Chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu, có

phân tích trên 23 bệnh nhân đã ghép tim từ người

cho đa tạng chết não tại Trung tâm Tim mạch và

Lồng ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, từ

tháng 6 / 2012 đến tháng 4 / 2020, với nền tảng là

bộ câu hỏi SF-36. Điểm trung bình của 4 lĩnh vực

sức khỏe thể chất bao gồm hoạt động chức năng,

giới hạn chức năng, cảm nhận đau đớn và sức

khỏe tổng quát lần lượt là 87,4; 86,6; 92,1và 80,8.

Điểm trung bình của 4 lĩnh vực sức khỏe tinh

thần bao gồm cảm nhận sức sống, hoạt động xã

hội, giới hạn tâm lý và tinh thần tổng quát lần

lượt là 86,6; 79,2; 83,5 và 86,6. Các yếu tố có liên

quan với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau

ghép tim trong phân tích đa biến là: tuổi, nghề

nghiệp, trình độ học vấn, bệnh lý (đái tháo đường,

gút, suy thận và xơ gan trước ghép). Điểm số chất

lượng cuộc sống của bệnh nhân sau ghép tim tại

bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đều cao ở tất cả

lĩnh vực sức khỏe, chứng minh phẫu thuật ghép

tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối là một

phương pháp rất hữu ích, giúp cải thiện rõ cuộc

sống của người bệnh sau ghép tim

pdf 12 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức

Chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 5 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM 
TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
Nguyễn Xuân Vinh*, Phùng Duy Hồng Sơn*, Nguyễn Hữu Ước* 
TÓM TẮT 
Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu, có 
phân tích trên 23 bệnh nhân đã ghép tim từ người 
cho đa tạng chết não tại Trung tâm Tim mạch và 
Lồng ngực, bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, từ 
tháng 6 / 2012 đến tháng 4 / 2020, với nền tảng là 
bộ câu hỏi SF-36. Điểm trung bình của 4 lĩnh vực 
sức khỏe thể chất bao gồm hoạt động chức năng, 
giới hạn chức năng, cảm nhận đau đớn và sức 
khỏe tổng quát lần lượt là 87,4; 86,6; 92,1và 80,8. 
Điểm trung bình của 4 lĩnh vực sức khỏe tinh 
thần bao gồm cảm nhận sức sống, hoạt động xã 
hội, giới hạn tâm lý và tinh thần tổng quát lần 
lượt là 86,6; 79,2; 83,5 và 86,6. Các yếu tố có liên 
quan với chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau 
ghép tim trong phân tích đa biến là: tuổi, nghề 
nghiệp, trình độ học vấn, bệnh lý (đái tháo đường, 
gút, suy thận và xơ gan trước ghép). Điểm số chất 
lượng cuộc sống của bệnh nhân sau ghép tim tại 
bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đều cao ở tất cả 
lĩnh vực sức khỏe, chứng minh phẫu thuật ghép 
tim cho bệnh nhân suy tim giai đoạn cuối là một 
phương pháp rất hữu ích, giúp cải thiện rõ cuộc 
sống của người bệnh sau ghép tim. 
Từ khóa: Chất lượng cuộc sống, ghép tim, 
SF-36. 
SUMMARY 
HEALTH-RELATED QUALITY OF LIFE 
OF RECIPIENTS AFTER HEART 
TRANPLANTATION AT VIET DUC 
UNIVERSITY HOSPITAL 
Retrospective and prospective descriptive 
study of consecutive patient after cardiac 
transplantation patients in 23 cases from June 
2012 to April 2020, at the Cardiovascular and 
Thoracic Center, Viet Duc university hospital, 
based on SF-36 questionnaire. The mean scores 
of 4 physical health domains including physical 
functioning, role physical, bodily pain and 
general health were 87.4; 86.6; 92.1 and 80.8, 
respectively. The mean scores of 4 mental health 
domains including vitality, social functioning, 
and role emotional and mental health were 86.6; 
79.2; 83.5 and 86.6, respectively. In multivariate 
analysis, factors associated with HRQOL after 
cardiac transplantation were age, occupation, 
education level, some diseases (diabetes mellitus, 
gout, kidney failure, pre-op cirrhosis). The total 
points of HRQOL were high in all domains, 
confirmed that heart transplant surgery for 
patients with end-stage heart failure is a very 
useful method, that significantly improving 
HRQOL recipients after the procedure.1 
Key words: Health-related quality of life, 
cardiac transplant, SF-36. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ghép tim là một loại phẫu thuật đặc biệt, để 
