Chất lượng cuộc sống người bệnh tăng huyết áp

Mở đầu: Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý mạn

tính, triệu chứng của bệnh thường diễn tiến âm thầm

làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động và làm ảnh

hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người

bệnh. Chất lượng cuộc sống của người bệnh THA

giảm dần do biến chứng của bệnh, bệnh lý kèm theo,

tác dụng phụ của thuốc điều trị và nhận thức bệnh tật

của người bệnh. Do đó chất lượng cuộc sống người

bệnh THA là một trong những tiêu chí ngày càng

được lưu tâm hơn.

Mục tiêu: Khảo sát chất lượng cuộc sống người

bệnh tăng huyết áp đang điều trị tại Khoa Nội Tim

Mạch bệnh viện Đa Khoa Thành Phố Cần Thơ

pdf 6 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống người bệnh tăng huyết áp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng cuộc sống người bệnh tăng huyết áp

Chất lượng cuộc sống người bệnh tăng huyết áp
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 
 37 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 
Nguyễn Hoàng Định*, Huỳnh Bích Nhiều** 
TÓM TẮT 
Mở đầu: Tăng huyết áp (THA) là bệnh lý mạn 
tính, triệu chứng của bệnh thường diễn tiến âm thầm 
làm ảnh hưởng đến sức khỏe, sức lao động và làm ảnh 
hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người 
bệnh. Chất lượng cuộc sống của người bệnh THA 
giảm dần do biến chứng của bệnh, bệnh lý kèm theo, 
tác dụng phụ của thuốc điều trị và nhận thức bệnh tật 
của người bệnh. Do đó chất lượng cuộc sống người 
bệnh THA là một trong những tiêu chí ngày càng 
được lưu tâm hơn. 
Mục tiêu: Khảo sát chất lượng cuộc sống người 
bệnh tăng huyết áp đang điều trị tại Khoa Nội Tim 
Mạch bệnh viện Đa Khoa Thành Phố Cần Thơ. 
Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu:Cắt 
ngang mô tả 334 người bệnh THA đang điều trị tại 
khoa Nội Tim Mạch bệnh viện Đa khoa Thành Phố 
Cần Thơ thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2013 đến 
tháng 5/2014. Sử dụng bộ câu hỏi SF-36. 
Kết quả: 334 người bệnh tham gia nghiên cứu thì 
điểm số trung bình của sức khỏe thể chất là 30.8± 
5.2, sức khỏe tinh thần là 32.0 ± 7.1, chất lượng cuộc 
sống 31.4 ± 4.4. 
Kết luận: Người bệnh có chất lượng cuộc sống 
thấp theo thời gian THA, kiểm soát huyết áp và tổn 
thương cơ quan đích. Do đó, việc xét CLCS khi chăm 
sóc và điều trị bệnh THA là vấn đề ngày càng được 
quan tâm. 
*Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, tăng huyết áp. 
SUMMARY 
HEALTH – RELATED QUALITY OF LIFE IN 
HYPERTENSIVES 
Background: 
Objective: 
Method: 
Result: 
Conclusion: 
*Keywords: Health – related quality of life, 
hypertension. 
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 
THA là bệnh lý rất thường gặp trong cộng đồng, 
và là yếu tố nguy cơ tim mạch liên quan đến bệnh 
