Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới (STMMTCD) là vấn đề toàn cầu. Bệnh ảnh hưởng lớn lên chất lượng cuộc sống (CLCS), là gánh nặng cho quốc gia - Y tế. Thực trạng tại Việt Nam CLCS bệnh nhân chưa được quan tâm. Nghiên cứu khảo sát CLCS và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân STMMTCD nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc cũng như sức khỏe bệnh nhân.

Mục tiêu: Xác định điểm số CLCS và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân STMMTCD.

Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu mô tả cắt ngang, khảo sát trên 68 người STMMTCD được chọn ngẫu nhiên, tuổi từ 18 đến khám tại BV Đại học Y Dược. Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, sử dụng bộ câu hỏi SF-36. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến đo lường mối liên quan giữa CLCS và các yếu tố.

Kết quả: Bệnh nhân STMMTCD có điểm số sức khỏe thể chất (51,56±14,53), sức khỏe tâm thần (53,91±15,20), CLCS chung (52,74±10,30). Yếu tố liên quan đến CLCS gồm giới, thu nhập, phân loại lâm sàng CEAP, vận động thể lực vừa sức và mang vớ y khoa.

Kết luận: CLCS bệnh nhân STMMTCD bị suy giảm, cả thể chất lẫn tâm thần. Cần khuyến khích bệnh nhân vận động thể lực vừa sức và mang vớ y khoa giúp cải thiện CLCS

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới

Chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 10
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN 
TRÊN BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI 
Nguyễn Thị Thanh Thuần*, Nguyễn Hoài Nam** 
TÓM TẮT SUMMARY 
QUALITY OF LIFE AND ITS ASSOCIATED 
FACTORS 
AMONG PATIENTS WITH CHRONIC 
VENOUS INSUFFICIENCY 
* Bộ môn Điều dưỡng – ĐH Công Nghệ Đồng Nai 
**Bộ môn Ngoại lồng ngực tim mạch - ĐH Y Dược TP. HCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/02/2019 - Ngày Cho Phép Đăng: 23/03/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính chi 
dưới (STMMTCD) là vấn đề toàn cầu. Bệnh ảnh 
hưởng lớn lên chất lượng cuộc sống (CLCS), là 
gánh nặng cho quốc gia - y tế. Thực trạng tại 
Việt Nam CLCS bệnh nhân chưa được quan 
tâm. Nghiên cứu khảo sát CLCS và các yếu tố 
liên quan trên bệnh nhân STMMTCD nhằm 
nâng cao chất lượng chăm sóc cũng như sức 
khỏe bệnh nhân. 
Mục tiêu: Xác định điểm số CLCS và các 
yếu tố liên quan trên bệnh nhân STMMTCD. 
Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu mô tả 
cắt ngang, khảo sát trên 68 người STMMTCD 
được chọn ngẫu nhiên, tuổi từ 18 đến khám tại 
BV Đại học Y Dược. Phỏng vấn trực tiếp bệnh 
nhân, sử dụng bộ câu hỏi SF-36. Phân tích hồi 
quy tuyến tính đa biến đo lường mối liên quan 
giữa CLCS và các yếu tố. 
Kết quả: Bệnh nhân STMMTCD có điểm 
số sức khỏe thể chất (51,56±14,53), sức khỏe tâm 
thần (53,91±15,20), CLCS chung (52,74±10,30). 
Yếu tố liên quan đến CLCS gồm giới, thu nhập, 
phân loại lâm sàng CEAP, vận động thể lực vừa 
sức và mang vớ y khoa. 
Kết luận: CLCS bệnh nhân STMMTCD bị 
suy giảm, cả thể chất lẫn tâm thần. Cần khuyến 
khích bệnh nhân vận động thể lực vừa sức và 
mang vớ y khoa giúp cải thiện CLCS. 
Background: Chronic venous insufficiency 
(CVI) is a global problem. Disease affects the 
quality of life (QOL); is a burden for the Nation. 
In Vietnam, QOL among the CVI patients has not 
yet been considered. This study on QOL and its 
associated factors among CVI patients to improve 
quality of care as well as health of patients.* 
Objectives: To determine score of QOL 
and its associated factors among CVI patients 
Methods: A retrospective descriptive 
cross-sectional study, 68 CVI patients from 18 
years old were randomly selected to see the 
University of medicine and pharmacy HCM City. 
