Chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần

Mục tiêu nghiên cứu:

Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần.

Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

Chúng tôi hồi cứu mô tả cắt ngang 37 bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần tại Bệnh viện Ung Bướu từ

1/1/2015 đến 30/6/2017. Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm bệnh lý và nhân khẩu từ hồ sơ bệnh án và đánh giá

chất lượng sống thông qua phỏng vấn bệnh nhân bằng bảng câu hỏi WU - QOL.

Kết quả: Kết quả của câu hỏi về chất lượng sống chung: 32% rất tốt, 21% tốt, 37% trung bình, 8% kém, và

0% rất kém. Điểm số của câu hỏi về giao tiếp có điểm thấp nhất (59), trong khi điểm tổng của bảng câu hỏi

bằng 80/100. Xạ trị là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống qua 2 triệu chứng khô miệng (p=0,028) và hạn

chế hoạt động (p=0,034).

Kết luận: Sau cắt thanh quản toàn phần, kết quả của câu hỏi về chất lượng sống chung là thấp. Giới hạn

hoạt động và khô miệng là hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống có ý nghĩa trong nhóm bệnh nhân có xạ trị

pdf 4 trang phuongnguyen 640
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần

Chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần
ĐIỀU DƯỠNG - CHĔM SÓC GIẢM NHẸ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
424 
CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA BỆNH NHÂN 
SAU CẮT THANH QUẢN TOÀN PHẦN 
LÊ VĔN CƯỜNG1, HOÀNG QUỐC VIỆT2 
TÓM TẮT 
Mục tiêu nghiên cứu: 
Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần. 
Xác định các yếu tố liên quan đến chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần. 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 
Chúng tôi hồi cứu mô tả cắt ngang 37 bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần tại Bệnh viện Ung Bướu từ 
1/1/2015 đến 30/6/2017. Chúng tôi ghi nhận các đặc điểm bệnh lý và nhân khẩu từ hồ sơ bệnh án và đánh giá 
chất lượng sống thông qua phỏng vấn bệnh nhân bằng bảng câu hỏi WU - QOL. 
Kết quả: Kết quả của câu hỏi về chất lượng sống chung: 32% rất tốt, 21% tốt, 37% trung bình, 8% kém, và 
0% rất kém. Điểm số của câu hỏi về giao tiếp có điểm thấp nhất (59), trong khi điểm tổng của bảng câu hỏi 
bằng 80/100. Xạ trị là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống qua 2 triệu chứng khô miệng (p=0,028) và hạn 
chế hoạt động (p=0,034). 
Kết luận: Sau cắt thanh quản toàn phần, kết quả của câu hỏi về chất lượng sống chung là thấp. Giới hạn 
hoạt động và khô miệng là hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống có ý nghĩa trong nhóm bệnh nhân có xạ trị. 
ABSTRACT 
Quality of life of the patients following total laryngectomy 
Objectives of the study: 
1. To describe the quality of life of patients after total laryngectomy. 
2. To determine the factors related to quality of life of patients after total laryngectomy. 
The patients and methods: Patients: 37 patients after total laryngectomy at the Oncology Hospital from 
1/1/2015 to 30/6/2017. Study design: the Cross-sectional retrospective descriptive study. We recorded the 
demographic information and medical history from medical records and interviewed the patients to determine 
the quality of life through using the WU-QOL questionnaire. 