mạch vành, suy tim, bệnh mạch máu não và bệnh thận 
mạn tính [4]. CLCS của người bệnh THA giảm dần do 
biến chứng của bệnh, bệnh lý kèm theo, tác dụng phụ 
của thuốc điều trị và nhận thức bệnh tật của người 
bệnh [12].Trên thế giới có rất nhiều đề tài nghiên cứu 
liên quan đến CLCS, trong khi đó những nghiên cứu 
trong nước liên quan đến CLCS bệnh THA còn hạn 
chế. Do đó nghiên cứu này được tiến hành với mong 
muốn khảo sát CLCS người bệnh THA để việc chăm 
sóc sức khỏe người bệnh được sát hợp hơn. Mục đích 
nghiên cứu của chúng tôi là: 
Khảo sát CLCS người bệnh THA đang điều trị tại 
Khoa Nội Tim Mạch bệnh viện Đa Khoa Thành Phố 
Cần Thơ.* 
2. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 
2.1. Phương pháp nghiên cứu:.Cắt ngang mô tả 
334 người bệnh THAđang điều trị tại khoa Nội Tim 
Mạch bệnh viện Đa khoa Thành Phố Cần Thơ. Thời 
gian nghiên cứu từ tháng 11/2013 đến tháng 5/2014. 
Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát SF-36. 
2.2. Xử lí số liệu 
Nhập dữ liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 
Xử lý và phân tích dữ liệu bằng phần mềm Stata 12.0 
Thống kê phân tích - kiểm định sự khác biệt: 
+ Biến phụ thuộc là biến định lượng có phân phối 
bình thường và 
§ Biến độc lập là biến nhị giá: dùng phép kiểm t 
§ Biến độc lập là biến danh định và thứ tự: dùng 
kiểm định ANOVA. 
+ Đối với biến định lượng có phân phối không 
bình thường. 
§ Biến độc lập là biến nhị giá: dùng phép kiểm 
phi tham số Mann-Whitney. 
§ Biến độc lập là biến danh định hay thứ tự: dùng 
phép kiểm Kruskal-Wallis. 
*Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM 
** Bệnh viện Đa Khoa Thành Phố Cần Thơ 
Người chịu trách nhiệm khoa học: TS. Nguyễn Hoàng Định 
Ngày nhận bài: 10/01/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 24/02/2016 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Bùi Đức Phú 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 38 
Xác định điểm số tám lĩnh vực và hai thành phần 
sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần trong bảng 
câu hỏi khảo sát sức khỏe tổng quát SF- 36phiên bản 
Việt Nam bằng phần mềm tính điểm Quality 
MetricHealth Outcomes Scoring Software 4.5.1. 
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
334 người bệnh được khảo sát từ tháng 11/2013 
đến tháng 5/2014 
Bảng 1: Đặc điểm dân số học 
Biến số N % 
Giới 
Nữ 
Nam 
228 
106 
68.26 
31.74 
Nhóm tuổi 
<=40 
 40-59 
 60-79 
>=80 
5 
65 
178 
86 
1.5 
19.46 
53.29 
25.75 
Nơi cư trú 
Cần thơ 
 Khác 
260 
74 
77.84 
22.16 
Trình độ học vấn 
Mù chữ 
Biết đọc-viết/cấp 1 
Cấp 2/Cấp 3 
Trung cấp/Cao đẳng 
Đại học/Sau đại học 
57 
19 
63 
7 
9 
17.07 
59.28 
18.86 
2.01 
2.69 
Tình trạng hôn nhân 
Độc thân 
Có gia đình sống với vợ/chồng, 
Ly dị/chia tay/ở góa 
8 
17 
151 
2.40 
52.40 
45.21 
Nghề nghiệp 
