Chỉ định và kỹ thuật điều trị gãy xương sườn do chấn thương bằng nẹp VIS tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

Điều trị phẫu thuật gãy xương sườn (XS) do

chấn thương bằng nẹp vis là một phương pháp

mới được thực hiện tại Bệnh viện Hữu nghị

(BVHN) Việt Tiệp. Đối tượng và phương pháp:

10 BN (BN ) điều trị tại BVHN Việt Tiệp từ

5/2019 đến 04/2020. Phương pháp nghiên cứu mô

tả hồi cứu. Kết quả: BN được chỉ định mổ đều có

triệu chứng đau ngực nhiều kèm các tổn thương

như tràn khí khoang màng phổi, tràn máu khoang

màng phổi, giập phổi, và gãy nhiều XS di lệch

trên X quang ngực thẳng và CT scan ngực có

dựng hình XS . Số vị trí XS gãy di lệch nhiều

trung bình trên X quang ngực thẳng là 2,3 ± 0,68

và trên CT ngực là 3 ± 1,05. Với kỹ thuật tiếp

cận tới vị trị XS gãy cho thấy: vị trí gãy cung

bên gặp nhiều nhất là 20, vị trí gãy cung sau là 10

và thấp nhất là vị trí gãy cung trước là 1. Do vậy

trong phẫu thuật cố định XS bằng nẹp vis, đa

phần các trường hợp lựa chọn tiếp cận vị trí gãy

cung bên của XS để can thiệp

pdf 8 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Chỉ định và kỹ thuật điều trị gãy xương sườn do chấn thương bằng nẹp VIS tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chỉ định và kỹ thuật điều trị gãy xương sườn do chấn thương bằng nẹp VIS tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp

Chỉ định và kỹ thuật điều trị gãy xương sườn do chấn thương bằng nẹp VIS tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp
CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG SƯỜN DO CHẤN THƯƠNG BẰNG NẸP VIS... 
 21 
CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG SƯỜN DO CHẤN 
THƯƠNG BẰNG NẸP VIS TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT TIỆP 
Nguyễn Văn Đại*, Lê Minh Sơn*, Nguyễn Thế May*, Nguyễn Công Huy* Đỗ Đức Thắng*, Phạm 
Quốc Hoa*, Lê Anh Công*, Đoàn Quốc Hưng ** 
TÓM TẮT 
Điều trị phẫu thuật gãy xương sườn (XS) do 
chấn thương bằng nẹp vis là một phương pháp 
mới được thực hiện tại Bệnh viện Hữu nghị 
(BVHN) Việt Tiệp. Đối tượng và phương pháp: 
10 BN (BN ) điều trị tại BVHN Việt Tiệp từ 
5/2019 đến 04/2020. Phương pháp nghiên cứu mô 
tả hồi cứu. Kết quả: BN được chỉ định mổ đều có 
triệu chứng đau ngực nhiều kèm các tổn thương 
như tràn khí khoang màng phổi, tràn máu khoang 
màng phổi, giập phổi, và gãy nhiều XS di lệch 
trên X quang ngực thẳng và CT scan ngực có 
dựng hình XS . Số vị trí XS gãy di lệch nhiều 
trung bình trên X quang ngực thẳng là 2,3 ± 0,68 
và trên CT ngực là 3 ± 1,05. Với kỹ thuật tiếp 
cận tới vị trị XS gãy cho thấy: vị trí gãy cung 
bên gặp nhiều nhất là 20, vị trí gãy cung sau là 10 
và thấp nhất là vị trí gãy cung trước là 1. Do vậy 
trong phẫu thuật cố định XS bằng nẹp vis, đa 
phần các trường hợp lựa chọn tiếp cận vị trí gãy 
cung bên của XS để can thiệp. 
SUMMARY 
INDICATIONS AND TECHNIQUE FOR 
SURGICAL TREATMENT BY PLATE 
OSTEOSYNTHESIS OF RIB FRACTURES 
CAUSED BY TRAUMA AT VIET TIEP 
FRIENDSHIP HOSPITAL 
The surgical treatment by plate 
osteosynthesis of rib fractures caused by trauma 
is a new method performed at Viet Tiep 
Friendship Hospital. Subjects and methods: 10 
patients treated at Viet Tiep Viet Friendship 
Hospital from 5/2019 to 4/2020. Methodology: 
retrospective description. Results: 10 patients 
who were indicated to surgery had symptoms of 
severe chest pain associated with injuries such as 
haemo-pneumothorax, pulmonary contusion, and 
having a lot of displaced rib fractures on chest X-
ray and chest CT scan with reconstruction of 3D 
image (CT3D) of ribs. The average number of 
position of the displaced rib fractures on chest X-
ray was 2,3 ± 0,68 and on CT3D of ribs was 3 ± 
1,05. The technique approaching the position of 
rib fractures shows: the most common position 
happening at lateral arc of ribs was 20, the 
posterior rib fractures position was 10 and the 
lowest position at the posterior arc of rib was 1. 
Therefore, the surgical treatment by plate 
osteosynthesis of rib fractures is usually chosen 
for the lateral position of rib to repair. Key words: 
Rib fracture repair; operative treatment of chest 
wall injuries; treatment of rib fractures caused by 
plate osteosynthesis.1 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Trên thế giới, chấn thương ngực có gãy XS 
thường gặp nhất, xảy ra trong khoảng 300.000 
người trong năm 2000 ở Hoa Kỳ hoặc chiếm 
39% BN nhập viện các trung tâm chấn thương 
[1], [2], trong đó gần 10% BN nhập viện sau 
chấn thương ngực kín gãy một hoặc nhiều XS . Tỉ 
lệ tử vong càng cao nếu gãy càng nhiều XS [2]. 