Results: As regards the overall QOL, 53% of our patients cited it as very good (32%) to good (21%). 
Patients identified speech (59/ 100) as the most important issues following total laryngectomy. While the mean 
(SD) composite score of the QOL in our series of patients with total laryngectomy was 80/100. We found the 
statistical differences in saliva (p=0,028) and activity (p=0,034) domains in relation to the radiotherapy. 
Conclusion: The overall QOL score in our series of TL patients was low. Limitation of activity and dry 
mouth were the factors that significantly affect the quality of life in patients with radiotherapy. 
Key words: Quality of life, Total laryngectomy, University of Washington Quality of Life Questionnaire. 
1
 ThS.BSCKII. Phó Trưởng Khoa Ngoại 3 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
2
 CNĐD - Điều dưỡng Trưởng Khoa Ngoại 3 - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần là một 
phương pháp điều trị tận gốc ung thư thanh quản. 
Tuy nhiên, phương pháp này để lại di chứng bao 
gồm: Rối loạn giao tiếp bằng giọng nói, rối loạn cảm 
giác mùi và nuốt. Trên bệnh nhân xạ trị còn phải chụi 
những biến chứng của xạ trị. Sự giảm chức nĕng 
này dẫn đến những hạn chế hoạt động, những cĕng 
ĐIỀU DƯỠNG - CHĔM SÓC GIẢM NHẸ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
425 
thẳng tâm lý và giảm chất lượng sống (CLS) của 
bệnh nhân. Ngày nay, CLS sau điều trị được 
xác định là một phần quan trọng trong chiến lược 
điều trị ung thư, là 1 phương pháp đánh giá hiệu quả 
điều trị. 
Hằng nĕm, bệnh viện Ung Bướu TP. Hồ Chí 
Minh tiến hành phẫu thuật cho khoảng 50 trường 
hợp cắt thanh quản toàn phần. Chất lượng sống của 
nhóm bệnh nhân này chưa được nghiên cứu. 
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xác 
định chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt thanh 
quản toàn phần với 2 mục tiêu: 
 Mô tả chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 
sau cắt thanh quản toàn phần. 
 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc 
sống của bệnh nhân sau cắt thanh quản toàn phần. 
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Tiêu chuẩn lựa chọn 
Bệnh nhân được cắt thanh quản toàn phần tại 
khoa Ngoại 3, BVUB từ 1/1/2015 đến 30/6/2017, còn 
đủ hồ sơ và liên lạc được. 
Tiêu chuẩn loại trừ 
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu. 
Bệnh nhân bị bệnh nặng hoặc đã mất. 
Thiết kế nghiên cứu 
Thiết kế hồi cứu, mô tả cắt ngang. 
Bảng câu hỏi về chất lượng cuộc sống 
Bảng câu hỏi về chất lượng cuộc sống của 
Đại học Washington (UW-QOL v4) gồm 3 phần: 
đặc điểm nhân khẩu học, chất lượng cuộc sống 
trong 7 ngày qua và câu hỏi chung. Mỗi câu hỏi 
bệnh nhân chọn trả lời từ 0 đến 100, với 100 điểm là 
điểm tốt nhất. Điểm tổng là trung bình cộng của 12 
câu hỏi trên. 
Bên cạnh đó, các thông tin như tuổi, giới tính, 
nghề nghiệp, trình độ vĕn hóa, tình trạng bệnh cũng 
như chẩn đoán, giai đoạn bệnh, phương pháp điều 
trị, bệnh lý kèm theo cũng được thu thập nhằm tìm 
hiểu mối liên quan đến chất lượng cuộc sống. 
Xử lý số liệu 
Các số liệu được kiểm tra, làm sạch, phân tích 
số liệu bằng phần mềm SPSS 21.0. 
KẾT QUẢ 
Đặc điểm nhóm nghiên cứu 
Trong thời gian nghiên cứu chúng tôi chọn ra 37 
ca đủ tiêu chuẩn. 