Công nhân 
 Nông dân 
Viên chức 
Buôn bán 
Già/ Hưu trí 
Thất nghiệp/nội trợ 
Khác 
2 
15 
6 
14 
225 
25 
17 
0.60 
4.49 
1.80 
4.19 
76.35 
7.49 
5.09 
Tập thể dục 
 Có 
 Không 
84 
250 
25.15 
74.85 
Tình trạng dinh dưỡng (BMI) 
Gầy: <18,5 kg/m² 
Bình thường : 18,5-24,99 kg/m² 
Thừa cân: 25-29,99 kg/m² 
Béo phì: >=30 kg/m² 
40 
242 
49 
3 
11.98 
72.46 
14.67 
0.90 
Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng các đối tượng tham gia 
nghiên cứu 
Đặc điểm lâm sàng Tần số (n) 
Tỉ lệ 
(%) 
Kiếm soát được HA 
 Có 
 Không 
208 
126 
62.28 
37.72 
Tổn thương cơ quan đích 
 Có 
 Không 
129 
205 
38.62 
61.38 
Tiền sử THA 
 Có 
 Không 
62 
272 
18.56 
81.44 
Thời gian THA 
<1 năm 
 1-5 năm 
6-10 năm 
>10 năm 
62 
167 
45 
60 
19.46 
49.10 
13.47 
17.96 
Bảng 3. Điểm số 8 lĩnh vực sức khỏe của SF-36 
Lĩnh vực sức khỏe Điểm số (TB± ĐLC) 
Giá trị 
nhỏ 
nhất 
Giá trị 
lớn 
nhất 
Hoạt động chức năng 15.9 ± 20.9 0 100 
Giới hạn chức năng 19.6 ± 17.3 0 100 
Cảm nhận đau đớn 38.4 ± 21.3 0 100 
Đánh giá sức khỏe 17.9 ± 8.0 0 92 
Cảm nhận sức sống 30.9 ± 13.3 0 75 
Hoạt động xã hội 30.4 ± 13.6 0 87.5 
Giới hạn tâm lý 27.9 ± 20.6 0 100 
Tinh thần tổng quát 37.3± 16.8 5 90 
334 người bệnh tham gia nghiên cứu, chúng tôi 
nhận thấy điểm trung bình của 8 lĩnh vực sức khỏe 
dao động từ 15.9 đến 38.4, tất cả các lĩnh vực sức 
khỏe có điểm số dưới 50. 
Bảng 4. Điểm số 2 thành phần SKTC và SKTT 
của SF-36 
Thành phần 
sức khỏe 
Điểm số 
(TB± ĐLC) 
Giá trị nhỏ 
nhất 
Giá trị lớn 
nhất 
Sức khỏe thể 
chất 30.8 ± 5.2 16.8 56.7 
Sức khỏe 
tinh thần 32.0 ± 7.1 15.57 61.93 
Chất lượng 
cuộc sống 31.4 ± 4.4 22.3 45.63 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 
 39 
Điểm số trung bình của sức khỏe thể chất là 
30.8± 5.2 thấp hơn điểm số của sức khỏe tinh thần là 
32.0 ± 7.1 
4. BÀN LUẬN 
Qua khảo sát 334 người bệnh tham gia nghiên 
cứu, chúng tôi nhận thấy có 228 người bệnh là nữ 
(68.26%) và 106 người bệnh nam (31.74%).Tỉ lệ nữ 
giới nhập viện do bệnh THA tại khoa Tim Mạch 
nhiều hơn so với nam giới. Nghiên cứu này tương 
tự với một số nghiên cứu khác như: Nghiên cứu của 
tác giả Trần Kim Trang năm 2010 thì nữ giới chiếm 
63.1% và nam chiếm 36.9% [12]. 
Đa số người bệnh THA tập trung nhóm tuổi 
trên 60 chiếm gần 80% nhiều nhất ở nhóm tuổi 60-
79 chiếm 53.29% và nhóm >=80 chiếm 25.75%. 
Nghiên cứu Fabiana và cộng sự tại Brazil năm 2013 
thì nhóm tuổi >60 chiếm tỉ lệ cao hơn 83.1% [2]. 
Người bệnh có gia đình đang sống chung với 
vợ hoặc chồng chiếm tỷ lệ cao nhất 52.4%, thấp 
nhất là độc thân chiếm 2.4% và ly dị, ly thân hoặc ở 
góa chiếm 45.21%.Kết quả nghiên cứu này thấp hơn 
so với nghiên cứu của Erin Stanley và cộng sự tại 
Mỹ năm 2011 tỷ lệ người bệnh đã kết hôn chiếm 
68.3% [1]. 
Về trình độ học vấn đa số người bệnh THA có 
