eggs (an 
egg recipient). Egg-sharing enables these two groups of women to help one another - egg sharers 
receive free or subsidised IVF treatment, whilst egg recipients receive the eggs they need for IVF. 
Egg-sharing now takes place across the world, every year several thousand women have 
benefitted from this process. Published studies indicate that sharing eggs does not diminish the 
sharer’s chances of a successful pregnancy, and simultaneous pregnancies between sharers and 
their matched recipients are common. Given these statistics, almost of women who have been 
involved in the programme are in favour of it.
1. Đặt vấn đề
Ngày nay, trên thế giới ngày càng nhiều phụ nữ 
kết hôn muộn hoặc có con muộn. Điều này khiến 
họ rơi vào tình trạng không thể sinh con bởi vì họ 
bị mãn kinh sớm hoặc hoặc do lớn tuổi. Chất lượng 
trứng thường bắt đầu giảm sau tuổi 35, bị nhiều 
tổn hại nghiêm trọng sau 40 tuổi và gần như bị 
suy giảm toàn bộ sau tuổi 43. Điều này là do một 
số bất thường của tế bào trứng, đặc biệt là với các 
trục chính phân bào giảm nhiễm, mà kết quả cho 
tỷ lệ phần trăm cao của phôi bất thường. Bên cạnh 
đó còn có những phụ nữ không có buồng trứng 
do bị cắt buồng trứng bởi bệnh lý ở buồng trứng 
hoặc bị căn bệnh di truyền không thể có con bằng 
chính trứng của họ. Tất cả họ nếu muốn có con 
đều cần phải xin trứng làm thụ tinh ống nghiệm. 
Chương trình thụ tinh ống nghiệm bằng trứng hiến 
đã trở thành phổ biến hơn với những tiến bộ nhanh 
chóng trong công nghệ hỗ trợ sinh sản đã mang 
lại hạnh phúc lớn lao được làm mẹ cho những phụ 
nữ này. Tuy nhiên, nguồn trứng hiến thì thật khan 
hiếm không những ở các nước kém phát triển mà 
kể cả những nước phát triển. Trong khi đó, có nhiều 
phụ nữ trẻ tuổi, buồng trứng rất tốt và cần phải 
làm TTTON thì mới có con nguyên nhân do chồng 
hoặc bị tắc 2 vòi trứng nhưng không có đủ kinh phí. 
Thêm vào nữa có 1 số phụ nữ làm TTTON có nhiều 
trứng dư thừa mà họ không cần dùng cho tương 
lai sau khi họ đã có thai và bị bỏ phí. Cần giải 
pháp nào cho vấn đề này? Từ nhu cầu từ thực tế, 
chương trình chia trứng TTTON đã ra đời và ngày 
càng phát triển trên khắp thế giới và hàng ngàn 
phụ nữ được hưởng lợi ích mà nó mang lại hàng 
năm. Chia trứng là 1 phương pháp điều trị TTTON 
kết hợp cho những phụ nữ có nhiều trứng (người 
chia trứng) với những phụ nữ không có trứng (người 
nhận trứng). Chia trứng cho phép 2 nhóm phụ nữ 
này giúp đỡ lẫn nhau – người chia trứng nhận được 
điều trị TTTON với chi phí thấp, trong khi đó người 
nhận trứng nhận được trứng cần cho họ làm TTTON 
với giá phải chăng. Các nghiên cứu đã được công 
bố chỉ ra rằng chia trứng không làm giảm cơ hội có 
thai của người chia trứng, và việc có thai đồng thời 
giữa người chia trứng và người nhận là phổ biến
2. LỢI ÍCH CỦA CHIA TRỨNG
Lợi ích của chia trứng với người chia trứng, 
người nhận và xã hội thể hiện:
• Cung cấp điều trị IVF miễn phí hoặc hỗ trợ 
kinh phí cho những phụ nữ đủ điều kiện trở thành 
người chia trứng.
• Cung cấp một lựa chọn an toàn cho những 
phụ nữ cần xin trứng.
• Giảm sự lãng phí trứng cho các trường hợp 
nhiều trứng và không sử dụng hết.
• Loại bỏ sự phụ thuộc vào những người cho 
trứng không phải là bệnh nhân. Do đó loại trừ các 
rủi ro liên quan đến IVF và can thiệp y tế không cần 
thiết cho nhóm phụ nữ này.