* Bệnh viện HN Việt Tiệp 
** Bệnh viện HN Việt Đức, Trường ĐHY HN 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Văn Đại 
Ngày nhận bài: 01/05/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 15/05/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 22 
Tại bệnh viện HN Việt Đức, phẫu thuật cấp cứu 
chấn thương ngực chiếm 4,4% cấp cứu ngoại 
chung và 7,1% cấp cứu ngoại chấn thương [3]. 
Điều trị cơ bản của gẫy XS do chấn thương là dẫn 
lưu máu khí khoang màng phổi, còn thương tổn 
XS thường không can thiệp trực tiếp mà để tự 
tiến triển, tự lành. Chính vì vậy thời gian điều trị 
thường kéo dài, với các biến chứng như đau kéo 
dài, khó tập thở, XS can xấu, can lệch; đau mạn 
tính do XS không lành, khớp giả, tăng thời gian 
và chi phí nằm viện [4],[5],[6]. Nếu gãy nhiều 
sườn, mảng sườn di động phải thở máy thì có 
những biến chứng của thở máy kéo dài như viêm 
phổi, nhiễm trùng bệnh viện, tỷ lệ biến chứng lên 
tới 27-70%, thậm chí tử vong (25%-51%)[7]. 
Phẫu thuật cố định XS nhằm cải thiện chức năng 
hô hấp, phục hồi sự liên tục của thành ngực, giảm 
thời gian thở máy, giảm nguy cơ viêm phổi, và 
cho phép BN quay trở lại lao động sớm 
[8],[9],[10],[11],[12],[13],[14],[15]. Vì vậy chúng 
tôi nghiên cứu đề tài này nhằm nhận xét bước đầu 
về chỉ định và kĩ thuật điều trị gãy sườn do chấn 
thương bằng nẹp vis tại Bệnh viện Hữu nghị Việt 
Tiệp, Hải Phòng. 
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
 2.1. Đối tượng: Các BN điều trị gãy 
xương sườn do chấn thương bằng nẹp vis tại 
BVHN Việt Tiệp từ 5/2019 đến 4/2020. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hồi 
cứu, thống kê các số liệu dựa trên hồ sơ. Chỉ tiêu 
nghiên cứu gồm: yếu tố dịch tễ, lâm sàng, chẩn 
đoán hình ảnh, chỉ định trước mổ, kỹ thuật mổ, 
tổn thương giải phẫu bệnh trong mổ. Xử lý số 
liệu bằng phần mềm thống kê y sinh học. Bàn 
luận, so sánh đối chiếu với các tác giả khác đã 
công bố. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Từ tháng 5/2019 tới 4/2020 đã có 10 BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu với các đặc điểm như sau 
3.1. Chỉ định nẹp vis xương sườn do chấn thương có triệu chứng lâm sàng 
Bảng 3.1. Đặc điểm dịch tễ (N=10) 
 Nhóm tuổi 
Giới tính 
<18t 
18 <30 
30 60t 
> 60t 
Tổng 
Tỷ lệ % 
Nam 
Tai nạn giao thông 0 0 2 5 7 70% 
Tai nạn sinh hoạt 0 0 0 1 1 10% 
Tai nạn lao động 1 1 10% 
Nữ 
Tai nạn giao thông 0 0 0 1 1 10% 
Tai nạn sinh hoạt 0 0 0 0 0 0% 
Tai nạn lao động 0 0 0 0 0% 
CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG SƯỜN DO CHẤN THƯƠNG BẰNG NẸP VIS... 
 23 
Bảng 3.2. Các triệu chứng lâm sàng (N=10) 
Triệu chứng lâm sàng Số BN Tỉ lệ 
Đau ngực 10 100% 
Khó thở 05 50% 
Tràn khí dưới da 05 50% 
Biến dạng thành ngực 04 40% 
Các tổn thương phối hợp: Tràn máu khoang màng phổi cùng bên gặp ở 10 BN phải dẫn lưu 
khoang màng phổi và khác bên gặp ở 2 BN; tràn khí khoang màng phổi cùng bên: 7 BN, khác bên 2 
BN ; tổn thương giập phổi: 5 BN; gãy xương bả vai cùng bên: 2 BN ; gãy xương đòn cùng bên: 4 BN; 
gãy xương cẳng chân: 1 BN; chấn thương sọ não nặng phải hồi sức nhiều ngày: 4 BN; không có BN 
chấn thương cột sống, chấn thương bụng, khung chậu. 
3.2. Số lượng XS gãy trên X quang ngực thẳng và CT scan ngực có dựng hình ảnh xương sườn. 