trình độ học vấn thấp biết đọc, viết và cấp 1 chiếm 
tỷ lệ cao 59.28%,17.07% mù chữ,18.86% cấp 2 cấp 
3, 4.79% có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại 
học, nghề nghiệp chủ yếu của người bệnh là thất 
nghiệp và nông dân. Kết quả nghiên cứu của chúng 
tôi tương tự kết quả nghiên cứu của Khaw W. F tại 
Malaysia năm 2011 người bệnh có trình độ học vấn 
biết đọc, viết cấp 1 chiếm tỷ lệ cao nhất 54.7% [5]. 
Đa số người bệnh kiểm soát được HA chiếm 
62.28% và không kiểm soát được HA chiếm tỷ lệ 
37.72%.Trong nghiên cứu của Youssef và cộng sự 
tại Ai Cập năm 2005 [13] thì tỷ lệ người bệnh THA 
được kiểm soát chiếm tỷ lệ thấp 53.2%. %. Chúng 
tôi nhận thấy rằng sự khác nhau về kiểm soát huyết 
áp có thể do sự khác nhau về văn hóa, nhận thức, 
điều kiện sống và hành vi liên quan. 
Đối với tổn thương cơ quan đích, trong nghiên 
cứu của chúng tôi thì tỷ lệ người bệnh không có tổn 
thương cơ quan đích chiếm tỉ lệ cao 61.38%, 
người bệnh có tổn thương cơ quan đích 
38.62%.nghiên cứu của chúng tôi tương tự như kết 
quả nghiên cứu Youssef và cộng sự tại Ai Cập năm 
2005 [13]. Người bệnh không có tổn thương cơ 
quan đích chiếm 65.5%. Chúng tôi nhận thấy rằng 
người bệnh không có tổn thương cơ quan đích 
chiếm tỷ lệ cao hơn có thể do người bệnh kiểm 
soát tốt được HA, hệ thống điều trị và chăm sóc tại 
khoa tốt. 
Về tiền sử và thời gian THA, phần lớn người 
bệnh không có tiền sử THA chiếm 81.44% và có 
tiền sử THA chỉ chiếm 18.56%, người bệnh có thời 
gian THA từ 1-5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 49.10% 
so với thời gian THA <1 năm chiếm 19.46%, 6-10 
năm 13.47% và >10 năm chiếm 17.96%.Kết quả 
nghiên cứu này tương tự kết quả nghiên cứu của 
Fabiana và cộng sự tại Brazil năm 2013, tỷ lệ 
người bệnh có thời gian THA từ 1-5 năm chiếm 
41.5% cao hơn so với nhóm thời gian khác [2]. 
Kết quả khảo sát cho thấy người bệnh THA có 
điểm số trên các lĩnh vực sức khỏe đều thấp <50 
điểm, thấp nhất là hoạt động chức năng 15.9±20.9, 
cao nhất là cảm nhận sự đau đớn 38.4±21.3. 
 Điểm số cho lĩnh vực hoạt động chức năng là 
15.9 ± 20.9. Kết quả nghiên cứu rất khác so với 
những nghiên cứu trước. Trong nghiên cứu của 
Michelle tại Brazil năm 2012 điểm trung bình cho 
lĩnh vực này 58.7± 27.8 [9]. Nghiên cứu của Erin 
Stanley và cộng sựtại New Orleansnăm 2011 trung 
bình của hoạt động chức năng 64.6± 30.0 [20], 
nghiên cứu khác của Khaw W. F tại Malaysia năm 
2011 thì điểm trung bình của lĩnh vực hoạt động 
chức năng 73.15±27.68 [5]. So sánh kết quả điểm 
trung bình về lĩnh vực hoạt động chức năng, rõ ràng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 40 
nghiên cứu của chúng tôi có điểm số thấp hơn so 
với nghiên cứu ở Brazil, Mỹ và Malaysia. Điểm số 
thấp trong nghiên cứu của chúng tôi có thể do người 