Bảng 1. Đặc điểm nhân khẩu học 
STT Đặc điểm Kết quả 
1 Tuổi Tuổi trung bình là 56,9 ± 8 
(khoảng tuổi 31-70) 
2 Giới tính Tỷ lệ Nam/Nữ là 35/2 
3 Trình độ vĕn hóa Số người 
Mù chữ 1 
Tiểu học, THCS 19 
THPH 15 
Đại học 2 
4 Tôn giáo Số người 
Không tôn giáo 22 
Đạo phật 9 
Thiên chúa giáo 5 
Đạo khác 1 
Bảng 2. Đặc điểm nghề nghiệp trước và sau mổ 
STT Đặc điểm Kết quả 
1 Nghề nghiệp Trước mổ Sau mổ 
Nông dân 20 6 
Nghề sử dụng giọng 
chuyên nghiệp 
1 0 
Nghề khác 12 5 
Không nghề 4 26 
2 Đổi nghề Số người 
Không đổi 11 
Đổi nghề 1 
Thất nghiệp 25 
Bảng 3. Đặc điểm Giai đoạn bệnh, GPBL 
và phương pháp mổ 
STT Đặc điểm Kết quả 
1 Giai đoạn bướu (T) Số người 
 T2 6 
 T3 21 
 T4 9 
 Tái phát 3 
ĐIỀU DƯỠNG - CHĔM SÓC GIẢM NHẸ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
426 
2 Giai đoạn N Số người 
 N0 28 
 N1 6 
 N2 2 
 N3 1 
3 Giải phẫu bệnh Số người 
 Carcinôm grad 1 32 
 Carcinôm grad 2 5 
4 Điều trị Số người 
 Cắt thanh quản toàn bộ 12 
 Cắt thanh quản toàn bộ kèm 
nạo vét hạch cổ 
9 
 Kết hợp cắt thanh quản toàn 
bộ + Xạ trị bổ túc 
16 
Kết quả thang điểm WU- QOL 
Trung vị thời gian từ khi mổ đến phỏng vấn là 
12 tháng. Kết quả của câu hỏi về chất lượng sống 
nói chung: rất tốt 32%, tốt 21%, trung bình 37%, kém 
8%, và rất kém 0%. 
Bảng 4. Bảng kết quả câu hỏi 
Đặc điểm Trung bình Độ lệch chuẩn 
Tình trạng đau 87 16 
Ngoại hình 82 21 
Hoạt động 77 20 
Vui chơi,giải trí 73 19 
Nuốt 89 14 
Nhai 87 12 
Lời nói 59 15 
Đau vai 89 14 
Vị giác 87 20 
Nước bọt 80 16 
Tinh thần 76 23 
Lo lắng 75 19 
Điểm tổng 80 10 
Các yếu tố liên quan 
Bảng 5. Tương quan giữa chất lượng sống và xạ trị, 
giai đoạn và tuổi 
Đặc điểm Xạ trị 
(t test) 
T 
(t test) 
Tuổi 
(tương quan 
pearson) 
Tình trạng đau 0,2 0,8 0,5 
Ngoại hình 0,4 0,1 0,2 
Hoạt động 0,034 0,5 0,9 
Vui chơi, giải trí 0,8 0,4 0,1 
Nuốt 0,7 0,3 0,054 
Nhai 0,3 0,9 0,5 
Lời nói 0,8 0,2 0,3. 
Đau vai 0,4 0,6 0,7 
Vị giác 0,4 0,9 0,1 
Nước bọt 0,028 0,7 0,07 
Tinh thần 0,08 0,5 0,4 
Lo lắng 0,9 0,9 0,5 
Điểm tổng 0.1 0,9 0,1 
Chất lượng sống 
nói chung 
0,1 0,4 0,5 
Trong 2 nhóm xạ trị và không xạ trị khô miệng 
và hạn chế hoạt động là các yếu tố khác biệt có ý 
nghĩa thống kê. 
BÀN LUẬN 
Có 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng lên chất lượng 
sống sau cắt thanh quản toàn phần, bao gồm nhóm 
các yếu tố truyền thống và nhóm chiến lược thích 
nghi với cuộc sống. Nhóm các yếu tố truyền thống 
bao gồm tuổi, giới, giai đoạn bệnh, phương pháp 
điều trị, phương pháp giao tiếp và cĕng thẳng tinh 
thần[2],[5],[8]. Nhóm chiến lược thích nghi cuộc sống 
gồm: (1) tìm kiếm và sử dụng sự trợ giúp của xã hội; 
(2) tập trung vào các điểm tích cực; (3) tránh xa các 
yếu tố tiêu cực; (4) vượt qua khó khĕn trong cuộc 
sống bằng tinh thần và (5) vượt qua khó khĕn trong 
cuộc sống bằng hành vi[3]. Trong nhiên cứu này 
chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng 
của các yếu tố truyền thống lên chất lượng sống sau 
cắt thanh quản toàn phần. 
Trong nghiên cứu này câu trả lời cho câu hỏi về 
chất lượng sống chung có kết quả thấp (53% là khá 
và tốt) khi so sánh với các tác giả khác[1],[4],[7] 
(khoảng 80%). Tuy nhiên chúng tôi tương đồng với 
các tác giả khác rằng câu hỏi về giao tiếp có kết quả 
điểm thấp nhất[1],[7]. Điều đó cho thấy giao tiếp sau 