Bảng 3.3. Số lượng XS gãy X quang ngực thẳng và CT ngực có dựng hình XS (N=10) 
Xương sườn gãy XQ (n=10) CT (n=10) 
Tổng số XS gãy 42 52 
Số XS gãy trung bình 4,2 ± 1,69 (1– 7) 5,2 ± 2,25 (3– 10) 
Số vị trí di lệch nhiều 2,3 ± 0,68 (1– 3) 3 ± 1,05 (1– 5) 
Biểu đồ 3.1. Vị trí xương sườn di lệch nhiều trên CT ngực 
BN chấn thương ngực được phẫu thuật cố định XS đa số di lệch nhiều ở vị trí các XS 3,4,5,6,7; 
trong đó vị trí XS di lệch nhiều nhất được ghi nhận là XS số 5 (8 BN). Tiếp theo đó là XS số 3 (4 BN) 
và XS số 4,6,7 (3 BN). Chiếm tỉ lệ ít hơn đó là XS số 8 (2 BN). Cuối cùng là nhóm XS ít bị di lệch 
nhất gồm có xương xườn số 2, 9. Còn XS số 1, 10,11, 12 chưa gặp trường hợp nào bị gãy. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 24 
Hình 3.1. Hình ảnh gãy XS trên CT có dựng hình XS 
 Kết quả trên CT scan ngực có dựng hình khung sườn, ghi nhận gãy XS 2 bên ở 1 BN (10 %). 
Mảng sườn di động 3 BN (30%). Số BN gãy trên 6 XS liên tiếp là 1 BN (10 %). Không có BN nào gãy 
XS số 1. Số BN di lệch trầm trọng trên 3 XS là 6 (60 %). 
3.3. Kỹ thuật kết hợp xương sườn 
3.3.1. Vô cảm và tư thế phẫu thuật 
Bệnh nhân được mê nội khí quản một nòng thông thường hoặc nội khí quản hai nòng nếu có tổn 
thương trong lồng ngực cần phải can thiệp phẫu thuật (rách phổi), 10 trường hợp đều được dẫn lưu 
khoang màng phổi cùng bên phẫu thuật trước đó. 
Bảng 3.4. Tư thế phẫu thuật (N=10) 
Tư thế BN Số trường hợp (n=10) Tỷ lệ 
Nằm ngửa 1 10 % 
Nằm nghiêng 6 60% 
Nằm nửa sấp 3 30% 
Trong nhóm nghiên cứu, đa phần BN được phẫu thuật ở tư thế nằm nghiêng, ghi nhận ở 6 BN 
chiếm tỉ lệ 60 %. Tiếp theo là phẫu thuật tư thế nằm nửa sấp với trường hợp gãy cung sau với 3 trường 
hợp chiếm tỉ lệ 30%. Còn lại là phẫu thuật ở tư thế nằm ngửa là 1, chiếm tỉ lệ là 10 %. 
3.3.2. Vị trí xương sườn được lựa chọn trong phẫu thuật 
 Dựa trên các đặc điểm di lệch nhiều được ghi nhận trên CT scan ngực có dựng hình XS , vị trí 
XS được lựa chọn phẫu thuật chủ yếu là XS 3,5,6,7; trong đó nhiều nhất là XS số 5, được lựa chọn 
phẫu thuật trong 8 trường hợp. Tiếp đó, là XS số 3 chiếm 4 trường hợp, và XS số 4,6,7 đều chiếm 3 
trường hợp. XS số 8 được lựa chọn phẫu thuật trong 2trường hợp. Còn lại các XS khác chưa chỉ định 
lựa chọn kết hợp do gãy di lệch ít hoặc không gãy XS tại các vị trí đó. 
CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG SƯỜN DO CHẤN THƯƠNG BẰNG NẸP VIS... 
 25 
Hình 3.2. Hình ảnh vị trí xương sườn gẫy được phẫu thuật nẹp vis 
3.3.3. Vị trí cung sườn được lựa chọn phẫu thuật 
Biểu đồ 3.2. Vị trí cung sườn lựa chọn trong phẫu thuật 
Vị trí cung bên được ghi nhận trong 20 vị 
trí cố định. Vị trí cung sau được ghi nhận trong 
10 vị trí cố định. Và thấp nhất là vị trí cung trước 
được ghi nhận trong 1 vị trí cố định. 
Trong phẫu thuật cố định XS , đa phần các 
trường hợp lựa chọn vị trí cung bên của XS để 
tiếp cận. Nguyên nhân là cung trước của XS 
thường liên quan đến sụn sườn nên khó để cố 
định vững và trong cung sau có lớp cơ che phủ 
phía ngoài nên khó khăn trong tiếp cận ổ gãy. 
4. BÀN LUẬN 
4.1. Chỉ định điều trị gãy XS trong chấn 
thương bằng nẹp vis: Điều trị cơ bản của gẫy 
XS do chấn thương là dẫn lưu máu khí khoang 
