Chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, năm 2020

Đặt vấn đề: Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém là một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng, với chi phí điều

trị mất ngủ tăng cao, giảm năng suất làm việc, sự tập trung và giảm chất lượng cuộc sống, đặc biệt là ở phụ nữ

50-65 tuổi. Tuy nhiên, tại Việt Nam có ít nghiên cứu về vấn đề này và chưa có nghiên cứu nào tiến hành tại

thành phố Vũng Tàu.

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố

Vũng Tàu.

Đối tượng - Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào tháng 9/2020 trên 395 phụ nữ

từ 50-65 tuổi đang sinh sống tại thành phố Vũng Tàu. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bằng bộ

câu hỏi Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) để đánh giá CLGN của những người tham gia. CLGN

kém được định nghĩa là điểm PSQI>5.

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, năm 2020

Chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, năm 2020
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 168 
CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ KÉM VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
Ở PHỤ NỮ 50-65 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, NĂM 2020 
Nguyễn Thị Mỹ Châu1, Diệp Từ Mỹ1, Phạm Thị Thu Hiền2 
TÓM TẮT 
Đặt vấn đề: Chất lượng giấc ngủ (CLGN) kém là một mối quan tâm sức khỏe cộng đồng, với chi phí điều 
trị mất ngủ tăng cao, giảm năng suất làm việc, sự tập trung và giảm chất lượng cuộc sống, đặc biệt là ở phụ nữ 
50-65 tuổi. Tuy nhiên, tại Việt Nam có ít nghiên cứu về vấn đề này và chưa có nghiên cứu nào tiến hành tại 
thành phố Vũng Tàu. 
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố 
Vũng Tàu. 
Đối tượng - Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện vào tháng 9/2020 trên 395 phụ nữ 
từ 50-65 tuổi đang sinh sống tại thành phố Vũng Tàu. Dữ liệu được thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bằng bộ 
câu hỏi Chỉ số Chất lượng Giấc ngủ Pittsburgh (PSQI) để đánh giá CLGN của những người tham gia. CLGN 
kém được định nghĩa là điểm PSQI>5. 
Kết quả: Tỉ lệ CLGN kém ở phụ nữ từ 50-65 tuổi tại thành phố Vũng Tàu năm 2020 là 48,4%, điểm CLGN 
trung bình là 6,02 ± 3,96. Mô hình hồi quy đa biến cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa CLGN 
kém và trình độ học vấn thấp (PR = 1,78; KTC 95%: 1,36-2,34 ở phụ nữ biết đọc biết viết/mù chữ), tình trạng 
hôn nhân (PR = 1,56; KTC 95%: 1,19-2,05 ở nhóm ly hôn/ly thân) và mắc bệnh mãn tính (PR = 1,56; KTC 95%, 
1,36-2,34). 
Kết luận: CLGN kém là vấn đề phổ biến ở phụ nữ từ 50-65 tuổi, đây là vấn đề sức khỏe y tế công cộng cần 
được quan tâm để cải thiện chất lượng cuộc sống. Y tế địa phương cần có các chính sách chăm sóc sức khỏe nhiều 
hơn với nhóm phụ nữ này đặc biệt là người có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp hoặc tình 
trạng gia đình ly thân/ly dị sống một mình. 
Từ khóa: chất lượng giấc ngủ, phụ nữ, mãn kinh, tiền mãn kinh 
ABSTRACT 
POOR SLEEP QUALITY AND ITS ASSOCIATED FACTORS AMONG 50-65 YEARS OLD WOMAN 
IN VUNG TAU CITY IN 2020 
Nguyen Thi My Chau, Diep Tu My, Pham Thi Thu Hien 
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol. 25 - No. 2 - 2021: 168 - 174 
Background: Poor sleep quality is a public health concern, especially in 50-65 years old women. Its increased 
the costs of insomnia treatment, reduced the productivity, concentration, and reduced the quality of life. However, 
there are few studies on this issue in Vietnam and there has been no research conducted in Vung Tau city. 
