Chi trả trực tiếp khám chữa bệnh viêm thực quản do nấm Candida

Nghiên cứu tiến hành phân tích sự chấp nhận chi trả của người bệnh khi khám chữa bệnh viêm thực

quản do nấm Candida điều trị ngoại trú tại phòng khám đa khoa Hoàng Long 11/2017 - 2/2019. Toàn bộ

giá thành của dịch vụ mà người bệnh chi trả trong quá trình điều trị nấm thực quản được nhóm nghiên

cứu ghi nhận và đưa vào phân tích mô tả. Tổng 129 bệnh nhân bị viêm thực quản do Candida, trong đó

Candida albican chiếm 93,8%. Phí chẩn đoán, thuốc điều trị nấm Candida, đánh giá sau điều trị bằng nội

soi trung bình 6.437.000 VNĐ, với tỉ lệ tương ứng lần lượt là 53,6%; 28,2% và 18,2%. Với phí chi trả này

tỉ lệ điều trị thành công 94,9%. Tỉ lệ người bệnh chấp nhận chi trả toàn bộ phí chữa viêm thực quản do

Candida 60,5%. Nghiên cứu phân tích khả năng sẵn sàng chi trả khám chữa bệnh giúp người cung cấp

dịch vụ y tế cân nhắc thận trọng chỉ định dịch vụ phù hợp, hiệu quả điều trị cao và người bệnh chấp nhậ

pdf 8 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Chi trả trực tiếp khám chữa bệnh viêm thực quản do nấm Candida", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chi trả trực tiếp khám chữa bệnh viêm thực quản do nấm Candida

Chi trả trực tiếp khám chữa bệnh viêm thực quản do nấm Candida
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
165TCNCYH 133 (9) - 2020
Tác giả liên hệ: Đào Việt Hằng, 
Viện nghiên cứu và đào tạo Tiêu hoá, Gan mật
Email: [email protected]
Ngày nhận: 24/08/2020
Ngày được chấp nhận: 14/09/2020
CHI TRẢ TRỰC TIẾP KHÁM CHỮA BỆNH VIÊM THỰC QUẢN 
DO NẤM CANDIDA
Đào Minh Hoàng1,2, Vũ Thị Vựng2, Trần Thị Thu Trang2, Đào Việt Hằng2,3,4, .
1Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 
2Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hoá, Gan mật
3Trường Đại học Y Hà Nội
4Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu tiến hành phân tích sự chấp nhận chi trả của người bệnh khi khám chữa bệnh viêm thực 
quản do nấm Candida điều trị ngoại trú tại phòng khám đa khoa Hoàng Long 11/2017 - 2/2019. Toàn bộ 
giá thành của dịch vụ mà người bệnh chi trả trong quá trình điều trị nấm thực quản được nhóm nghiên 
cứu ghi nhận và đưa vào phân tích mô tả. Tổng 129 bệnh nhân bị viêm thực quản do Candida, trong đó 
Candida albican chiếm 93,8%. Phí chẩn đoán, thuốc điều trị nấm Candida, đánh giá sau điều trị bằng nội 
soi trung bình 6.437.000 VNĐ, với tỉ lệ tương ứng lần lượt là 53,6%; 28,2% và 18,2%. Với phí chi trả này 
tỉ lệ điều trị thành công 94,9%. Tỉ lệ người bệnh chấp nhận chi trả toàn bộ phí chữa viêm thực quản do 
Candida 60,5%. Nghiên cứu phân tích khả năng sẵn sàng chi trả khám chữa bệnh giúp người cung cấp 
dịch vụ y tế cân nhắc thận trọng chỉ định dịch vụ phù hợp, hiệu quả điều trị cao và người bệnh chấp nhận.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viện phí luôn là một vấn đề khiến bệnh nhân 
quan tâm trong quá trình họ sử dụng dịch vụ 
khám chữa bệnh, đặc biệt là tại các cơ sở y tế 
ngoài công lập. Viện phí là hình thức chi trả trực 
tiếp các chi phí khám chữa bệnh tại thời điểm 
người bệnh sử dụng dịch vụ y tế, bao gồm chi 
trả cho khám bệnh, xét nghiệm, nội soi, thuốc 
điều trị và đánh giá kết quả điều trị bệnh. Đối 
với khám chữa bệnh ngoại trú phí sẽ thu theo 
lần khám bệnh và dịch vụ sử dụng.1 Những 
bệnh nhân thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm 
sẽ được hỗ trợ chi trả một phần, tùy theo bảo 
hiểm họ được hưởng và loại dịch vụ bảo hiểm 
họ sử dụng.2 
Viêm thực quản do nấm thường gặp ở bệnh 
nhân suy giảm miễn dịch như bệnh nhân HIV/
AIDS, đái tháo đường hoặc sử dụng các thuốc 
ức chế miễn dịch, tuy nhiên vẫn có những bệnh 
nhân nấm thực quản với hệ miễn dịch bình 
thường. Việc điều trị triệt để viêm thực quản do 
nấm là cần thiết bởi nếu bệnh tiến triển nặng 
sẽ gây khó khăn khi nuốt, và đặc biệt là khi 
nấm xâm nhập vào trong máu gây suy đa tạng. 