màng phổi, còn thương tổn XS thường không can 
thiệp trực tiếp mà để tự tiến triển, tự lành. Vì vậy 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 26 
thời gian điều trị thường kéo dài, với các biến 
chứng như đau kéo dài, khó tập thở, XS can 
xấu, can lệch; đau mạn tính do XS không lành, 
khớp giả, tăng chi phí nằm viện [4],[5],[6]. Nếu 
gãy nhiều sườn, mảng sườn di động phải thở 
máy thì có những biến chứng của thở máy kéo 
dài như viêm phổi, nhiễm trùng bệnh viện, tỷ lệ 
biến chứng lên tới 27-70%, thậm chí tử vong 
(25%-51%) [7]. 
4.1.1. Chỉ định khi: về lý thuyết chỉ định 
kết hợp sườn gãy được áp dụng khi 
a) Chỉ định chuyên môn (cấp cứu trì hoãn) 
- Gãy nhiều xương sườn: gãy từ 3 xương 
sườn trở lên. 
- Gãy di lệch nhiều (trầm trọng): ở các vị trí 
bất kỳ, có di lệch chồng hoặc di lệch ngang 1 thân 
xương và kèm theo một trong các yếu tố sau: 
+ Gãy trên hàng loạt 6 xương sườn trở lên, 
liên tiếp 
+ Có 2 vị trí gãy trên 1 xương sườn hoặc có 
mảnh rời, gãy nhiều nơi trên một thân xương 
sườn. 
+ Có biến dạng khung sườn làm giảm thể 
tích khung sườn 
- Có mảng sườn di động [1],[10]. 
- Các trường hợp phải mở ngực cấp cứu xử 
lý thương tổn trong lồng ngực (phổi, tim) sẽ kết 
hợp xương sườn gãy. 
b) Chỉ định khác (mổ có chuẩn bị) 
- Có máu đông màng phổi đã phẫu thuật nội 
soi bóc rửa dẫn lưu tiêu chuẩn mà vẫn tái phát 
hoặc đau nhiều ổ gãy (có thể áp dụng cho chỉ gãy 
2 xương sườn). 
-Khớp giả xương sườn (hay gặp ở ngưởi 
cao tuổi). 
-Yếu tố thẩm mỹ cũng cần được cân nhắc: 
nếu để nhiều sườn gãy tự liền có thể ảnh hưởng 
tới sự cân đối của thành ngực sau này. 
-Có thoát vị phổi qua ổ gãy. 
c) Bảng 3.1 cho thấy có 9 BN nam, chiếm 
đa số với tỉ lệ là 90%. Số BN nữ là 1, chiếm tỉ lệ 
10%. Tỉ lệ nam/nữ là 9/1. Độ tuổi được chỉ định 
chủ yếu gặp ở người cao tuổi (>60 tuổi) chiếm 
60%, gặp độ tuổi trưởng thành (30-60 tuổi) là 
40%, còn độ tuổi thanh niên (18 <30 tuổi) và 
tuổi thiếu niên-nhi đồng (<18 tuổi) chưa gặp 
trường hợp nào. Nhóm BN gãy XS nhập viện vì 
tai nạn giao thông chiếm tỉ lệ nhiều nhất, ghi nhận 
ở 8 BN, chiếm tỉ lệ 80%. Còn nhóm nguyên nhân 
chấn thương do tai nạn sinh hoạt và tai nạn lao 
động là 1 BN , chiếm tỉ lệ 10 %. Như vậy trong 
nhóm nghiên cứu chỉ định chủ yếu là do gãy 
nhiều sườn di lệch nặng, hoặc mảng sườn di 
động. Các chỉ định khác do số lượng BN còn ít 
nên chúng tôi chưa gặp. Một điểm nữa cần lưu ý 
là bệnh nhân cần có đủ kinh phí chi trả dụng cụ 
nẹp vis (hiện nay tại BV Việt Tiệp bảo hiểm chưa 
thanh toán vật tư này), do vậy phải được giải 
thích kỹ trước khi can thiệp. 
Bảng 3.2 cho thấy triệu chứng đau ngực 
xảy ra phổ biến trên tất cả các BN , chiếm tỉ lệ 
100%. Số lượng BN khó thở ghi nhận được trong 
lúc nhập viện là 5, chiếm tỉ lệ 50%. Bên cạnh đó, 
biến dạng thành ngực ghi nhận được ở 04 BN, 
chiếm tỉ lệ 40%. Tràn khí dưới da trong nhóm 
nghiên cứu ghi nhận ở 5 BN , chiếm tỉ lệ 50%. 
4.1.2. Lựa chọn xương sườn gãy và vị trí 
gãy trên thân xương sườn 
Chỉ định cần kết hợp cả lâm sàng, XQ và 
đặc biệt là MSCT có thuốc cản quang dựng hình 
thành ngực. Nhiều trường hợp trên phim XQ 
chưa đánh giá hết được tổn thương về XS cũng 
như những tổn thương phổi hợp của lồng ngực. 
Nên MSCT giúp cho chẩn đoán chính xác số 