The data were collected during face-to-face 
interviews using SF-36 scale. Multivariable linear 
regression analyses were used to measure the 
association between QOL and variables. 
Results: The mean scores in physical 
health was (51,56±14,53), mental health was 
(53,91±15,20), QOL was (52,74±10,30). 
Factors associated with QOL among CVI patients 
were gender, income level, clinical classification 
CEAP, physical activity, compression stocking. 
Từ khóa: Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới, 
Chất lượng cuộc sống, SF-36. 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH... 
 11
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
 STMMTCD là bệnh mạn tính, gây ra hàng 
loạt các triệu chứng khó chịu, đặc biệt khả năng 
tàn phế giai đoạn cuối bệnh và tử vong do thuyên 
tắc động mạch phổi[1]. Bệnh là vấn đề toàn cầu, 
với tỷ lệ ngày càng gia tăng đỉnh điểm lên tới 
71%[5], đặc biệt ở các nước Phương Tây với nền 
công nghiệp hóa, tại Mỹ tỷ lệ này là 40%[7]. 
 Vấn đề phức tạp bởi thực tế STMMTCD 
là bệnh tiến triển và tái diễn, đòi hỏi quá trình 
điều trị khó khăn, tốn kém, cần kiên trì của cả 
bệnh nhân và thầy thuốc. Bệnh làm giảm thẩm 
mỹ, giảm khả năng lao động, tăng số người nghỉ 
hưu sớm do đó làm giảm CLCS và là gánh năng 
tài chính cho quốc gia – xã hội. Các nghiên cứu 
trên thế giới đã tìm thấy STMMTCD làm suy 
giảm CLCS, ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất lẫn 
tâm thần[4],[11],[13],[19]. 
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển kinh 
tế và thay đổi lối sống của người dân thì tỷ lệ 
bệnh ngày càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa. 
Hiện nay các nghiên cứu về CLCS ở nhóm bệnh 
này vẫn chưa được quan tâm, do đó nghiên cứu 
được tiến hành với mong muốn góp một phần vào 
việc đánh giá toàn diện bệnh, từ đó là cơ sở cho 
chăm sóc điều dưỡng nhằm nâng cao sức khỏe 
cũng như chất lượng cuộc sống bệnh nhân. 
Mục tiêu nghiên cứu 
Xác định điểm số chất lượng cuộc sống 
bệnh nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới trong 
nhóm nghiên cứu theo thang đo SF-36. 
Xác định một số yếu tố liên quan đến chất 
lượng cuộc sống trên bệnh nhân suy tĩnh mạch 
mạn tính chi dưới 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống từ những 
bệnh nhân nghi ngờ STMMTCD đến khám tại 
Phòng khám Ngoại Lồng ngực – Mạch máu BV 
Đại học Y dược từ 3/2018 đến 6/2018 
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 
Nam hoặc nữ ≥ 18 tuổi, chẩn đoán 
STMMTCD, tự nguyện tham gia vào nghiên cứu. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân tái 
khám từ lần thứ 2 trở đi trong đợt thu thập số liệu, 
đang mắc các bệnh cấp tính, bệnh nặng, phụ nữ 
đang mang thai, đang mắc từ hai bệnh mạn tính 
trở lên, không hợp tác được. 
2.2. Phương pháp Nghiên cứu 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 
Tiền cứu, mô tả cắt ngang 
2.2.2. Cỡ mẫu 
Dựa vào công thức ước lượng một trung 
bình với khoảng tin cậy 95%, sai số 2%, độ lệch 
chuẩn 8,37 theo nghiên cứu Soydan (2016)[19]. Cỡ 
mẫu cần thiết là 68 bệnh nhân. 
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 
Phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân sử dụng bộ 
câu hỏi SF-36. 
SF-36 gồm 36 câu hỏi tập trung 2 lĩnh vực 
sức khỏe thể chất (SKTC) và sức khỏe tâm thần 
(SKTT). Đánh giá CLCS theo thang điểm từ 0 
đến 100 với CLCS tăng dần, chia làm 4 mức độ: 
0-25 điểm: CLCS kém, 26-50 điểm: CLCS trung 
bình kém, 51- 75 điểm: CLCS trung bình khá, 76-
100 điểm: CLCS khá, tốt[2]. 