Objectives: To investigate the prevalence of poor sleep quality and its associated factors among 50-65 years 
old women in Vung Tau city. 
Methods: We conducted a cross-sectional survey in September 2020 and recruited 395 women who were 
aged 50-65 years and living in Vung Tau city. Face to face interviews that used the Pittsburgh Sleep Quality 
Index (PSQI) questionnaire to assess the sleep quality of the participants. Poor sleep quality was defined as a 
PSQI score>5. 
1Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh 2Trung tâm Y tế Thành phố Vũng Tàu 
Tác giả liên lạc: TS. Diệp Từ Mỹ ĐT: 0903999893 Email: [email protected] 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 169 
Results: The prevalence of poor sleep quality among 50-65 years old women in Vung Tau city in 2020 is 
48.4%, the mean PSQI score is 6.02 ± 3.96. Multiple regression analysis indicated that a lower education level 
(PR=1.78; 95% CI: 1.36-2.34 for illiteracy/literacy), marital status (PR=1.56; 95% CI: 1.19-2.05 for 
divorce/separated), and having a chronic disease (PR=1.56; 95% CI: 1.36-2.34) were significantly associated with 
poor sleep quality. 
Conclusions: Poor sleep quality is a common problem among 50-65 years old women, this is a public health 
issue that needs to pay more attention in order to improve their quality of life. Local healthcare providers should 
focus on this group of women, especially those with difficult family circumstances, low education levels or 
separated/divorced families or living alone. 
Keywords: sleep quality, women, menopause, perimenopause 
ĐẶT VẤN ĐỀ 
Giấc ngủ là một hoạt động cần thiết của cơ 
thể con người giúp duy trì sự sống. Chất lượng 
giấc ngủ (CLGN) là sự hài lòng của một người 
sau khi trải qua giấc ngủ, được đánh giá nhiều 
qua các khía cạnh như việc bắt đầu ngủ, duy trì 
giấc ngủ, thời gian ngủ và tình trạng sức khỏe 
khi thức giấc. CLGN kém có thể khiến ta cảm 
thấy kiệt sức vào ngày hôm sau và thậm chí ảnh 
hưởng đến tâm trí của con người. Ngược lại, 
giấc ngủ chất lượng tốt có thể cải thiện tâm trạng 
nhiều hơn thời lượng ngủ vì giấc ngủ không bị 
gián đoạn cho phép ta có được giấc ngủ phục 
hồi tối ưu. Giấc ngủ có chất lượng tốt sẽ giúp 
tăng khả năng ghi nhớ, học tập, sáng tạo, giải 
quyết vấn đề, kiểm soát cảm xúc và hành vi. 
CLGN kém là một mối quan tâm sức khỏe cộng 
đồng, với chi phí điều trị mất ngủ tăng cao, giảm 
năng suất làm việc, sự tập trung và giảm chất 
lượng cuộc sống mang lại gánh nặng rất lớn. 
Trong các vấn đề về sức khỏe tinh thần thì rối 
loạn giấc ngủ là vấn đề khá phổ biến và là một 
trong những lý do chính để phụ nữ mãn kinh 
tìm đến bác sĩ và sử dụng thuốc an thần. Nhiều 
nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy khoảng một 
phần ba người trưởng thành và 40-60% phụ nữ 
trong giai đoạn mãn kinh có CLGN kém(1,2,3,4). 
Nghiên cứu tại thành phố Huế (2017) đã chỉ ra 
rằng có tới 60% phụ nữ mãn kinh có rối loạn giấc 
ngủ và ngủ kém về đêm(5). Bên cạnh đó, nghiên 
cứu tại Tuy Phước, Bình Định còn cho thấy tỉ lệ 
CLGN kém rất cao ở phụ nữ 50-59 tuổi (57,7%)(6). 
Cùng với sự gia tăng dân số trên toàn thế giới, 
tuổi thọ của con người ngày càng gia tăng và 
phụ nữ chiếm số đông hơn vì tuổi thọ cao hơn. 
Theo kết quả điều tra của Tổng Cục Thống kê 
Việt Nam, tỉ lệ phụ nữ từ 50 đến dưới 65 tuổi đã 
gia tăng từ 11,8% (2009) lên 14,24% (2014) trong 
tổng số nữ giới(7). 
Thành phố Vũng Tàu là một đô thị phát triển 
với hệ thống y tế vững mạnh đảm bảo chăm sóc 
tốt cho sức khỏe người dân. Tại đây, phụ nữ 