lượng, vị trí XS gãy cũng như các tổn thương 
phổi hợp trong lồng ngực (tràn máu – khí khoang 
màng phổi; giập phổi). 
CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG SƯỜN DO CHẤN THƯƠNG BẰNG NẸP VIS... 
 27 
 Bảng 3.3 và biểu đồ 3.1 chỉ ra trên X 
quang ngực thẳng, số lượng XS gãy nhiều nhất 
được ghi nhận là 7 XS , số lượng XS gãy ít nhất 
là 1 XS , số lượng XS gãy trung bình là 4,2 XS , 
tổng số xương xườn gãy được ghi nhận là 42 XS . 
Số vị trí di lệch nhiều trung bình được ghi nhận 
trên X quang ngực thẳng là 2,3 ± 0,68 vị trí; 
nhiều nhất là 3 vị trí và ít nhất là 1 vị trí. Trên CT 
ngực cho thấy phẫu thuật cố định XS đa số di 
lệch nhiều ở vị trí các XS 3,4,5,6,7; trong đó vị trí 
XS di lệch nhiều nhất được ghi nhận là XS số 5, 
với 8 trường hợp. Tiếp theo đó là XS số 3 được 
ghi nhận trong 4 trường hợp và XS số 4,6,7 được 
ghi nhận ở 3 trường hợp. Chiếm tỉ lệ ít hơn đó là 
XS số 8 với 2 trường hợp. Cuối cùng là nhóm 
XS ít bị di lệch nhất gồm có xương xườn số 2, 9. 
Còn XS số 1, 10,11, 12 chưa gặp trường hợp nào 
bị gãy. 
4.2. Kĩ thuật kết hợp XS 
+ Tư thế phẫu thuật người bệnh: Phụ 
thuộc vào cố định XS gãy ở cung trước (nằm 
ngửa), cung bên 
XS (nằm nghiêng) hay cung sau (nằm 
nửa sấp). 
Bảng 3.4: phần lớn BN được phẫu thuật ở 
tư thế nằm nghiêng, ghi nhận ở 6 BN chiếm tỉ lệ 
60%. BN được phẫu thuật ở tư thế nằm nửa sấp là 
3, chiếm tỉ lệ là 30%. Còn lại BN được phẫu thuật 
ở tư thế nằm ngửa chiếm tỉ lệ thấp nhất là 1 
trường hợp, với tỉ lệ là 10% 
+ Vị trí kết hợp xương và cung sườn 
được lựa chọn trong phẫu thuật: phụ thuộc vào 
vị trí giải phẫu ổ gãy mà có cách tiếp cận với 
đường mổ ngắn nhất, ít xâm lấn nhất tránh tổn 
thương thành ngực. Không phải trường hợp nào 
cũng chỉ định nẹp vis cố định tất cả các xương 
sườn gãy, có những vị trí xương sườn rất khó 
khăn để tiếp cận phẫu thuật, chưa kể làm tăng 
kinh phí điều trị và làm tăng nguy cơ nhiễm trùng 
khi nẹp vis nhiều vị trí ổ gãy không cần thiết. 
Biểu đồ 3.2 cho thấy vị trí XS được lựa 
chọn phẫu thuật chủ yếu là XS 3,5,6,7; trong đó 
nhiều nhất là XS số 5 (8 trường hợp). Tiếp đó, là 
XS số 3 chiếm 4 trường hợp, và XS số 4,6,7 đều 
chiếm 3 trường hợp. XS số 8 được lựa chọn phẫu 
thuật trong 2 trường hợp. Còn lại các XS khác 
chưa chỉ định lựa chọn kết hợp do gãy di lệch ít 
hoặc không gãy XS tại các vị trí đó. 
Vị trí cung bên được ghi nhận trong 20 vị 
trí cố định. Vị trí cung sau được ghi nhận trong 
10 vị trí cố định. Và thấp nhất là vị trí cung trước 
được ghi nhận trong 1 vị trí cố định. 
Trong phẫu thuật cố định XS , đa phần các 
trường hợp lựa chọn vị trí cung bên của XS để 
tiếp cận. Nguyên nhân là cung bên là vị trí mà 
xương sườn di động mạnh nhất (gây đau nhiều 
cho BN khi cử động, hít thở), cũng là nơi xương 
sườn hay bị tổn thương nhất (kèm tràn máu khí 
khoang màng phổi), di lệch và gây biến dạng lồng 
ngực nhiều nhất. Đồng thời phần mềm da cơ phía 
trước cung bên mỏng hơn so với vị trí khác, can 
thiệp sẽ ít làm tổn thương phần mềm hơn. Cung 
trước của XS thường liên quan đến sụn sườn nên 
khó để cố định vững; còn cung sau có lớp cơ dày 
che phủ phía ngoài nên khó khăn trong tiếp cận ổ 
gãy, và vị trí này cũng ít di lệch hơn so với cung 