• Thúc đẩy sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những 
người phụ nữ hiếm muộn, mang tính nhân đạo cao.
• Tiền đề cho việc thành lập ngân hàng trứng.
VŨ MINH NGỌC
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
28
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
3. Đối tượng tham gia chương 
trình chia trứng làm TTTON
1.Người xin trứng
a. Chỉ định của người xin trứng
• Buồng trứng không còn chức năng hoặc đã 
bị cắt
• Chất lượng trứng kém
• Vô sinh không rõ nguyên nhân
• Người đã từng điều trị bằng phương pháp IVF 
bị thất bại nhiều lần.
• Người bị sẩy thai nhiều lần.
• Bất thường di truyền nghiêm trọng
b. Điều kiện của người xin trứng 
• Có đủ sức khỏe có thể mang thai 
• Đã được tư vấn sẵn sàng về vấn đề chia trứng
• Về mặt tài chính có thể đủ khả năng điều trị
2. Người chia trứng
a. Chỉ định của người chia trứng
• Phụ nữ với các vấn đề về sinh sản như là tắc 
vòi trứng hoặc buồng trứng đa nang
• Người phụ nữ chức năng sinh sản bình thường 
nhưng chồng bị vô sinh
• Đồng tính nữ và phụ nữ đơn thân
b. Điều kiện của người chia trứng
• Tuổi 18 - < 35 tuổi 
• Không có bệnh truyền nhiễm hoặc rối loạn 
di truyền.
• Phải có xét nghiệm nội tiết (FSH/AMH) để 
đánh giá tình trạng của buồng trứng.
• Không hút thuốc lá ít nhất trong 3 tháng
• Chỉ số khối cơ thể (BMI) < 28.
• Không có tiền căn bệnh buồng trứng, bao 
gồm LNMTC
• Không quá 2 lần IVF thất bại.
4. Cách tiến hành và kết 
quả của TTTON chia trứng 
trên thế giới
Các chi phí của IVF có thể là rào cản đối với 
một số bệnh nhân. Đôi khi IVF là điều trị duy nhất 
có thể giúp một người phụ nữ có con. Điều này có 
thể là do bệnh nặng ở vòi trứng hoặc có chất lượng 
tinh trùng quá kém trong khi đó chức năng buồng 
trứng còn rất tốt. Các chương trình chia trứng lần 
đầu tiên được thành lập ở Mỹ khoảng năm 1988 
với mục đích làm cho việc thực hiện thụ tinh trong 
ống nghiệm giá cả phải chăng hơn [1]. Đối với 
những người cho trứng đủ điều kiện các chương 
trình chia trứng cung cấp một cách hợp lý để họ 
làm TTTON trong khi giúp đỡ được người khác 
một cách kín đáo. Đối với những người nhận, quá 
trình hiến trứng cho phép người phụ nữ xin trứng 
mang thai đứa trẻ có liên quan huyết thống với 
chồng mình. Điều này cho phép các cặp vợ chồng 
có quyền cơ bản nhất của con người là bản năng 
- sinh con. Bằng cách tham gia các chương trình 
chia trứng, chi phí cho những người nhận cũng 
được giảm đáng kể. 