Conclusion: QOL in CVI patients were 
decreased, both physically and mentally. 
Encouraging moderate physical activity and 
compression stocking to improve QOL for CVI 
patients. 
Keywords: Chronic venous insufficiency, 
quality of life, SF-36. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 12
2.2.4. Phương pháp phân tích số liệu: 
Các biến phụ thuộc là điểm trung bình 
SKTC, SKTT, CLCS theo thang đo SF-36. Các 
biến độc lập bao gồm đặc điểm nhóm nghiên cứu 
gồm tuổi, giới tính, mức thu nhập, mang vớ y 
khoa, vận động thể lực, phân loại lâm sàng 
CEAP,... 
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS20.0. 
Phép kiểm Kolmogorov – Smirnov xác định điểm 
SKTC, SKTT, CLCS có phân phối chuẩn và gần 
chuẩn. Thống kê mô tả bao gồm trung bình ± độ 
lệch chuẩn và tần số (tỷ lệ %). Thống kê phân 
tích để xác định mối liên quan giữa điểm SKTC, 
SKTT, CLCS với các biến số nhóm nghiên cứu. 
Trong đó, phân tích đơn biến gồm kiểm định 
t-test độc lập và ANOVA. Sau đó, các biến số khi 
xét mối liên quan trong phân tích đơn biến có 
p≤0,2 được đưa vào phân tích hồi quy tuyến tính 
đa biến nhằm xác định các yếu tố thực sự liên 
quan đến điểm SKTC, SKTT và CLCS. Sự khác 
biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Qua nghiên cứu trên 68 bệnh nhân 
STMMTCD tại BV Đại học Y dược. Các kết quả 
ghi nhận được như sau: 
Tuổi: trung bình 48,47±14,23, nhỏ nhất 25 
tuổi, lớn nhất 78 tuổi. 
Giới: 72,1% là nữ, tỷ lệ nữ/nam khoảng 2,6/1. 
3.1. Điểm trung bình CLCS bệnh nhân theo thang đo SF-36 
Bảng 1. Điểm trung bình CLCS bệnh nhân (n=68) 
Lĩnh vực TB ± ĐLC GTLN GTNN 
SKTC 51,56±14,53 83 21 
SKTT 53,91±15,20 89 18 
CLCS 52,74±10,30 82 29 
Bệnh nhân STMMTCD có điểm trung bình SKTC thấp hơn SKTT. Điểm SKTC, SKTT, CLCS 
đều ở mức trung bình khá. 
3.2. Các yếu tố dự báo liên quan đến CLCS bệnh nhân STMMTCD 
Bảng 2. Các yếu tố liên quan đến CLCS bệnh nhân STMMTCD sau phân tích đa biến (n=68) 
Nội dung Điểm CLCS 
 SKTC SKTT CLCS 
 Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% Hệ số KTC 95% 
Giới 
Nam 
Nữ 
-7,47* 
-14.57-(-0,37) 
-7,16*** 
-11,05-(-3,26) 
Mức thu nhập 
Hộ không nghèo 
Hộ nghèo 
-17,95* 
-32,45-(-3,46) 
Mang vớ y khoa 
Không 
Có 
17,91*** 
11,93-23,90 
13,29*** 
9,67-16,91 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH... 
 13
Vận động thể lực 
Không 
Có 
10,19** 
3,72-16,67 
4,63* 
0,93-8,33 
Phân loại lâm 
sàng CEAP 
C1-C2 
C3-C4-C6 
-10,40** 
-17,08-(-3,72) 
-5,74** 
-9,57-(-1,92) 
*p≤0,05, **P≤0,01, ***p≤0,0001 (Hồi quy tuyến tính đa biến) 
Sau phân tích hồi quy tuyến tính đa biến về 
một số đặc điểm nhóm nghiên cứu, tìm thấy giới 
nữ có tác động tiêu cực, có điểm số SKTT 
(p<0,05), CLCS chung (p<0,001) thấp hơn giới 
nam. Bệnh nhân thuộc độ lâm sàng CEAP nặng 
(C3-C4-C6) tác động tiêu cực, có điểm số SKTT 
(p<0,01), CLCS chung (p<0,01) thấp hơn nhóm 
độ nhẹ (C1-C2). Một tác động tiêu cực nữa là 
bệnh nhân có thu nhập thấp (hộ nghèo/ cận 
nghèo) có điểm số SKTT thấp (p<0,05) hơn 
nhóm không nghèo. Ở một khía cạnh ngược lại, 
tác động tích cực từ mang vớ y khoa lên điểm số 
SKTC (p<0,0001), CLCS chung (p<0,001) và 
vận động thể lực vừa sức lên điểm số SKTT 
(p<0,01), CLCS chung (p<0,05) cao hơn nhóm 
còn lại. 