Nhiễm Candida huyết hoặc Candida nội tạng 
gây ra gánh nặng về chi phí cho người bệnh 
cũng như làm tăng nguy cơ tử vong cho người 
bệnh.3,4
Nhiều nghiên cứu về chi phí điều trị nấm 
được các tác giả của Hoa Kỳ, Úc, Anh và Đức 
thực hiện trên bệnh nhân nhiễm khuẩn đường 
hô hấp, can thiệp tim mạch, tiểu đường và 
người bệnh có bệnh lý ác tính. Bệnh nhân có 
các bệnh nền như trên khi bị nhiễm Candida 
huyết hoặc nhiễm Candida nội tạng sẽ có chi 
phí trung bình cho một bệnh nhân từ $48487 
đến $157574.3,4 Tại Việt Nam, nhiều nhóm tác 
giả đã nghiên cứu về chi trả dịch vụ y tế, tuy vậy 
Từ khoá:Chi trả trực tiếp; Chi trả thuốc điều trị; Viêm thực quản do Candida
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
166 TCNCYH 133 (9) - 2020
chưa có nghiên cứu nào thực hiện trên bệnh 
nhân viêm thực quản do nấm Candida. Nghiên 
cứu do Hoàng Văn Minh và cộng sự thực hiện 
chỉ ra rằng phí để điều trị lao thể kháng đa 
thuốc (MDR-TB) là cao nhất, đồng thời những 
trường hợp lao đáp ứng với điều trị cũng có 
tổng phí khá cao so với thu thập bình quân đầu 
người năm 2014.5,6 Trong khi đó, viện phí điều 
trị nội trú bệnh đái tháo đường của người bệnh 
là 4.540.846 VNĐ, khoảng 70% phí chi trả trực 
tiếp liên quan đến biến chứng.7,8 Có thể thấy 
hiện tại giá dịch vụ y tế đang khá cao so với thu 
nhập bình quân và có xu hướng tăng, đặc biệt 
là khi Nghị định số 31/2020/NĐ-CP về tự chủ 
tài chính tại các đơn vị công lập đã được triển 
khai.9 Việc phí dịch vụ y tế cao nhưng hiệu quả 
điều trị không tương xứng sẽ gây gánh nặng 
lớn về kinh tế cho người bệnh.1
Vì lý do trên, nhóm tác giả thực hiện nghiên 
cứu “Chi trả trực tiếp khám chữa bệnh viêm 
thực quản do nấm Candida” nhằm xác định 
tổng phí chi trả trực tiếp trong chẩn đoán và 
điều trị cho bệnh nhân viêm thực quản do nấm 
Candida.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1.Đối tượng 
Bệnh nhân đến khám tại Phòng khám đa 
khoa Hoàng Long từ tháng 09/2017 đến tháng 
02/2019 thoả mãn tiêu chuẩn lựa chọn và loại 
trừ sau:
Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân trên 16 
tuổi. Được nội soi đường tiêu hóa trên có hình 
ảnh viêm thực quản do nấm đánh giá mức độ 
nặng theo phân loại Kodsi. Mẫu bệnh phẩm 
được soi tươi xác định có nấm và nuôi cấy định 
danh loài nấm là Candida. Tuân thủ phác đồ 
điều trị tại đơn vị và ghi nhận được đầy đủ các 
kinh phí chi trả các dịch vụ.