mãn kinh cũng khá được quan tâm, thường 
xuyên tổ chức các buổi nói chuyện, cung cấp 
kiến thức, kỹ năng sống và bổ sung nội tiết tố. 
Tuy nhiên, tỉ lệ phụ nữ bước vào giai đoạn mãn 
kinh cũng ngày càng tăng cao. Vì vậy, rất cần 
thiết có các nghiên cứu tìm hiểu vấn đề sức khỏe 
trên nhóm đối tượng này, đặc biệt là về CLGN. 
Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện nhằm xác 
định tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém và các yếu tố 
liên quan ở phụ nữ 50-65 tuổi tại thành phố 
Vũng Tàu năm 2020. 
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
Đối tượng nghiên cứu 
Nghiên cứu thực hiện trên phụ nữ từ 50-65 
tuổi đang sinh sống tại Thành phố Vũng Tàu 
vào tháng 09/2020. 
Phương pháp nghiên cứu 
Thiết kế nghiên cứu 
Nghiên cứu cắt ngang. 
Cỡ mẫu 
Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng 
một tỉ lệ, dựa trên trị số mong muốn của tỉ lệ 
(theo nghiên cứu của Monterrosa-Castro A với tỉ 
lệ CLGN kém là 57,1%(8)), trị số từ phân phối 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 170 
chuẩn Z0,975 =1,96; xác suất sai lầm loại I (α=0,05), 
để có độ chính xác 95%, chọn sai số cho phép 
d=0,06; hệ số thiết kế k=1,5. Cỡ mẫu cần lấy là 
392 (người). 
Kỹ thuật và tiêu chí chọn mẫu 
Mẫu được chọn bằng kỹ thuật chọn mẫu 
cụm nhiều bậc, với đơn vị cụm là phường, chọn 
ngẫu nhiên 6 phường trong tổng số 16 phường. 
Số lượng mẫu cần lấy tại mỗi phường được tính 
dựa trên dân số của phường đó. Lấy mẫu ngẫu 
nhiên đơn dựa trên danh sách phụ nữ từ 50-65 
tuổi của cán bộ dân số, nếu đối tượng không có 
mặt tại thời điểm điều tra thì bỏ qua và tiếp tục 
đến đối tượng tiếp theo cho đến khi đủ số lượng 
mẫu. Với hộ gia đình có nhiều hơn 1 người ở 
trong độ tuổi 50-65 tuổi phù hợp tiêu chí chọn 
vào thì chỉ lấy ngẫu nhiên 1 mẫu. Nghiên cứu 
viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu 
hỏi soạn sẵn. 
Công cụ thu thập số liệu 
Bộ câu hỏi bao gồm các đặc điểm về dân số 
xã hội, tiền sử sức khỏe sinh sản, vận động thể 
lực và CLGN. 
Chất lượng giấc ngủ được đánh giá bằng bộ 
công cụ PSQI (Pittsburgh Sleep Quality Index) là 
một bảng câu hỏi tự đánh giá về chất lượng và 
rối loạn giấc ngủ trong khoảng thời gian 1 tháng. 
Bao gồm 19 mục tạo ra 7 thành phần: “CLGN 
chủ quan”, “độ trễ giấc ngủ”, “thời gian ngủ”, 
“hiệu quả giấc ngủ theo thói quen”, “rối loạn 
giấc ngủ”, “sử dụng thuốc ngủ” và “rối loạn 
hoạt động chức năng ban ngày”. Mỗi mục được 
cho điểm từ 0-3 theo cảm nhận của người trả lời. 
Tổng số điểm cho 7 thành phần này là một tổng 
điểm chung (từ 0 đến 21 điểm)(9). 
PSQI phiên bản tiếng Việt là một công cụ 
đáng tin cậy và có thể được sử dụng để sàng 
lọc bệnh nhân rối loạn giấc ngủ hoặc sàng lọc 
cộng đồng. Tổng hệ số Cronbach alpha là 
0,789(10), cho thấy một sự nhất quán nội bộ tốt. 
CLGN kém được định nghĩa là điểm PSQI>5. 
Tại điểm cắt là 5, độ nhạy và độ đặc hiệu lần 
lượt là 87,76% và 75%, với diện tích dưới 
đường cong ROC là 0,7583(10). 
Phân tích dữ liệu 
Sử dụng tỉ lệ để tóm tắt dữ liệu. Các kiểm 
định Chi bình phương và Fisher được dùng 
khi thích hợp để xác định mối liên quan giữa 
các yếu tố với CLGN kém. Mức p <0,05 được 
xem là có ý nghĩa thống kê. Mô hình hồi quy 
đa biến gồm những biến số có mối liên quan 
có ý nghĩa thống kê (p <0,05) với CLGN kém, 
và các biến số có p <0,2 hoặc theo y văn là có 
mối liên quan. 
Y đức 
Nghiên cứu này được thông qua bởi Hội 
đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Đại 
học Y Dược TP. HCM, số 342/ĐHYD-HĐĐĐ, 
ngày 18/5/2020. 
KẾT QUẢ 
Nghiên cứu của chúng tôi sau khi phỏng vấn 