trước và bên. Tuy nhiên nếu số lượng BN lớn hơn 
có thể sẽ gặp những tình huống khác biệt. 
5. KẾT LUẬN 
Điều trị gãy xương sườn do chấn thương 
bằng nẹp vis là kĩ thuật không phức tạp, khả thi 
tại các bệnh viện tuyến tỉnh có trang bị cần thiết, 
lợi ích giảm đau tốt, rút ngắn thời gian nằm viện. 
Cần làm tiếp nhiều nghiên cứu với số lượng lớn 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 29 - THÁNG 6/2020 
 28 
hơn để đánh giá toàn diện về chỉ định và kết quả 
phẫu thuật gãy xương sườn do chấn thương bằng 
nẹp vis. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Kerr-Valentic MA, Arthur M, Mullins 
RJ (2003), "Rib fracture pain and disability: can 
we do better? ", J Trauma 54, tr. 1058-1063. 
2. Sirmali M, Türüt H, Topçu S, et al. 
(2003), "A comprehensive analysis of traumatic 
rib fractures: morbidity, mortality and 
management. ", Eur J Cardiothorac Surg. 24, tr. 
133-138. 
3. Nguyễn Hữu Ước, và cộng sự (2006), 
"Đánh giá tình hình cấp cứu chấn thương lồng 
ngực tại Bệnh viện Việt Đức giai đoạn 2004 - 
2006", Y học Việt Nam. 328, tr. 402-413. 
4. Lafferty PM, Anavian J, Will RE, et al 
(2011), "Operative treatment of chest wall 
injuries: indications, technique, and outcomes.", J 
Bone Joint Surg Am. 93, tr. 97-110. 
5. Mouton W, Lardinois D, Furrer M, et 
al (1997), "Long term follow-up of patients with 
operative stabilization of a flail chest. ", J Thorac 
Cardiovasc Surg. 45, tr. 242-244. 
6. Nirula R, Diaz JJ Jr, Trunkey DD, et al 
(2009), " Rib fracture repair: indications, 
technical issues, and future directions.", World J 
Surg. 33, tr. 14-22. 
7. Tanaka H, Yukioka T, Yamaguti Y et 
al (2002), "Surgical stabilization of internal 
pneumatic stabilization? A prospective 
randomized study of management of severe flail 
chest patients.", J Trauma. 52, tr. 727-732. 
8. Lardinois D, Krueger T, Dusmet M, et 
al (2001), "Pulmonary function testing after 
operative stabilization of the chest wall for flail 
chest.", Eur J Cardiothorac Surg. 20, tr. 496-501. 
9. Ahmed Z, Mohyuddin Z (1995), 
"Management of fl ail chestinjury: internal fi 
xation versus endotracheal intubationand 
ventilation. ", J Thorac Cardiovasc Surg. 110(6), 
tr. 1676-1680. 
10. Reber PU, Kniemeyer HW, Ris HB 
(1998), "Reconstruction plates for internal 
fixation of flail chest. ", Ann Thorac Surg. 66, tr. 
2158. 
11. Paris F, Tarazona V, Blasco E, Canto 
A, Casillas M, Pastor J, Paris M, Montero R. 
(1975), " Surgical stabilization of traumatic flail 
chest.", Thorax. 30, tr. 521-527. 
12. Nguyễn Công Minh (2002), "Gãy sườn 
và mảng sườn di động trong chấn thương ngực 
kín", Chấn thương ngực, Nhà xuất bản Y học, tr. 
24. 
13. Nguyễn Thế Hiệp (2008), " Chấn 
thương ngực", Điều trị ngoại khoa lồng ngực – 
tim mạch, Nhà xuất bản Y học, Tp HCM, tr. 1-22. 
14. Nguyễn Quang Quyền (2006), "Xương 
ngực", Bài giảng giải phẫu học, Nhà xuất bản Y 
học, TP. Hồ Chí Minh, tr. 19-24. 
15. Hellberg K, de Vivie ER, Fuchs K, et 
al (1981), "Stabilization of flail chest by 
compression osteosynthesis—experimental and 
clinical results. ", Thorac Cardiovasc Surg. 29, tr. 
275-281. 

File đính kèm:

  • pdfchi_dinh_va_ky_thuat_dieu_tri_gay_xuong_suon_do_chan_thuong.pdf