Tiêu chuẩn loại trừ: (1) Bệnh nhân HIV/
AIDS; (2) Bệnh nhân có AST, ALT > 5 lần giá 
trị bình thường cao, giá trị Bilirubin cao gấp > 2 
lần giá trị bình thường cao hoặc kết thúc điều 
trị viêm gan trong vòng 2 tháng; (3) Bệnh nhân 
nhiễm nấm huyết; (4) Bệnh nhân đang điều trị 
ung thư hoặc các thuốc ức chế miễn dịch; (5) 
Bệnh nhân có tiền sử dị ứng với thuốc kháng 
nấm thuốc nhóm imidazol hoặc azol; (6) Bệnh 
nhân có tiền sử hoặc đang sử dụng các thuốc 
rifampin, rifabutin, phenobarbital, phenytoin, 
carbamazepin; (7) Phụ nữ mang thai hoặc 
đang cho con bú.
2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả phân 
tích tổng phí chi trả trực tiếp dịch vụ y tế của 
bệnh nhân tại cơ sở y tế ngoài công lập theo 
góc nhìn của người cung cấp dịch vụ.
Quy trình nghiên cứu: Quy trình tuyển chọn 
và theo dõi bệnh nhân trong nghiên cứu được 
thể hiện trong hình 1.
(1) Xác định tổn thương thực quản trên nội 
soi: Bệnh nhân đến khám được nội soi đường 
tiêu hóa trên xác định có tổn thương nấm thực 
quản bằng ánh sáng trắng và được phân loại 
theo thang điểm Kodsi gồm 4 độ dựa trên kích 
thước các mảng nhày trắng, phù nề, xung huyết 
hoặc loét. Bệnh nhân có tổn thương Kodsi độ 
I và II được xếp vào nhóm tổn thương nhẹ, độ 
III và IV sẽ được xếp vào nhóm tổn thương 
nặng.10,11
Hình 1. Quy trình chẩn đoán, điều trị và 
đánh giá kết quả điều trị
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
167TCNCYH 133 (9) - 2020
(2) Nuôi cấy định danh nấm: Mẫu bệnh 
phẩm nghi ngờ nấm thực quản được lấy khi 
nội soi bằng kìm sinh thiết và được soi tươi tại 
Viện nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật. 
Những mẫu soi tươi cho kết quả dương tính sẽ 
được gửi đến Bệnh viện Da liễu Trung ương 
để nuôi cấy và định danh loài nấm. Bệnh nhân 
có kết quả nuôi cấy định danh nhiễm Candida 
được đưa vào can thiệp điều trị. Kết quả nuôi 
cấy định danh loài nấm được coi là tiêu chuẩn 
vàng chẩn đoán nhiễm Candida.
(3) Điều trị nấm thực quản: Bệnh nhân sử 
dụng phác đồ kết hợp hai thuốc đường uống: 
fluconazol 150mg/ngày và nystatin 30000UI/
ngày trong 30 ngày, đồng thời hạn chế ăn đồ 
ngọt, không uống nước có ga hoặc đồ uống có 
cồn trong quá trình điều trị. 
(4) Đánh giá kết quả điều trị và tác dụng 
không mong muốn: Để đánh giá hiệu quả điều 
trị theo quy trình của nghiên cứu, trong vòng 
5 ngày sau khi uống hết thuốc, người bệnh sẽ 
đến khám lại và được đánh giá kết quả điều 
trị dựa trên hình ảnh nội soi. Kết quả điều trị 
thành công (tốt) khi Kodsi = 0, hết tình trạng 
viêm thực quản do nấm và điều trị chưa thành 
công (chưa tốt) khi còn viêm thực quản do nấm 
ở các mức độ Kodsi từ I-IV. Đánh giá các tác 
dụng không mong muốn khi điều trị xuất hiện 
triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, chóng mặt, khô 
môi, táo bón, tiểu sẫm màu, sẩn ngứa. Người 
bệnh khi có triệu chứng này sẽ ngừng không sử 
dụng tiếp thuốc. Xét nghiệm enzym gan (AST, 
ALT) được tiến hành trước và sau mỗi đợt điều 
trị nấm thực quản để so sánh sự thay đổi trước 
và sau điều trị. Đánh giá sự cải thiện các triệu 
chứng lâm sàng so với trước khi điều trị ở các 
bệnh nhân không đến nội soi lần cuối xác định 
kết quả điều trị dựa vào phỏng vấn qua điện 
thoại.