đã thu về 398 phiếu. Sau khi kiểm tra, loại ra 3 
trường hợp không đạt yêu cầu gồm: 1 trường 
hợp có vấn đề về thần kinh (do người nhà khai 
báo đã được bác sĩ chẩn đoán bệnh), 2 trường 
hợp không hoàn thành bộ câu hỏi. Tại thời điểm 
nghiên cứu, có 395 phiếu khảo sát đủ tiêu chuẩn 
đưa vào phân tích (đạt 99,2%). 
Bảng 1: Các đặc điểm dân số - xã hội của mẫu nghiên 
cứu (n=395) 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) 
Tuổi (trung bình±độ lệch chuẩn) 57,1±5,1 
Nhóm tuổi 
50-54 tuổi 144 36,5 
55-59 tuổi 104 26,3 
60-65 tuổi 147 37,2 
Nghề nghiệp 
CCVC/NVVP 17 4,3 
Công nhân/Nông dân 12 3,0 
Buôn bán 125 31,7 
Nội trợ/thất nghiệp/hưu trí 205 51,9 
Nghề tự do/Khác 36 9,1 
Trình độ học vấn 
Biết đọc biết viết/Mù chữ 53 13,4 
Tốt nghiệp tiểu học 119 30,2 
Tốt nghiệp THCS 128 32,4 
Tốt nghiệp THPT 68 17,2 
Tốt nghiệp TC/CĐ/ĐH/SĐH 27 6,8 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 171 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) 
Tình trạng hôn nhân 
Đang có chồng 283 71,7 
Độc thân 36 9,1 
Ly thân/ly dị 17 4,3 
Góa chồng 59 14,9 
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 
57,1±5,1 tuổi, trong đó nhóm tuổi 60-65 và 50-54 
tuổi chiếm tỉ lệ cao lần lượt là 37,2% và 36,5%. 
Phần lớn phụ nữ làm công việc nội trợ (51,9%). 
Phụ nữ hiện đang sống với chồng chiếm đa số 
(71,7%). Hơn 1/2 phụ nữ trong nghiên cứu có 
nghề nghiệp nội trợ/hưu trí (51,9%) (Bảng 1). 
Bảng 1: Tiền sử sức khỏe sinh sản của mẫu nghiên 
cứu (n=395) 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) 
BMI (trung bình±độ lệch chuẩn) 22,8 ± 3,1 
Tình trạng dinh dưỡng 
Nhẹ cân 24 6,1 
Bình thường 295 74,7 
Thừa cân 66 16,7 
Béo phì 10 2,5 
Có bệnh mãn tính kèm theo 228 57,7 
Tăng huyết áp 105 26,6 
Đái tháo đường 38 9,6 
Tim mạch 23 5,8 
Tiền sử sảy thai/hút thai 104 26,3 
Tiền sử sinh mổ 77 19,5 
Số con hiện có 
0 35 8,9 
1-2 222 56,2 
≥3 con 138 34,9 
Số lần mang thai 
0 29 7,34 
1-4 321 81,3 
≥5 45 11,4 
Mãn kinh 332 84,1 
Thời gian mãn kinh (n=332) 
<5 năm 88 26,5 
5-10 năm 129 38,9 
>10 năm 115 34,6 
Đặc điểm Tần số Tỷ lệ (%) 
Khám phụ khoa trong 12 tháng gần 
đây 
109 27,6 
Thời gian khám (n=109) 
< 1 tháng 4 3,7 
1-<3 tháng 4 3,7 
3- <6 tháng 24 22,0 
6-12 tháng 77 70,6 
Đa số phụ nữ tham gia có tình trạng dinh 
dưỡng bình thường (74,7%) với BMI trung bình 
là 22,8 ± 3,1 kg/m2. Có đến 57,7% phụ nữ trong 
độ tuổi này mắc ít nhất là 1 bệnh mãn tính, trong 
đó, bệnh thường hay gặp nhất là tăng huyết áp 
(26,6%). Có 84,1% phụ nữ đã mãn kinh – không 
còn kinh nguyệt trong 12 tháng qua. Tuy nhiên, 
chỉ có 27,6% phụ nữ đã từng đi khám phụ khoa 
trong 12 tháng qua (Bảng 2). 
Bảng 3 trình bày tỉ lệ CLGN kém (điểm 
PSQI>5) ở phụ nữ từ 50-65 tuổi tại TP. Vũng Tàu. 
Trong 395 phụ nữ tham gia khảo sát, có 191 
người có CLGN kém, chiếm 48,4% (KTC 95%: 
43,3% - 53,4%). 
Bảng 3: Tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém ở phụ nữ từ 
50-65 tuổi (n=395) 
Chất lượng giấc ngủ kém Tần số Tỷ lệ (%) 
Có 191 48,4 
Không 204 51,6 
Các yếu tố liên quan với CLGN kém 
Kết quả phân tích ở Bảng 4 cho thấy CLGN 
kém có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với 
trình độ học vấn (p <0,001) và tình trạng hôn 
nhân (p=0,011) của đối tượng nghiên cứu. 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
CLGN kém và có bệnh mãn tính kèm theo, tiền 
sử sảy thai/hút thai, số con hiện có, số lần mang 
thai, tình trạng khám phụ khoa trong 12 tháng 
qua và có tham gia thể dục thể thao với mức ý 
nghĩa p <0,05 (Bảng 5). 
Bảng 4: Mối liên quan giữa CLGN kém với các đặc điểm dân số - xã hội 
Đặc điểm 
CLGN kém n (%) 