bệnh đa số lớn tuổi, thời gian THA lâu xãy ra nhiều 
biến chứng nên ảnh hưởng đến khả năng vận động 
của người bệnh. Người bệnh đôi khi bị hạn chế khi 
thực hiện tất cả hoạt động chức năng bao gồm tự 
tắm rửa hoặc thay quần áo. 
Điểm số giới hạn hoạt động do khiếm khuyết 
chức năng, lĩnh vực này có điểm số thấp sẽ làm cho 
người bệnh bị trở ngại trong công việc hoặc sinh 
hoạt hàng ngày do tình trạng sức khỏe chức năng, 
với điểm số trung bình 19.6 ± 17.3, so sánh kết quả 
này với nghiên cứu khác cho kết quả khác nhau về 
điểm số, được nghiên cứu bởi Gavin và cộng sự tại Mỹ 
năm 2012 với giá trị trung bình là 68.0 ± 2.0 [3]. Trong 
nghiên cứu của Mohammed tại Saudi Arabia năm 2002 
điểm số 43.93± 41.24 [10], sự hiện diện của tổn thương 
cơ quan đích cũng ảnh hưởng tích cực đến giới hạn 
hoạt động của người bệnh. 
 Lĩnh vực cảm nhận về sự đau đớn của người 
bệnh với điểm số có giá trị trung bình 38.4 ± 21.3. 
Trong những nghiên cứu khác điểm số lĩnh vực cảm 
nhận sự đau đớn cho kết quả cao hơn như nghiên 
cứu của Michelle tại Brazil năm 2012 là 60.4± 26.3 
[9], nghiên cứu của Michael O và cộng sự tại 
Nigeria năm 2009 điểm số là 76.28 ± 30.17 [41]. 
THA là bệnh mãn tính, bệnh được cho là kẻ giết 
người thầm lặng và đôi khi không có triệu chứng, 
không có dấu hiệu nào báo trước vì vậy đau không 
phải là triệu chứng đi kèm với bệnh THA, mà đau 
thường xuất hiện khi người bệnh có các bệnh lý 
khác đi kèm hoặc có một số biến chứng tim mạch 
khác như nhồi máu cơ tim cấp. Như vậy, tổn thương 
cơ quan đích và các yếu tố nguy cơ tim mạch có thể 
là làm nặng thêm cơn đau đớn cho người bệnh và 
làm cho lĩnh vực này có điểm số thấp. 
 Lĩnh vực đánh gía sức khỏe có điểm số trung 
bình 17.9 ± 8.0, kết quả nghiên cứu của Monika Z 
và cộng sự tại Ba Lan năm 2012 giá trị trung bình là 
44.39 ±20.53[11] và nghiên cứu của Mamas và 
cộng sự ở Brazil năm 2012 điểm số lĩnh vực này 
60.7±22.7 [6]. Chúng tôi nhận thấy rằng kết quả 
này có thể xãy ra như kết quả biểu hiện lâm sàng 
liên quan đến nguyên nhân và điều trị bệnh tăng 
huyết áp, nhìn chung bệnh THA được nhận thấy là 
một tình trạng nghiêm trọng và điều này được 
khẳng định trong nghiên cứu của chúng tôi. 
 Lĩnh vực thứ năm sức khỏe liên quan đến cảm 
nhận cuộc sống, lĩnh vực này có điểm số trung bình 
30.9 ± 13.3. Kết quả này rất thấp so với nghiên 
cứu của Khaw ở Malaysia năm 2011 thì điểm số 
lĩnh vực này là 58.39± 19.45 [9]. Điểm số thấp chỉ 
ra sự suy giảm trong cảm nhận cuộc sống của người 
bệnh THA có liên quan đến tâm trạng của người 
bệnh, người bệnh lúc nào cũng cảm thấy ưu tư buồn 
và mệt mỏi.Trong nghiên cứu của Erin Stanley và 
cộng sự tại Mỹ năm 2011 thì điểm trung bình của 
lĩnh vực này 53.6 ± 26.5 [1]. Chúng tôi nhận thấy 
rằng bệnh THA gây trở ngại cho tình trạng thể chất 