Nhóm nghiên cứu thu thập thông tin vào 
mẫu bệnh án đã thiết kế sẵn bao gồm: nhân 
khẩu học, kết quả nội soi trước và sau khi điều 
trị, kết quả nuôi cấy nấm, các phí dịch vụ bao 
gồm:
(1) Phí chẩn đoán xác định bệnh viêm thực 
quản do nấm Candida gồm: khám lâm sàng, 
nội soi đường tiêu hoá trên, soi tươi bệnh phẩm 
sinh thiết tổn thương thực quản và nuôi cấy để 
định danh loài nấm là Candida.
(2) Phí điều trị bệnh viêm thực quản do nấm 
candida là tiền thuốc điều trị bệnh viêm thực 
quản do Candida.
(3) Phí đánh giá kết quả điều trị: chi trả kỹ 
thuật nội soi đánh giá kết quả điều trị và xét 
nghiệm men gan sau điều trị.
(4) Tổng phí chi trả:
• Nhóm bệnh nhân quay lại tái khám gồm: 
phí chẩn đoán, điều trị và đánh giá kết quả điều 
trị dựa trên nội soi.
• Nhóm bệnh nhân phỏng vấn qua điện thoại 
gồm: phí chẩn đoán, điều trị.
3. Cỡ mẫu và xử lý
Nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên 129 
người bệnh có kết quả nuôi cấy định danh loài 
nấm là Candida từ 11/2017 đến 2/2019 để đưa 
vào theo dõi điều trị và tính toán về sẵn sàng 
chi trả tài chính. Số liệu được mô tả chi tiết tại 
bảng 1. Số liệu được nhập bằng phần mềm 
Epidata và được xử lý bằng phần mềm SPSS 
20. Kiểm định χ2 và ANOVA được sử dụng để 
xác định sự khác biệt giữa các biến với mức ý 
nghĩa 95%.
4. Đạo đức nghiên cứu
Đề tài được chấp thuận đạo đức nghiên cứu 
bởi Hội đồng Đạo đức của Viện Nghiên cứu Y 
học Đinh Tiên Hoàng số 05/DTHIM-IRB ngày 
29/11/2017.
III. KẾT QUẢ
Từ tháng 11/2017 đến tháng 02/2019, 
nghiên cứu thu thập được 129 bệnh nhân (69
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
168 TCNCYH 133 (9) - 2020
Bảng 1. Đặc điểm chung của bệnh nhân (n=129)
Đặc điểm n (%)
 Giới tính (nam) 69 (53,5)
 Phân loại Kodsi
 Độ I 57 (44,2)
 Độ II 63 (48,8)
 Độ III 9 (7,0)
 Độ IV 0 (0)
 Kết quả nuôi cấy
 C. albican 121 (93,8)
Đặc điểm n(%)
 Kết quả nuôi cấy
Candida spp 4 (3,0)
 C. krusei 2 (1,6)
 C. glabrata 2 (1,6)
 Kết quả điều trị
 Đánh giá qua nội soi 78/129 (60,5)
 Thành công 74 (94,9)
 Chưa thành công 4 (5,1)
 Đánh giá qua phỏng vấn điện thoại 29/129 (22,5)
 Triệu chứng ổn định 27 (93,1)
 Triệu chứng chưa ổn định 2 (6,9)
nam, 60 nữ) với tuổi trung bình là 52,6 + 11,5 
(min-max 18-81). 93,0% bệnh nhân tổn thương 
thực quản theo phân loại Kodsi mức độ I, II. 
Bệnh nhân nhiễm nấm C. albican chiếm tỉ lệ 
cao nhất (93,8 %). 
Về kết quả điều trị nấm, tổng số bệnh nhân 
tái khám và nội soi dạ dày thực quản sau 30 
ngày điều trị là 78 người. 74 (94,9%) bệnh nhân 
có kết quả điều trị tốt, và 4 bệnh nhân kết quả 
điều trị chưa thành công (5,1%). Có 29 bệnh 
nhân không đến tái khám và nội soi dạ dày thực 
quản đánh giá kết quả điều trị được chúng tôi 
phỏng vấn qua điện thoại. Kết quả có 27 người 
cải thiện tốt các triệu chứng lâm sàng (93,1%), 
2 bệnh nhân chưa cải thiện triệu chứng lâm 
sàng (6,9%). Đặc điểm chung của bệnh nhân, 
kết quả điều trị và phỏng vấn được trình bày 
trong bảng 1.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 129 bệnh 
nhân đều được nội soi đường tiêu hoá trên, soi 
tươi chẩn đoán nhanh nấm và xét nghiệm nuôi 
cấy định danh loài để chẩn đoán nhiễm nấm 
thực quản. Ngoài ra, có 82/129 bệnh nhân phải 
trả phí làm xét nghiệm sinh hoá và đông máu, 
53/129 bệnh nhân phải nội soi đại tràng toàn bộ 
do có cả các triệu chứng đường tiêu hoá dưới. 