2
 P 
Có (n=191) Không (n=204) 
Nhóm tuổi 
50-54 65 (34,0) 79 (38,7) 
1,034 0,596 55-59 51 (29,8) 53 (26,0) 
60-65 75 (36,2) 72 (35,3) 
Nghề nghiệp 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 172 
Đặc điểm 
CLGN kém n (%) 

2
 P 
Có (n=191) Không (n=204) 
Nội trợ/thất nghiệp/hưu trí 113 (59,2) 92 (45,1) 
9,039 0,060 
Buôn bán 54 (28,3) 71 (34,8) 
Công chức viên chức/Nhân viên văn phòng 5 (2,6) 12 (5,9) 
Công nhân/Nông dân 5 (2,6) 7 (3,4) 
Nghề tự do/Khác 14 (7,3) 22 (10,8) 
Trình độ học vấn 
Biết đọc biết viết/Mù chữ 40 (20,9) 13 (6,4) 
30,555 <0,001 
Tiểu học 64 (33.5) 55 (27,0) 
Trung học cơ sở 51 (26,7) 77 (37,7) 
Trung học phổ thông 31 (16,2) 37 (18,1) 
Trung cấp/Cao đẳng/Đại học/Sau đại học 5 (2,7) 22 (10,8) 
Tình trạng hôn nhân 
Đang có chồng 127 (66,5) 156 (76,5) 
11,185 0,011 
Độc thân 15 (7,9) 21 (10,3) 
Ly thân/ly dị 13 (6,8) 4 (1,9) 
Góa chồng 36 (18,8) 23 (11,3) 
Bảng 5: Mối liên quan giữa CLGN kém với tiền sử sức khỏe sinh sản và tình trạng vận động thể lực 
Đặc điểm 
CLGN kém n (%) 