mổ cắt thanh quản toàn phần là yếu tố then chốt 
trong chất lượng sống. Trong loạt nghiên cứu của 
chúng tôi đa số bệnh nhân (35/37 ca) giao tiếp bằng 
ĐIỀU DƯỠNG - CHĔM SÓC GIẢM NHẸ 
TẠP CHÍ UNG THƯ HỌC VIỆT NAM 
427 
chữ viết hay ngôn ngữ cơ thể và 2 ca giao tiếp bằng 
thanh quản điện tử nên điểm số trên là phù hợp. 
Trong các phương pháp giao tiếp sau mổ thì chữ 
viết và ngôn ngữ cơ thể là kém hiệu quả nhất. Để cải 
thiện chất lượng sống trong nhóm bệnh nhân này, 
có thể thay đổi phương pháp giao tiếp sau mổ bằng 
các phương pháp giao tiếp hiệu quả hơn như giọng 
thực quản hay khí thực quản. 
Theo một số nghiên cứu, chất lượng sống sau 
mổ liên quan yếu với giai đoạn bệnh, tuổi, giới, điều 
trị, phương pháp giao tiếp[6],[8] và cĕng thẳng tinh 
thần[6]. Tuy nhiên trong nghiên cứu này, trừ giao tiếp 
sau mổ, không có yếu tố nào liên quan lên chất 
lượng sống sau mổ. Chúng tôi không phân tích so 
sánh sự khác biệt giữa các phương pháp giao tiếp 
sau mổ và chất lượng sống vì trong mẫu nghiên cứu 
của chúng tôi phần lớn bệnh nhân (35/37) giao tiếp 
bằng chữ viết hay ngôn ngữ cơ thể. 
Trong nhóm có xạ trị khô miệng và giảm hoạt 
động là những than phiền nhiều nhất. Do vậy trong 
nhóm này chúng ta nên chú trọng can thiệp điều trị 
khô miệng và hỗ trợ cho bệnh nhân tham gia hoạt 
động nhiều hơn. 
KẾT LUẬN 
Sau cắt thanh quản toàn phần, kết quả của câu 
hỏi về chất lượng sống chung là thấp. Không có yếu 
tố nào trong các yếu tố sau: hạn chế trong giao tiếp, 
hạn chế hoạt động và những cĕng thẳng tinh thần, 
liên quan có ý nghĩa, mặc dù phương pháp giao tiếp 
sau mổ có điểm thấp. Giới hạn hoạt động và khô 
miệng là hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống 
có ý nghĩa trong nhóm bệnh nhân có xạ trị. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Baioni, Brooke L., (2017), "Quality of Life after 
Total Laryngectomy". Rehabilitation, Human 
Resources and Communication Disorders, 
Undergraduate Honors Theses. 52. 
2. De Graeff A, de Leeuw JR, Ros WJ, Hordijk GJ, 
Blijham GH, Winnubst JA. (2000), “Pretreatment 
factors predicting quality of life after treatment for 
head and neck cancer”. Head Neck. 22:398-407. 
3. Dunkel-Schetter C, Feinstein LG, Taylor SE, 
Falke RL. (1992), “Patterns of coping with 
cancer”. Health Psychol, 11:79-87. 
4. Kazi J R., De Cordova (2007), “Quality of Life 
following Total Laryngectomy: Assessment 
Using the UW-QOL Scale”. ORL; 69:100-106. 
5. Lewellyn CD, McGurk M, Weinman J. (2005), 
“Are psycho-social and behavioural factors 
related to health related-quality of life in patients 
with head and neck cancer? A systematic 
review”. Oral Oncol. 41:440-454. 
6. Perry A., Casey E. and Cotton S., (2015), 
“Quality of life after total laryngectomy: 
functioning, psychological well-being and self-
efficacy”. INT J Lang Commun Disord, 50 (4), 
467- 475. 
7. Tanya L. E., Brianne C. Bowker, M.S. (2012), 
“Coping and Quality of Life After Total 
Laryngectomy”. Otolaryngol Head Neck Surg. 
146(6):959-65. 
8. Vilaseca I, Chen AY, Backscheider AG., (2006), 
“Long-term quality of life after total 
laryngectomy”. Head Neck. 28:313-320. 

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_song_cua_benh_nhan_sau_cat_thanh_quan_toan_phan.pdf