Phí trung bình cho chẩn đoán nấm Candida là 
2.150.000 VNĐ. Tất cả các bệnh nhân này đều 
được điều trị phác đồ fluconazol và nystatin 
với tổng phí trung bình là 1.726.500 VNĐ. Có 
78/129 bệnh nhân chấp nhận quay lại tái khám 
(60,5%) và đều được nội soi lại đường tiêu hoá 
trên để đánh giá kết quả điều trị nấm với phí 
trung bình là 1.612.300 đồng (Bảng 2).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
169TCNCYH 133 (9) - 2020
Bảng 2. Phí chẩn đoán, điều trị và theo dõi điều trị bệnh (đơn vị: VNĐ)
Nội dung phí chi trả dịch vụ n Trung bình
Khoảng CI 95%
Thấp Cao
Phí chẩn đoán định danh loài nấm Candida 129 2150,0 2150,0 2500,0
Phí thuốc điều trị nấm Candida 129 1726,5 1519,7 1933,2
Phí khám, nội soi đánh giá kết quả sau điều trị 78 1612,3 1400,5 1824,2
 Theo phân loại Kodsi, tổng phí chi trả cho dịch vụ khám chữa bệnh không có sự khác biệt có ý 
nghĩa thống kê giữa các phân độ I, II và III (p=0,864).
Bảng 3. Tổng phí chi trả dịch vụ theo phân độ Kodsi và nhóm tái khám (đơn vị: VNĐ)
Nội dung phí chi trả dịch vụ n Trung bình
Khoảng CI 95%
Thấp Cao
Tổng phí chi trả theo phân loại Kodsi
Độ I 57 4969,7 4575,7 5363,7
Độ II 63 4913,8 4597,8 5229,7
Độ III 9 4713,3 4102,0 5324,7
Tổng phí chi trả theo nhóm tái khám
Dựa vào nội soi 78 6437,0 6036,4 6837,5
Tổng phí chi trả theo nhóm tái khám
Kết quả tốt 74 6383,9 5989,5 6778,3
Kết quả chưa tốt 4 7418,7 2611 12226,4
Dựa vào phỏng vấn 29 4743,1 4178,1 5308,0
Triệu chứng ổn định 27 4801,2 4198,3 5404,2
Triệu chứng chưa ổn định 2 3957,5 2337,4 5577,4
Tỉ lệ từng loại phí so với tổng phí chi trả dịch vụ
Nhóm có quay lại tái khám
Phí chẩn đoán 78 53,6 50,0 57,2
Phí điều trị 78 28,2 26,0 30,5
Phí đánh giá kết quả điều trị 78 18,2 15,1 21,3
Nhóm không quay lại tái khám
Phí chẩn đoán 51 56,8 53,5 60,1
Phí điều trị 51 43,2 40,2 46,2
 Tổng phí chẩn đoán, điều trị và đánh giá kết quả điều trị viêm thực quản do nấm Candida dựa 
trên hình ảnh nội soi kiểm tra sau điều trị trung bình 6.437.000 VNĐ. Tỉ lệ các loại phí chẩn đoán, 
thuốc điều trị, đánh giá kết quả điều trị chiếm tỉ lệ lần lượt là: 53,6%; 28,2% và 18,2%. Tổng phí cho 
gói chẩn đoán, điều trị và đánh giá kết quả điều trị viêm thực quản do nấm Candida dựa trên phỏng 
vấn qua điện thoại thấp hơn hơn so với gói đánh giá kết quả dựa trên kết quả nội soi (4.743.100 VNĐ 
so với 6.437.000 VNĐ) (Bảng 3). 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
170 TCNCYH 133 (9) - 2020
các thuốc điều trị nấm có cùng hoạt chất khác 
nhà sản xuất với giá thành khác nhau. Bệnh 
nhân sẽ được bác sĩ giải thích và lựa chọn 
loại thuốc phù hợp tuỳ thuộc vào mức độ chấp 
nhận chi trả của từng bệnh nhân. Nghiên cứu 
cũng cho kết quả không có sự khác biệt về phí 
chi trả trung bình cho dịch vụ khám chữa bệnh 
giữa các nhóm bệnh nhân phân loại Kodsi khác 
nhau.