2
 P 
Có (n=191) Không (n=204) 
Bệnh mãn tính kèm theo 
Có 132 (69,1) 96 (47,1) 
19,655 <0,001 
Không 59 (30,9) 108 (52,9) 
Tiền sử sảy thai/hút thai 
Có 59 (30,9) 45 (22,1) 
3,966 0,046 
Không 132 (69,1) 159 (77,9) 
Số con hiện có 
0 15 (7,9) 20 (9,8) 
11,818 0,003 1-2 con 93 (48,7) 129 (63,2) 
≥3 con 83 (43,4) 55 (27,0) 
Số lần mang thai 
0 13 (6,8) 16 (7,8) 
12,690 0,002 1-4 145 (75,9) 176 (86,3) 
≥5 33 (17,3) 12 (5,9) 
Tình trạng mãn kinh 
Mãn kinh 167 (87,4) 165 (80,9) 
3,159 0,076 
Chưa mãn kinh 24 (12,6) 39 (19,1) 
Khám phụ khoa trong 12 tháng gần đây 
Có 43 (22,5) 66 (32,4) 
4,780 0,029 
Không/không nhớ 148 (77,5) 138 (67,6) 
Di chuyển bằng xe đạp/đi bộ 
Có (n=149) 79 (27,7) 70 (34,3) 
2,086 0,149 
Không (n=246) 112 (72,3) 134 (65,7) 
Tham gia thể dục thể thao 
Có (n=192) 80 (41,9) 112 (61,5) 
6,691 0,010 
Không (n=203) 111 (58,1) 92 (38,5) 
Mô hình hồi quy đa biến (Bảng 6) cho thấy có 
mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa CLGN 
kém và trình độ học vấn thấp (PR=1,78; KTC 
95%: 1,36-2,34 ở phụ nữ biết đọc biết viết/mù 
chữ), tình trạng hôn nhân (PR=1,56; KTC 95%: 
1,19-2,05 ở nhóm ly hôn/ly thân) và mắc bệnh 
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 173 
mãn tính (PR=1,56; KTC 95%: 1,36-2,34). 
Bảng 6: Mô hình hồi quy đa biến 
Đặc điểm P* PR (KTC 95%) 
Trình độ học vấn 
Biết đọc biết viết/Mù chữ 0,001 1,78 (1,36-2,34) 
Tốt nghiệp THCS 1,00 
Tình trạng hôn nhân 
Ly thân/ly dị 0,001 1,56 (1,19-2,05) 
Đang có chồng 1,00 
Bệnh mãn tính kèm theo <0,001 1,56 (1,36-2,34) 
*Hồi quy Poisson 
BÀN LUẬN 
Tỉ lệ chất lượng giấc ngủ kém 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỉ lệ 
CLGN kém (PSQI >5) ở phụ nữ 50-65 tuổi là 
48,4%. Tỉ lệ này thấp hơn so với ở phụ nữ 
Tehran (62,5%)(11), Colombia (57,1%)(8), Quaen 
(56,3%)(3), Trung Quốc (73,1% ở phụ nữ mãn 
kinh; 60,8% ở phụ nữ tiền mãn kinh)(2). Tuy 
nhiên, lại cao hơn so với kết quả của nghiên cứu 
tại Argentina (46,7%)(12), Mỹ - La tinh (46,2%)(1) 
và Hàn Quốc (18,2% phụ nữ tiền mãn kinh và 
30,2% mãn kinh)(13). Nhìn chung, phụ nữ trong 
nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ CLGN kém 
thấp hơn so với một số nước nghèo như Iran và 
cao hơn so với các nước kinh tế phát triển, có hệ 
thống y tế y tế tốt như Hàn Quốc, Mỹ-Latinh. 
Các yếu tố liên quan đến CLGN kém 
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên 
quan giữa CLGN kém và trình độ học vấn. Kết 
quả này tương tự với kết quả từ các nghiên cứu 
tại Tehran(11), Mỹ - Latinh(1), Hàn Quốc(13) và 
Thượng Hải(4). Những người có trình độ học vấn 
thấp hơn có thể kém tiếp cận với dịch vụ chăm 
sóc y tế tối ưu và có lối sống có thể không tốt 
dẫn đến tình trạng sức khỏe tổng thể kém hơn. 
Điều này làm cho giấc ngủ của họ tệ hơn so với 
những người có trình độ học vấn cao. Nghề 
nghiệp cũng được tìm thấy mối liên quan với 
CLGN kém. Kết quả này khác với nghiên cứu tại 
Hàn Quốc(13) và có tương đồng với nghiên cứu 
tại Tehran(11). Tại Tehran cũng cho thấy phụ nữ 
nội trợ có CLGN kém cao hơn so với nhóm nông 
dân. Điều này có thể lý giải vì trong nghiên cứu 
của chúng tôi tỉ lệ nội trợ và buôn bán chiếm đa 
số, tỉ lệ nông dân/công nhân hay công viên chức 
lại quá ít nên có thể chưa tìm ra mối liên quan. 
Nghiên cứu của chúng tôi tìm thấy mối 
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa CLGN kém 
và có bệnh mãn tính kèm theo. Điều này phù 
hợp với các nghiên cứu trước đây ở Mỹ - 
Latinh(1), Thổ Nhĩ Kỳ(14), Trung Quốc(4,15,16), 