Còn ở Anh, những người cần xin trứng để làm 
TTTON phải chờ đợi trong thời gian rất dài do 
khan hiếm người cho trứng, rất nhiều phụ nữ Anh 
phải ra nước ngoài để xin trứng với chi phí rất 
cao. Trong khi chưa có giải pháp nào cho vấn đề 
này thì năm 1992, có 3 bệnh nhân đến gặp Bác sĩ 
Kamal Ahuija và Eric Simon tại phòng khám phụ 
khoa của họ ở Durham và đề nghị được chia trứng 
làm TTTON. Điều này là ý tưởng giúp cho 2 vị bác 
sĩ người Anh này đi tiên phong trong vấn đề chia 
trứng ở Anh [2], [3]
Trứng thường được chia đều giữa người chia 
trứng và người nhận, với sự sắp xếp chính xác đã 
thỏa thuận trước.Trong trường hợp số trứng chia lẻ, 
ở Anh trứng dôi sẽ được chia cho người chia trứng 
còn ở Mỹ trứng dôi ra sẽ được chia cho người nhận 
trứng. Khi trứng của người chia quá nhiều sẽ được 
chia cho 2 người nhận (Tối đa số người nhận được 
cho phép ở Anh và ở Mỹ là 2). Nếu không đủ trứng 
để chia (ít hơn 8 trứng), người chia trứng phải lựa 
chọn quyết định không chia trứng và giữ lại tất cả 
trứng cho mình, tuy nhiên trong trường hợp này 
họ phải trả phí IVF. Còn người xin trứng sẽ phải 
hủy chu kỳ và được hoàn trả phí đã thực hiện cho 
người chia trứng[1], [3]. Tại sao lại có mốc tối thiểu 
là 8 trứng thì mới được chia trứng, mà không phải 
là 10 hay 12 trứng?.Nghiên cứu của Efstratios 
cho thấy nếu giảm số lượng tế bào trứng tối thiểu 
cần thiết để thực hiện chia trứng từ 12 xuống 8 và 
chia các tế bào trứng bằng nhau giữa người cho 
và người nhận đã làm giảm đáng kể tỷ lệ hủy bỏ 
chu kỳ trong khi đó tỷ lệ sinh sống của người cho 
và người nhận không bị ảnh hưởng [4]..
Các nghiên cứu đã được công bố chỉ ra rằng 
chia trứng không làm giảm cơ hội có thai của người 
chia trứng, và việc có thai đồng thời giữa người 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(02), 26 - 29, 2016
29
Tậ
p 
14
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
6
chia trứng và người nhận là phổ biến. Tại The Lister 
Fertility Clinic ở Anh, từ năm 2005 – 2012, kết 
quả của người chia trứng với tỷ lệ có thai 55,8% 
và tỷ lệ sinh sống 40,4% tương đương với kết quả 
có thai ở phụ nữ < 35 tuổi làm TTTON (tỷ lệ có 
thai 54,4% và tỷ lệ sinh sống là 41,2%) [3]. Đây là 
những con số của trung tâm sinh sản Herts & Essex 
bao gồm dữ liệu từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 
12 năm 2013 và đã được xác minh bởi các HFEA 
(Human Fertilization and Embryology Authority): 
Người chia trứng tỷ lệ có thai là 56,3%, tỷ lệ thai 
lâm sàng là 42,5%, tỷ lệ sinh sống 40%. Người 
nhận trứng chia tỷ lệ có thai là 64,4%, tỷ lệ thai 
lâm sàng 55,6%, tỷ lệ sinh sống là 45,6% [5 ]. Một 
số nghiên cứu cũng cho thấy: không có sự khác 
biệt về số lượng trung bình của trứng được chia, tỷ 
lệ thụ tinh hoặc số phôi chuyển trung bình và tỷ lệ 
sinh sống mặc dù tuổi người nhận cao hơn người 
chia trứng [6], [7]. Cơ hội có thai hoặc sinh sống 
của người chia trứng và người nhân cũng giống 
như bệnh nhân làm TTTON tiêu chuẩn. Người chia 
trứng cũng không có nguy cơ bị hội chứng kích 
thích buồng trứng cao hơn so với người làm TTTON 
tiêu chuẩn [8].
Nhờ có kỹ thuật đông trứng bằng phương pháp 
thủy tinh hóa ra đời với tỷ lệ trứng sống sau rã 
đông rất cao, nghiên cứu của Krinos cho thấy: 
trứng đông lạnh bằng phương pháp thủy tinh hóa 
có thể cung cấp cùng một chất lượng phôi, thai, 
và khả năng làm tổ giống trứng tươi [9]. Với kết 
quả ấn tượng của phương pháp đông trứng thủy 
tinh hóa, bệnh nhân có thể làm một chu kỳ và sử 
dụng một số trứng tươi cho bản thân và sau đó 
đông trứng phần còn lại. Nếu họ có thai hoặc có 
một số lý do khác nên họ không muốn sử dụng 
những trứng đã đông lạnh họ có thể hiến số trứng 
đông lạnh cho ngân hàng trứng. Nếu hai vợ chồng 
không có thai, họ có thể sử dụng trứng đông lạnh 
của họ và chỉ phải trả phí bình thường để làm rã 
đông, thụ tinh, nuôi phôi và chuyển phôi.