Về đánh giá kết quả điều trị, có 78 bệnh 
nhân quay lại tái khám đánh giá dựa trên nội 
soi, chiếm tỉ lệ 60,5%. Trung bình phí bệnh 
nhân trong nhóm này cần chi trả là 1.612.300 
VNĐ. Trên nhóm bệnh nhân không quay lại tái 
khám, nhóm nghiên cứu gọi điện phỏng vấn về 
đặc điểm lâm sàng sau điều trị. Trong số 29 
bệnh nhân liên lạc được, 27/29 (93,1%) người 
đã cải thiện về lâm sàng. Tổng phí phải trả của 
hai nhóm có và không quay lại tái khám lần lượt 
là 6.437.000 VNĐ và 4.743.100 VNĐ. Xét về 
các nhóm phí bệnh nhân cần chi trả trong quá 
trình điều trị nấm, phí chẩn đoán chiếm tỉ lệ cao 
nhất ở cả 2 nhóm, với tỉ lệ trung bình lần lượt là 
53,6% và 56,8%. Theo khuyến cáo, chẩn đoán 
nấm thực quản phải được xác định thông qua 
nội soi, sinh thiết bệnh phẩm thực hiện đánh 
giá tế bào học và nuôi cấy định danh loài.13 Để 
đánh giá kết quả điều trị, có thể căn cứ vào cải 
thiện triệu chứng lâm sàng và nội soi để kiểm 
tra tình trạng nấm ở thực quản. Tuy nhiên, trên 
thực tế vẫn có nhóm bệnh nhân không có triệu 
chứng lâm sàng trước khi chẩn đoán và được 
phát hiện tình cờ qua nội soi. Do đó, việc đánh 
giá kết quả điều trị có thể cân nhắc thông qua 
nội soi thực quản lại. Như vậy, trong thực hành 
lâm sàng, việc giải thích cho bệnh nhân hiểu về 
quy trình khám chữa bệnh, giúp bệnh nhân lựa 
chọn phương pháp điều trị phù hợp và nâng 
cao tính tuân thủ là điều rất quan trọng.
Hiện tại ở Việt Nam mới chỉ có các dữ liệu 
nghiên cứu ở nhóm bệnh nhân điều trị nội trú 
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định 
sự chấp nhận chi trả điều trị viêm thực quản 
do nấm ở bệnh nhân điều trị ngoại trú. Nhóm 
nghiên cứu chưa tìm được tài liệu tham khảo 
nghiên cứu về chi trả điều trị viêm thực quản do 
nấm Candida theo mô hình khám chữa bệnh 
ngoại trú ngoài công lập ở Việt Nam tại thời 
điểm năm 2019, vì vậy để từng bước đánh giá 
mức chi trả của người bệnh cho khám chữa 
bệnh viêm thực quản do nấm theo gói, kết quả 
nghiên cứu được so sánh với các nghiên cứu 
quốc tế.
Nhiễm nấm Candida huyết gây ra gánh nặng 
y tế trên toàn cầu và đã được thảo luận trong 
các hội nghị chuyên ngành. Nhiều khu vực trên 
thế giới nhiễm nấm huyết chủ yếu do nhiễm C. 
albican, các loài khác chiếm tỉ lệ thấp hơn như 
C. glabrata, C. tropicalis, C. parapsilosis.12 Kết 
quả định danh loài trong nghiên cứu của chúng 
tôi cũng cho kết quả tương tự với tỉ lệ bệnh 
nhân viêm thực quản do Candida chủ yếu là C. 
albican (93,8%), Candida spp (3,0%), C. krusei 
(1,6%), C. glabrata (1,6%). Bệnh nhân trong 
nghiên cứu được điều trị nhiễm thực quản bằng 
phác đồ kết hợp fluconazol và nystatin đường 
uống. Tỉ lệ điều trị thành công cao (94,9%). 