IV. BÀN LUẬN 
Nghiên cứu này đánh giá CLCS bệnh nhân 
STMMTCD, kết quả tìm thấy bệnh nhân có điểm 
SKTC, SKTT thấp và CLCS bị suy giảm. Điểm 
trung bình SKTC (51,56±14,53), SKTT 
(53,91±15,20) và CLCS (52,74±10,30) đều nằm ở 
mức trung bình khá. Tương tự nhiều nghiên cứu 
đã báo cáo rằng STMMTCD làm suy giảm đáng 
kể SKTC, SKTT, trong đó SKTC bị suy giảm 
trầm trọng hơn SKTT[9],[11],[13],[19]. Bệnh 
STMMTCD làm giới hạn chức năng, gây hạn chế 
trong các hoạt động hằng ngày, tác động tới tâm 
lý bởi triệu chứng khó chịu, các biến đổi về thẩm 
mỹ, biến chứng do đó bệnh ảnh hưởng tới tất cả 
các khía cạnh của cuộc sống, từ đó CLCS bệnh 
nhân bị suy giảm. 
Trong nghiên cứu tìm thấy giới có liên quan 
đến CLCS bệnh nhân STMMTCD. Các nghiên 
cứu khác cho kết quả tương tự giới nữ có CLCS 
thấp hơn nam[11],[13]. Ngược lại ở nghiên cứu 
Soydan[19] chưa tìm thấy sự khác biệt CLCS ở hai 
giới. Sự khác biệt CLCS ở giới có thể do nam có 
sức chịu đựng cao, nhận thức về tình trạng sức 
khỏe, cuộc sống lạc quan, tích cực hơn trong khi 
nữ thường lo lắng, suy nghĩ nhiều và bi quan về 
bệnh tật. 
Theo Ruckley và Valencia[18],[20] STMMTCD 
có tác động tiêu cực đến kinh tế bệnh nhân và 
ngược lại, liên quan đến việc chăm sóc dài hạn 
các tổn thương mãn tính, đặc biệt là loét. Nghiên 
cứu này, tìm thấy ở nhóm thu nhập thấp (hộ 
nghèo/cận nghèo) có điểm SKTT thấp hơn nhóm 
thu nhập trung bình và cao. Có thể thấy 
STMMTCD làm suy giảm khả năng lao động, đòi 
hỏi chi phí cao quá trình khám – điều trị lâu dài, 
liên tục nên đối với những hộ thu nhập thấp đây 
thật sự là một vấn đề lớn. 
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra 
rằng phân loại lâm sàng CEAP càng nặng thì 
CLCS bệnh nhân STMMTCD càng 
giảm[9],[11],[13],[19]. Tương tự, nghiên cứu này tìm 
thấy ở độ lâm sàng CEAP nặng (C3-C4-C6) có 
điểm SKTT và CLCS thấp hơn độ nhẹ (C1-C2). 
Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan với 
SKTC, có thể do gần một nữa đối tượng chúng 
tôi ở độ nhẹ C1, mà theo Rossi[17] ở giai đoạn nhẹ 
chủ yếu ảnh hưởng tới SKTT. Như vậy, 
STMMTCD ở giai đoạn càng muộn thì SKTC 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 28 - THÁNG 3/2020 
 14
càng giảm, ảnh hưởng đến công việc, sinh hoạt, 
các mối quan hệ gia đình – xã hội; về SKTT ở 
giai đoạn đầu bệnh nhân mệt mỏi, khó chịu, giai 
đoạn tiến triển xuất hiện các thay đổi ở da, loét 
làm bệnh nhân mất tự tin vào bản thân, ảnh 
hưởng nhiều đến cảm xúc - tâm lý. 