Ở Trung quốc những bệnh nhân làm TTTON có 
trên 20 trứng được khuyến khích thụ tinh tối thiểu 
15 trứng với tinh trùng của chồng để tạo thành 
phôi. Số trứng còn dư sẽ được trữ đông bằng 
phương pháp thủy tinh hóa. Thông thường những 
phụ nữ này sau khi sinh con khỏe mạnh và họ 
thường hiến số trứng trữ vào ngân hàng để cho 
các cặp vợ chồng hiếm muộn khác. Tỷ lệ có thai 
lâm sàng của trứng trữ hiến là 42,3%, tỷ lệ làm tổ 
là 25,5%. Không có bé bị dị tật bẩm sinh. Những 
kết quả này chỉ ra rằng trữ trứng thủy tinh hóa là 
một phương pháp hiệu quả cho một chương trình 
chia trứng hiến với kết quả làm tổ và có thai chấp 
nhận được. [10]
5. Kết luận
TTTON chia trứng ngày càng phát triển rộng 
khắp trên thế giới. Với nhiều lợi ích, sự chia sẻ 
trứng – sẻ chia hạnh phúc đã mang lại cơ hội 
có thai không những cho phụ nữ vô sinh trẻ chức 
năng buồng trứng tốt mà còn cho cả những phụ 
nữ không thể có con bằng chính trứng của mình. 
Nhân đôi niềm hạnh phúc được làm cha, làm mẹ 
cho hàng ngàn cặp vợ chồng vô sinh trên thế giới. 
Tài liệu tham khảo
1. www.houstonfertilitysolutions.com/egg-sharing-progrm 
2. Blyth. E. “Subsidized IVF: the development of ‘egg sharing’ in the UK”. 
Hum. Reprod. (2002) 17 (12):3254-3259. 
3. www.ivf.org.uk/egg-sharing
4. Efstratios M Kolibianakis, Herman Tournaye, Kaan Osmanagaoglu, 
Michel Camus, Linda Van Waesberghe, Andre Van Steirteghem, Paul 
Devroey. Outcome for donors and recipients in two egg-sharing policies. 
Fertility and Sterility Volume 79, Issue 1, January 2003, Pages 69 – 73 
5. www.hertsandessexfertility.com/egg-sharing-and-egg-donation-
sharing-our-results
6. Ahuja K.K, Simons E.G, Fiamanya W, Dalton M, Armar N.A, 
Kirkpatrick P, Sharp S.J, Arian-Schad M, A. Seaton A, and Watters A.J. 
“Egg-sharing in assisted conception: ethical and practical considerations”. 
Hum. Reprod. (1996) 11 (5):1126-1131. 
7. Zeynep B. Gürtin, Kamal K. Ahuja and Susan Golombok. “Emotional 
and relational aspects of egg-sharing: egg-share donors’ and recipients’ 
feelings about each other, each others’ treatment outcome and any 
resulting children”. Hum. Reprod. (2012) 27 (6):1690-1701. 
8. Thum M.Y, Gafar. A, Wren. M, Faris. R, Ogunyemi. B , Korea. 
L, Scott. L and Abdalla H.I. Does egg-sharing compromise the chance 
of donors or recipients achieving a live birth?. Hum. Reprod. (2003) 18 
(11):2363-2367. 
9. Krinos M. Trokoudes, Constantinos Pavlides, Xiao Zhang. Comparison 
outcome of fresh and vitrified donor oocytes in an egg-sharing donation program. 
Fertility and Sterility Volume 95, Issue 6, May 2011, Pages 1996 – 2000. 
10. Ling-Bo Cai, Xiao-Qiao Qian, Wei Wang, Yun-Dong Mao, Zheng-Jie 
Yan, Cui-Zhen Liu, Wei Ding, Jie Huang, De-Chun Chai, Ri-Cheng Chian, 
Jia-Yin Liu. Oocyte vitrification technology has made egg-sharing donation 
easier in China. Reproductive BioMedicine Online Volum 24 Issure 2, 
February 2012, Pages 1076 – 1080 

File đính kèm:

  • pdfchia_trung_trong_thu_tinh_ong_nghiem_se_chia_hanh_phuc_nhan.pdf