Trong nghiên cứu này, chúng tôi phân tích 
phí bệnh nhân cần chi trả cho một đợt điều trị 
nấm thực quản ngoại trú tại đơn vị y tế ngoài 
công lập bao gồm: phí chẩn đoán, phí điều trị 
và phí tái khám đánh giá kết quả điều trị. Trong 
đó, phí chẩn đoán trung bình là 2.125.000 VNĐ, 
chiếm tỉ lệ cao nhất 53,6%. Chi phí chẩn đoán 
này có thể dao động phụ thuộc chủ yếu vào việc 
lựa chọn gói dịch vụ nội soi với chất lượng hình 
ảnh có độ phân giải khác nhau. Phí phải trả cho 
thuốc điều trị nấm chiếm tỉ lệ thấp 28,2%, với 
mức phí trung bình là 1.726.500 VNĐ cho phác 
đồ điều trị trong 30 ngày, CI 95% từ 1.519.700 
VNĐ đến 1.933.200 VNĐ. Đối với loại phí này, 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
171TCNCYH 133 (9) - 2020
nấm Candida của 129 bệnh nhân đến khám tại 
phòng khám đa khoa Hoàng Long trung bình là 
6.437.000 VNĐ, với phí dịch vụ này tỉ lệ điều trị 
thành công là 94,9%. Người bệnh chấp nhận 
chi trả toàn bộ gói khám chữa bệnh này chiếm 
60,5%. 
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Kim Chúc, Nguyễn Thị 
Bạch Yến, Hoàng Văn Minh, Nguyễn Xuân 
Thành. Kinh tế Y tế và Bảo hiểm Y tế. Nhà Xuất 
bản Y học: Bộ Y tế; 2007.
2. Quốc hội. Luật Bảo hiểm Y tế số 
25/2008/QH12. In: Quốc hội khóa XII khtt, 
ed2008.
3. Wan Ismail WNA, Jasmi N, Khan TM, 
Hong YH, Neoh CF. The Economic Burden 
of Candidemia and Invasive Candidiasis: A 
Systematic Review. Value Health Reg Issues. 
2020;21:53-58.
4. Slavin M, Fastenau J, Sukarom I, 
Mavros P, Crowley S, Gerth WC. Burden of 
hospitalization of patients with Candida and 
Aspergillus infections in Australia. Int J Infect 
Dis. 2004;8(2):111-120.
5. Minh HV, Mai VQ, Nhung NV, et al. 
Costs of providing tuberculosis diagnosis and 
treatment services in Viet Nam. Int J Tuberc 
Lung Dis. 2017;21(9):1035-1040.
6. Ngân hàng Thế giới. Số liệu thống 
kê các năm 2020; https://data.worldbank.org/
country. Accessed 23/07/2020.
7. Nguyễn Thị Bích Thuỷ, Vũ Xuân Phú, 
Nguyễn Quỳnh Anh. Chi phí trực tiếp cho y tế 
và ngoài y tế của người bệnh đái tháo đường 
tại khoa Nội tiết Bệnh viện Thanh Nhàn. Tạp chí 
Y học thực hành 2013;893:6-10.
8. Tuan Kiet Pham H, Tuyet Mai Kieu 
T, Duc Duong T, et al. Direct medical costs 
of diabetes and its complications in Vietnam: 
và lao kháng thuốc là bệnh lý có thời gian điều 
trị lâu, gây gánh nặng cho xã hội và so sánh với 
GDP đầu người. Đối với bài toán các bệnh lý 
cấp tính như điều trị nấm thực quản hiện chưa 
có mô hình đánh giá hiệu quả chi phí kinh tế. 
Tuy nhiên theo các nghiên cứu trên thế giới 
những người suy giảm miễn dịch khi bị nấm 
thực quản cần điều trị sớm để tránh bệnh trầm 
trọng và gây thiệt hại lớn về chi trả điều trị. Một 
số nghiên cứu đã chỉ ra tỉ lệ mới mắc nấm trên 
người bệnh bị HIV, bệnh lý ác tính, sau ghép 
tạng và các bệnh khác bị nhiễm nấm là 306 
người trong 1 triệu bệnh nhân trong 1 năm, 
trong đó 75% trường hợp là nhiễm Candida. 