Colombia(8). Những phụ nữ mắc bệnh mãn 
tính có tỉ lệ CLGN kém cao hơn so với phụ nữ 
không mắc, có thể do ảnh hưởng của đau, lo 
lắng, trầm cảm khiến họ không thoải mái khi 
ngủ hoặc do tác dụng của thuốc. 
Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa 
CLGN kém và tiền sử sinh sản. Phụ nữ đã từng 
sảy thai/hút thai, số lần mang thai 1-4 lần và đã 
có con thì có CLGN kém cao hơn. Điều này có 
thể tại Việt Nam phụ nữ có nhiều con thì cần 
phải lo lắng nhiều hơn cho con, mặt khác, sinh 
nhiều con cũng tương tự như mang thai nhiều 
lần cũng có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe, 
dẫn đến CLGN kém hơn. 
Kết quả nghiên cứu còn cho thấy có mối liên 
quan giữa CLGN kém và tham gia thể dục thể 
thao. Phụ nữ không tham gia thể dục thể thao có 
tỉ lệ CLGN kém cao hơn so với những phụ nữ có 
tham gia. Kết quả này phù hợp với các nghiên 
cứu trước đây như Tây Ban Nha(17), Hàn Quốc (13), 
Trung Quốc(15). Phụ nữ ít vận động thể lực hoặc 
không tham gia thể dục thể thao có CLGN kém 
hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Quaen lại không 
tìm thấy mối liên quan, điều này có thể là do tỉ lệ 
không tham gia thể dục chiếm đa số nên chưa 
tìm thấy mối liên quan (84%)(3). 
Sau khi loại bỏ những yếu tố gây nhiễu bằng 
mô hình hồi quy đa biến cho thấy bệnh mãn 
tính, tình trạng hôn nhân ly thân/ly dị và trình 
độ học vấn biết đọc biết viết/mù chữ là các yếu 
tố có liên quan với CLGN kém. Điều này cho 
thấy bệnh mãn tính là yếu tố nguy cơ có liên 
quan đến CLGN kém. Những phụ nữ ở độ tuổi 
này có tỉ lệ mắc bệnh cao, ảnh hưởng đến sức 
khỏe, tinh thần và chất lượng cuộc sống, từ đó 
làm ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ của họ. 
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 25 * Số 2 * 2021 Nghiên cứu Y học 
Chuyên Đề Y Tế Công Cộng 174 
Điều này cho thấy sự quan trọng của chăm sóc y 
tế có ảnh hưởng rất lớn đến CLGN ở phụ nữ từ 
50-65 tuổi. Những phụ nữ có tình trạng hôn 
nhân gia đình ly thân/ly dị thường bị ảnh hưởng 
đến tinh thần và cảm xúc khiến họ lo âu, thiếu 
sự quan tâm chia sẽ từ người bạn đời. Vì vậy, 
giấc ngủ của họ có thể không được tốt, đây là 
nhóm đối tượng cần được chăm sóc về mặt tâm 
lý và động viên tinh thần. Những phụ nữ có 
trình độ học vấn thấp thường là những người có 
hoàn cảnh kinh tế khó khăn từ trước nên không 
có điều kiện đi học, cơ hội tìm kiếm việc làm và 
mức thu nhập cũng sẽ thấp hơn. Cuộc sống có 
nhiều lo âu và ít có cơ hội tìm hiểu và tiếp cận 
các dịch vụ y tế, giải trí. Từ đó, thể chất và tinh 
thần sẽ kém hơn so với phụ nữ có trình độ học 
vấn cao. Vì vậy, giấc ngủ cũng có thể bị ảnh 
hưởng. 
KẾT LUẬN 
Tỉ lệ CLGN kém ở phụ nữ từ 50-65 tuổi là 
khá cao, đây là vấn đề sức khỏe y tế công cộng 
cần được quan tâm để cải thiện chất lượng cuộc 
sống cho nhóm đối tượng này. Các yếu tố liên 
quan đến CLGN kém bao gồm với trình độ học 
vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, có bệnh 
mãn tính kèm theo, tiền sử sảy thai/hút thai, số 
lần mang thai, số con hiện có, tình trạng khám 
phụ khoa trong 12 tháng qua, tham gia thể dục 
thể thao. Vì vậy, cần tăng cường khuyến khích 
phụ nữ ở độ tuổi này đến thăm khám thường 
xuyên. Y tế địa phương cần có các chính sách 
chăm sóc sức khỏe nhiều hơn với nhóm phụ nữ 
này đặc biệt là người có hoàn cảnh gia đình khó 
khăn, trình độ học vấn thấp hoặc tình trạng gia 
đình ly thân/ly dị sống một mình. Chúng ta cần 
có các chương trình hỗ trợ về mặt y tế và động 
viên tinh thần để họ có thể được chăm sóc một 