của người bệnh như mệt mỏi liên quan đến tuổi tác 
và thời gian mắc bệnh. 
 Lĩnh vực sáu: sức khỏe liên quan đến hoạt 
động xã hội với giá trị trung bình 30.4 ± 13.6. Kết 
quả nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của 
Monika Z tại Ba Lan năm 2012 điểm số là 65.42 
±26.32 [11]. Huyết áp ảnh hưởng đến người bệnh 
tham gia các hoạt động xã hội như thăm viếng 
người thân bạn bè hay hàng xóm, do đó sự cần thiết 
phải thay đổi lối sống bao gồm cả thói quen ăn uống 
của người bệnh để kiểm soát được huyết áp. Như 
vậy, tình trạng bệnh THA có thể dẫn đến sự suy 
giảm trong các mối quan hệ xã hội, các hoạt động 
giải trí và vui chơi, dẫn đến suy giảm chất lượng 
cuộc sống của người bệnh. 
 Điểm trung bình của lĩnh vực giới hạn tâm lý 
là 27.9 ± 20.6, điểm số thấp cho thấy người bệnh 
bị trở ngại trong công việc hoặc sinh hoạt hàng 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP 
 41 
ngày do tình trạng sức khỏe tâm lý làm suy giảm 
chất lượng cuộc sống của người bệnh. HA tăng 
thường do cảm xúc và căng thẳng liên quan, người 
bệnh dường như không biết cách để giảm lo âu 
căng thẳng. Người bệnh thường cho rằng cảm xúc 
của họ phụ thuộc vào người khác. Điều này có thể 
dẫn đến sự suy giảm trong chất lượng cuộc sống. 
 Điểm số lĩnh vực sức khỏe tinh thần tổng quát 
là 37.3± 16.8, trong nghiên cứu của chúng tôi điểm 
số này cao thứ nhì trong tám lĩnh vực sức khỏe 
nhưng cũng thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả 
Maria và cộng sự ở Brazil năm 2013 là 66.6 ±21.0 
[7]. Tăng huyết áp là bệnh mạn tính do đó ảnh 
hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người bệnh, 
người bệnh đa số lớn tuổi họ luôn có sự lo lắng về 
bệnh tật dẫn đến cảm xúc tiêu cực như trầm cảm và 
lo âu. 
 Chúng tôi nhận thấy điểm số SKTC và SKTT 
trong nghiên cứu của chúng tôi (30.8± 5.2, 32.0± 
7.1) thấp hơn so với nghiên cứu của Gavin W và 
cộng sự tại Mỹ năm 2012 (44.0± 2.0, 52.0± 1.0) [3] 
và nghiên cứu của tác giả Mohammed S ở Saudi 
Arabia năm 2002 thì điểm trung bình SKTC và 
SKTT là (39.31±12.80, 43.69±10.70) [10]. Điểm số 
thấp hơn so với nghiên cứu khác, có thể do nghiên 
cứu của chúng tôi người bệnh lớn tuổi >60 chiếm tỉ 
lệ cao hơn, nữ chiếm tỉ lệ cao hơn so với nghiên 
cứu trên. Tuổi>60 là nhóm tuổi được nhận định 
CLCS giảm đi, BN nữ nhiều hơn là đối tượng 
thường được cho là có khả năng chịu đựng thấp dễ 
bị lo âu, căng thẳng nên ảnh hưởng đến CLCS. 
5. KẾT LUẬN 
Dù được biết là một bệnh thường không có 
triệu chứng, nhưng THA làm cho CLCS giảm dần 
do biến chứng của bệnh, bệnh lý kèm theo, tác dụng 
phụ của thuốc điều trị và nhận thức bệnh tật của 
người bệnhDo đó, cần lưu tâm hơn đến CLCS của 
người THA. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Erin Stanley, MPH, Paul Muntner, PhD, MHS, 
Richard N. Re, MD, Edward D. Frohlich, 