Tổng chi trả trực tiếp của 1 ca mới mắc Candida 
khi nằm viện (giường bệnh, chẩn đoán và điều 
trị) và sau khi ra viện (chăm sóc tại nhà, thuốc, 
theo dõi ngoại trú) là $25543, trong đó phí 
thuốc ngoại trú trung bình là $224 chiếm 18%.14 
Tỉ lệ phí thuốc so với tổng phí khám chữa bệnh 
trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi tuy 
cao 28,2% tương đương $74,7 so với kết quả 
của nghiên cứu trên thế giới nhưng thấp hơn 
rất nhiều so với số liệu ước tính năm 2019 của 
Hoa Kỳ tính toán cho một bệnh nhân khám 
ngoại trú ($708 - $1812) và đứng hàng thứ hai 
chỉ sau điều trị nấm Mucormycosis.14,15
Nghiên cứu của chúng tôi có hạn chế như 
số mẫu nhỏ, phương pháp chọn mẫu chưa đại 
diện cho các phòng khám y tế đa khoa ngoài 
công lập nên chưa xác định được chính xác 
chi trả dịch vụ y tế cho số đông các bệnh nhân, 
nhất là những bệnh nhân được chi trả bảo hiểm 
y tế. Đồng thời, nghiên cứu không có dữ liệu 
về sự hài lòng của bệnh nhân về chi phí điều 
trị, do đó không đủ bằng chứng để kết luận về 
sự chấp nhận của họ đối với giá để hoàn thành 
toàn bộ liệu trình điều trị nấm.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu mô tả tổng phí chi trả trực tiếp 
dịch vụ y tế trong điều trị viêm thực quản do 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
172 TCNCYH 133 (9) - 2020
A national health insurance database study. 
Diabetes Res Clin Pract. 2020;162:108051.
9. Chính phủ. Nghị quyết 31/NQ-CP của 
Chính phủ về việc xây dựng Nghị định của 
Chính phủ quy định cơ chế tự chủ tài chính của 
đơn vị sự nghiệp công lập. In:2020.
10. Đăng Thanh Diễm, Đào Văn Long. 
Bước đầu nghiên cứu giá trị của nội soi ống 
mềm trong chẩn đoán viêm thực quản do 
Candida, phân loại chủng nấm và điều trị bằng 
Fluconazole. Tạp chí nghiên cứu Tiêu hóa Việt 
nam. 2007(4):226-231.
11. Zonios D, E Bennett J. Update on Azole 
Antifungals. Seminars in respiratory and critical 
care medicine. 2008;29:198-210.
12. Vallabhaneni S, Mody RK, Walker T, 
Chiller T. The Global Burden of Fungal Diseases. 
Infect Dis Clin North Am. 2016;30(1):1-11.
13. C.M. W. Esophageal Infections 
and Disorders Associated with Acquired 
Immunodeficiency Syndrome. Yamada’ 
s Textbook of Gastroenterology. Wiley-
Blackwell2016.
14. Wilson LS, Reyes CM, Stolpman M, 
Speckman J, Allen K, Beney J. The direct cost 
and incidence of systemic fungal infections. 
Value Health. 2002;5(1):26-34.
15. Benedict K, Jackson BR, Chiller T, 
Beer KD. Estimation of Direct Healthcare Costs 
of Fungal Diseases in the United States. Clin 
Infect Dis. 2019;68(11):1791-1797.
Summary
DIRECT MEDICAL EXPENSE IN CANDIDA ESOPHAGITIS 
TREAMENT 
From November 2017 to Ferbuary 2019, this study was conducted to explore the out-patient’s 
exceptancy in reimbursing medical expense in esophageal candidiasis treatment in Hoang 
Long Clinic. Medical expense of esophageal candidiasis out-patients in Hoang Long Clinic was 
collected for descriptive analysis, using SPSS version 24. Among 129 esophageal candidiasis 
patients, 93.8% were infected with Candida. The mean value of the cost for diagnosis, drug 
treatment and recovering assessment by endoscopy is 6437000 VND, the proportions of these 
costs were 53.6%; 28.2% and 18.2%, respectively. The recovery rate was 94.9%. 60.5% of 
out-patients can fully reimbursed the medical expense for esophageal candidiasis treatment 
in Hoang Long Clinic. This study presented the current acceptancy of patients toward treatment 
expense for esophageal candidiasis. Medical experts should consider the result of this study to 
apply suitable treatment regimens to achieve the most effective treatment with affordable cost.
Keywords: Direct medical expense; Medication expense; Esophageal candidiasis

File đính kèm:

  • pdfchi_tra_truc_tiep_kham_chua_benh_viem_thuc_quan_do_nam_candi.pdf