Liệu pháp mang vớ y khoa là phương pháp 
điều trị được khuyến cáo nhiều nhất cho 
STMMTCD trong các hướng dẫn quốc tế[14]. Trên 
thế giới, các nghiên cứu đã tìm thấy hiệu quả của 
vớ y khoa trong cải thiện CLCS bệnh 
nhân[3],[16],[21]. Nghiên cứu này cho kết quả tương 
tự, nhóm tuân thủ mang vớ y khoa có điểm SKTC 
và CLCS cao hơn hẵn nhóm không mang vớ. 
Trong STMMTCD vớ y khoa giúp hỗ trợ chân, 
làm giảm đường kính tĩnh mạch, khép kín các 
van, ngăn chặn máu chảy xuống phần thấp của 
chân, từ đó giảm các triệu chứng và ngăn tiến 
triển bệnh. 
Suy giảm chức năng bơm của cơ bắp chân 
có liên quan đến tiến triển của bệnh STMMTCD. 
Nhiều nghiên cứu đã cho kết quả sức khỏe được 
cải thiện thông qua các bài tập có giám 
sát[10],[12],[15],[19]. Và mặc dù bệnh nhân 
STMMTCD đa số là người lớn tuổi, nhưng liệu 
pháp vận động vẫn có hiệu quả[8]. Campbell[6] 
khuyến cáo đi bộ là một trong những biện pháp 
vận động ngăn quá trình tiến triển giãn tĩnh mạch. 
Trong nghiên cứu, bệnh nhân vận động thể lực 
vừa sức có điểm SKTT, CLCS cao hơn hẵn nhóm 
không vận động hoặc vận động mức quá nhẹ, quá 
nặng. Có thể thấy vận động thể lực vừa phải có 
khả năng tăng sức mạnh cơ bắp chân, tăng huyết 
động tĩnh mạch ở chi dưới, cải thiện khả năng vận 
động, giảm các triệu chứng bệnh; thêm nữa giúp 
tinh thần thoải mái, giảm stress, từ đó tăng CLCS 
bệnh nhân. 
V. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 
CLCS bệnh nhân STMMTCD bị suy giảm 
ở tất cả các thành phần thuộc sức khỏe thể chất và 
tâm thần. Do đó trong công tác chăm sóc, điều 
dưỡng khi tiếp cận bệnh nhân STMMTCD cần 
quan tâm chăm sóc cả về tinh thần chứ không hẵn 
chỉ cần chăm sóc thể chất. 
Các yếu tố giới nữ, thu nhập thấp, độ lâm 
sàng nặng có tác động tiêu cực đến CLCS bệnh 
nhân STMMTCD, do đó cần chú ý hơn những đối 
tượng này trong chăm sóc. Ngược lại, mang vớ y 
khoa và vận động thể lực vừa sức có tác động tích 
cực làm tăng CLCS bệnh nhân, do vậy người điều 
dưỡng trong quá trình tư vấn, giáo dục sức khỏe 
cần nhấn mạnh và khuyến khích bệnh nhân tuân 
thủ điều trị mang vớ y khoa cũng như thay đổi lối 
sống bao gồm vận động thể lực, nhằm đạt mục 
đích cải thiện CLCS. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Phạm Khuê, Phạm Thắng (1998), 
"Chẩn đoán suy tĩnh mạch chi dưới", NXB Y 
học, Hà Nội, pp. 47-107. 
2. Ware J. E., Jr. (2000), "SF-36 health 
survey update", Spine (Phila Pa 1976), 25 (24), 
pp. 3130-9. 
3. Andreozzi G. M., Cordova R., 
Scomparin M. A., et al. (2005), "Effects of elastic 
stocking on quality of life of patients with chronic 
venous insufficiency. An Italian pilot study on 
Triveneto Region", Int Angiol, 24 (4), pp. 325-9. 
4. Andreozzi G. M., Cordova R. M., 
Scomparin A., et al. (2005), "Quality of life in 
chronic venous insufficiency. An Italian pilot 
study of the Triveneto Region", Int Angiol, 24 
(3), pp. 272-7. 