cách tốt nhất. Khuyến khích người dân tham gia 
thể dục thể thao, tạo điều kiện để người dân 
tham gia vào các không gian chung như tập 
dưỡng sinh tại công viên, lắp đặt các máy tập 
đơn giản nơi công cộng. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Blümel JE, Cano A, Mezones-Holguín E, et al (2012). A 
multinational study of sleep disorders during female mid-life. 
Maturitas, 72(4):359-366. 
2. Hung HC, Lu FH, Ou HY, et al (2014). Menopause is associated 
with self-reported poor sleep quality in women without 
vasomotor symptoms. Menopause, 21(8):834-839. 
3. Moudi A, Dashtgard A, Salehiniya H, et al (2018). The 
relationship between health-promoting lifestyle and sleep 
quality in postmenopausal women. BioMedicine, 8(2):11. 
4. Wu W, Jiang Y, Wang N, et al (2020). Sleep quality of Shanghai 
residents: population-based cross-sectional study. Quality of Life 
Research, 29(4):1055-1064. 
5. Nguyễn Đình Phương Thảo (2017). Nghiên cứu các rối loạn 
chức năng ở phụ nữ mãn kinh tại Thành phố Huế và hiệu quả 
của một số biện pháp điều trị. Luận án Tiến sĩ Y học, chuyên 
ngành Sản Phụ Khoa, Trường đại học Y Dược Huế. 
6. Phạm Lê Thị Thanh Trúc, Huỳnh Ngọc Vân Anh (2019). Trầm 
cảm, chất lượng giấc ngủ và các yếu tố liên quan ở phụ nữ tuổi 
mãn kinh tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. 
Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23(5):252-259. 
7. Tổng Cục Thống Kê (2016). Điều tra dân số và nhà ở 2014 - Cơ 
cấu tuổi, giới tính và một số vấn đề kinh tế - xã hội ở Việt Nam. 
8. Monterrosa-Castro A, Marrugo-Flórez M, Romero-Pérez I, et al 
(2013). Assessment of sleep quality and correlates in a large 
cohort of Colombian women around menopause. Menopause, 
20(4):464-469. 
9. Buysse DJ, Reynolds CF, Monk TH, et al (1989). The Pittsburgh 
sleep quality index: A new instrument for psychiatric practice 
and research. Psychiatry Research, 28(2):193-213. 
10. To MN, Nguyen DN (2015). Validity of the Vietnamese version 
of the Pittsburgh sleep quality index. Sleep Medicine, 16(1):52. 
11. Taavoni S, Ekbatani NN, Haghani H, et al (2015). 
Postmenopausal Women's Quality of Sleep and its Related 
Factors. Journal of Mid-Life Health, 6(1):21-25. 
12. Valiensi SM, Belardo MA, Pilnik S, et al (2019). Sleep quality and 
related factors in postmenopausal women. Maturitas, 123:73-77. 
13. Kim MJ, Yim G, Park HY (2018). Vasomotor and physical 
menopausal symptoms are associated with sleep quality. PloS 
ONE, 13(2):e0192934. 
14. Timur S, Sahin NH (2009). Effects of sleep disturbance on the 
quality of life of Turkish menopausal women: A population-
based study. Maturitas, 64(3):177-181. 
15. Zhang HS, Li Y, Mo HY, et al (2017). A community-based cross-
sectional study of sleep quality in middle-aged and older adults. 
Quality of Life Research, 26(4):923-933. 
16. Zhang YS, Jin Y, Rao WW, et al (2020). Prevalence and socio-
demographic correlates of poor sleep quality among older 
adults in Hebei province, China. Scientific Reports, 10(1):12266. 
17. Rubio-Arias JÁ, Marín-Cascales E, Ramos-Campo DJ, et al 
(2017). Effect of exercise on sleep quality and insomnia in 
middle-aged women: A systematic review and meta-analysis of 
randomized controlled trials. Maturitas, 100:49-56. 
Ngày nhận bài báo: 16/11/2020 
Ngày nhận phản biện nhận xét bài báo: 01/02/2021 
Ngày bài báo được đăng: 10/03/2021 

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_giac_ngu_kem_va_cac_yeu_to_lien_quan_o_phu_nu_50.pdf