MD,Elizabeth Holt, PhD, MPH, Marie A. 
Krousel-Wood, MD, MSPH (2011), “Quality of 
Life in Hypertensive Clinic Patients Following 
Hurricane Katrina”,The Ochsner Journal , pp. 
226–231. 
2. Fabiana Coriolano Ribeiro Cavalcanti, Eduardo 
Tavares Gomes, Eugênia Velludo Veiga, Simone 
Maria Muniz da Silva Bezerra (2013), “ Profile of 
health and quality of life assement of hypertensive 
patients by the specific intrument Minichal-
Brazil”,J Nurs UFPE on line, Recife, 7(12), 
pp.6732-6740. 
3. Gavin W. Lambert, Dagmara Hering, Murray D, et, al 
(2012),“Health-Related Quality of Life After Renal 
Denervation in Patients With Treatment-Resistant 
Hypertension”, Hypertension, pp.1479-1484. 
4. Hội tim mạch quốc gia Việt Nam (2010), “Tăng 
huyết áp – kẻ giết người thầm lặng”. Tạp chí tim 
mạch học Việt Nam, 54(4). 
5. Khaw W. F, Hassan S. T. S, Latiffah A. L (2011), 
“Health-related Quality of Life among 
Hypertensive patients Compared with General 
Population Norms”,J. Med. Sci. 11(2), pp.84-89. 
6. Mamas Theodorou, Daphne Kaitelidou, Petros 
Galanis, Nicos Middleton, 
Panagiotis Theodorou, Panagiotis Stafylas, Olga 
Siskou, Nikos Maniadakis (2011), “ Quality of 
Life Measurement in Patients with Hypertension 
in Cyprus”,Hellenic J Cardiol, pp. 407-415. 
7. Maria Virgínia de Carvalho1, Liza Batista 
Siqueira2, et, al(2013), “The Influence of 
Hypertension on Quality of Life”,Arq Bras 
Cardiol, 100(2), pp.164-174. 
8. Michael O Ogunlana, Babatunde Adedokun, 
Magbagbeola D Dairo and 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 12 - THÁNG 2/2016 
 42 
Nse A Odunaiya (2009), “Profile and predictor of 
health-related quality of life among hypertensive 
patients in south-western Nigeria”,BMC 
Cardiovascular Disorders. 
9. Michelle Adler Normando Carvalho; Isabela Bispo 
Santos Silva, et,al ( 2012), “ Quality of Life of 
hypertensive patients and comparison of two 
instruments of HRQOL measure”,Arq. Bras. 
Cardiol, vol.98 no.5 
10. Mohammed S. Al-Ghamdi, FFCM (KFU, et, al 
(2002), “Quality of life in a sample of 
hypertensive patients attending primary health 
care facilities in Al-Khobar, Saudi Arabia”,J 
Family Community Med, 9(1), pp.25–32. 
11. Monika Zygmuntowicz, Aleksander Owczarek, 
Adam Elibol, Jerzy Chudek1 (2012), ” 
Comorbidities and the quality of life in 
hypertensive patients”,Polskie Archiwum 
Medycyny Wewnetrznej , pp.333-340. 
12. Trần Kim Trang(2010), “ Chất lượng cuộc sống ở 
người tăng huyết áp”,Tạp chí y học, Đại học Y 
DượcTP. Hồ Chí Minh, 15(1), tr.104-111. 
13.Youssef. R. M, Moubarak I. I and Kamel M.I 
(2005), “Factors affecting the quality of life of 
hypertensive patients”,Eastern Mediterranean 
Health Journal, Vol. 11. 

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_nguoi_benh_tang_huyet_ap.pdf