5. Beebe-Dimmer J. L., Pfeifer J. R., 
Engle J. S., et al. (2005), "The epidemiology of 
chronic venous insufficiency and varicose veins", 
Ann Epidemiol, 15 (3), pp. 175-84. 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH... 
 15
6. Campbell W. B., Decaluwe H., 
Boecxstaens V., et al. (2007), "The Symptoms of 
Varicose Veins: Difficult to Determine and 
Difficult to Study", European Journal of 
Vascular and Endovascular Surgery, 34 (6), pp. 
741-744. 
7. Clark A., Harvey I., Fowkes F. G. 
(2010), "Epidemiology and risk factors for 
varicose veins among older people: cross-
sectional population study in the UK", 
Phlebology, 25 (5), pp. 236-40. 
8. Fiatarone M. A., Marks E. C., Ryan N. 
D., et al. (1990), "High-intensity strength training 
in nonagenarians. Effects on skeletal muscle", 
Jama, 263 (22), pp. 3029-34. 
9. Kahn S. R., M'Lan C E., Lamping D. 
L., et al. (2004), "Relationship between clinical 
classification of chronic venous disease and 
patient-reported quality of life: results from an 
international cohort study", J Vasc Surg, 39 (4), 
pp. 823-8. 
10. Kan Y. M., Delis K. T. (2001), 
"Hemodynamic effects of supervised calf muscle 
exercise in patients with venous leg ulceration: a 
prospective controlled study", Arch Surg, 136 
(12), pp. 1364-9. 
11. Kaplan R. M., Criqui M. H., 
Denenberg J. O., et al. (2003), "Quality of life in 
patients with chronic venous disease: San Diego 
population study", J Vasc Surg, 37 (5), pp. 
1047-53. 
12. Klyscz T., Junger M., Junger I., et al. 
(1997), "Vascular sports in ambulatory therapy of 
venous circulatory disorders of the legs. 
Diagnostic, therapeutic and prognostic aspects", 
Hautarzt, 48 (6), pp. 384-90. 
13. Kurz X., Lamping D. L., Kahn S. R., et 
al. (2001), "Do varicose veins affect quality of 
life? Results of an international population-based 
study", J Vasc Surg, 34 (4), pp. 641-8.
 14. Nicolaides A. N. (2000), "Investigation 
of chronic venous insufficiency: A consensus 
statement (France, March 5-9, 1997)", 
Circulation, 102 (20), pp. E126-63. 
15. Padberg Jr F. T., Johnston M. V., Sisto 
S. A. (2004), "Structured exercise improves calf 
muscle pump function in chronic venous 
insufficiency: a randomized trial", Journal of 
Vascular Surgery, 39 (1), pp. 79-87. 
16. Prandoni P., Lensing A. W., Prins M. 
H., et al. (2004), "Below-knee elastic 
compression stockings to prevent the post-
thrombotic syndrome: a randomized, controlled 
trial", Ann Intern Med, 141 (4), pp. 249-56. 
17. Rossi F. H., Volpato M. G., Metzger P. 
B., et al. (2015), "Relationships between severity 
of signs and symptoms and quality of life in 
patients with chronic venous disease", Jornal 
Vascular Brasileiro, 14, pp. 22-28. 
18. Ruckley C. V. (1997), "Socioeconomic 
impact of chronic venous insufficiency and leg 
ulcers", Angiology, 48 (1), pp. 67-9. 
19. Soydan E., Yilmaz E., Baydur H. 
(2016), "Effect of socio-demographic 
characteristics and clinical findings on the quality 
of life of patients with chronic venous 
insufficiency", Vascular, 25 (4), pp. 382-389. 
20. Valencia I. C., Falabella A., Kirsner R. 
S., et al. (2001), "Chronic venous insufficiency 
and venous leg ulceration", J Am Acad Dermatol, 
44 (3), pp. 401-21; quiz 422-4. 
21. Vayssairat M., Ziani E., Houot B. 
(2000), "Placebo controlled efficacy of class 1 
elastic stockings in chronic venous insufficiency of 
the lower limbs", J Mal Vasc, 25 (4), pp. 256-62. 

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_va_cac_yeu_to_lien_quan_tren_benh_nhan.pdf