thay thế trái tim bị suy giai đoạn cuối của người 
bệnh (người nhận) bằng trái tim khỏe mạnh đến 
từ người hiến chết não phù hợp (người cho chết 
não), và được coi là phương pháp điều trị triệt để 
khi mà tất cả các phương pháp điều trị thường qui 
khác đã thất bại [1]. Lịch sử phát triển của phẫu 
thuật ghép tim trên người có một khoảng thời 
gian dài tới 62 năm kể từ khi Alexis Carrel và 
Charles Guthrie tại Đại học tổng hợp Chicago 
(Hoa Kỳ) tiến hành ca ghép tim thực nghiệm đầu 
tiên năm 1902 [2], tới khi Christiaan Barnard ở 
Cape Town (Nam Phi) thực hiện ca ghép tim đầu 
tiên trên người ngày 3/12/1967 [3],[4]. Theo báo 
*Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Nguyễn Xuân Vinh 
Ngày nhận bài: 02/07/2020 - Ngày Cho Phép Đăng: 04/09/2020 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 6 
cáo của tổ chức ghép tim phổi quốc tế, đến tháng 
6 /2017, ghép tim đã được thực hiện tại 477 trung 
tâm phẫu thuật tim trên thế giới; với số lượng 
người bệnh được ghép tim là 141.268 ca. Còn nếu 
tính từ 1 /6 /2016 đến 30 /7 /2017 đã có 5.149 
người bệnh được ghép tim [5]. 
Tại Việt Nam, phẫu thuật ghép tim đã triển 
khai thành công từ người cho chết não đơn tạng 
chết não (chỉ cho tim) tại bệnh viện 103 và Học 
viện Quân y vào ngày 17 /6 /2010. Ca đầu tiên 
ghép tim từ người cho đa tạng chết não (cho cả 
gan, thận, tim ) được thực hiện tại bệnh viện 
Việt Đức vào ngày 14 /4 /2011, và sau đó nhanh 
chóng trở thành một phương pháp điều trị thường 
qui tại bệnh viện, với số lượng trung bình mỗi 
năm là 3-5 ca ghép tim kết hợp với 10-15 ca ghép 
các tạng khác [6]. 
Về hiệu quả ghép tim, theo báo cáo của tổ 
chức ghép tim phổi quốc tế năm 2018, thì tỉ lệ 
sống thêm 4 năm sau mổ đạt 75 % ở người lớn, 
sau 10 năm đạt trên 50%, và sau 18 năm đạt 25% 
[5]. Ngoài tỉ lệ sống sau ghép tim được cải thiện, 
sự quan tâm hầu hết tại các quốc gia có ghép tim 
hiện nay là hướng đến nâng cao chất lượng cuộc 
sống (CLCS sau ghép) [7]; biến CLCS sau ghép 
tạng trở thành một tiêu chí đánh giá thành công 
của phẫu thuật đối với người bệnh được ghép 
tạng còn sống lâu dài sau ghép [8]. Kết quả dựa 
trên CLCS bệnh nhân ngày càng được nhấn mạnh 
khi đánh giá hiệu quả điều trị tổng thể. Các kết 
quả như vậy bao gồm các biện pháp nâng cao 
CLCS liên quan đến sức khỏe, là nguồn thông 
tin có giá trị trong việc xác định liệu bệnh 
nhân có được điều trị tốt hơn bằng các phương 
pháp điều trị y tế hay không [9],[10],[11]. 
Ngày nay, CLCS được xem là công cụ sử dụng 
phổ biến nhất trong y học nhằm: (1) lập kế 
hoạch chăm sóc lâm sàng cho bệnh nhân; (2) 
làm thước đo kết quả trong các thử nghiệm 
lâm sàng và nghiên cứu dịch vụ y tế; (3) đánh 
giá nhu cầu sức khỏe của cộng đồng; (4) hỗ trợ 
phân bổ nguồn lực hiệu quả. Phần lớn đánh giá 
CLCS được ưu tiên áp dụng giải quyết các vấn 
đề y tế mãn tính và nghiêm trọng. Công cụ SF-
36 là một phương pháp được sử dụng khá phổ 
biến đển đánh giá CLCS sau ghép tim [30]. 
Xuất phát từ tình hình thực tiễn nêu trên, 
được sự đồng ý của Hội đồng đạo đức bệnh viện 
Hữu nghị Việt Đức, chúng tôi tiến hành đề tài 
nghiên cứu “Đánh giá chất lượng cuộc sống 
người bệnh sau ghép tim từ người cho đa tạng 
chết não tại bệnh viện Việt Đức bằng công cụ SF-
36”; với các mục tiêu chính sau đây: (1) Mô tả 
một số đặc điểm chung của người bệnh nhận tim 
trước ghép tim từ người cho đa tạng chết não; (2) 
Đánh giá chất lượng cuộc sống người bệnh sau 
ghép tim tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức bằng 
công cụ SF-36. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
2.1. Đối tượng nghiên cứu: 
Bao gồm tất cả những bệnh nhân (người 
nhận tim) được phẫu thuật ghép tim tại bệnh viện 
Hữu nghị Việt Đức trong giai đoạn từ tháng 6/2012 
đến tháng 10/2019, đạt được các tiêu chuẩn sau: 
- Còn sống sau ghép tim ≥ 6 tháng (thời 
gian đủ để phục hồi sau phẫu thuật). 
- Người bệnh và gia đình đồng ý tham gia 
nghiên cứu. 
- Hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin phục vụ 
nghiên cứu. 
Loại trừ khỏi nghiên cứu các đối tượng: hoặc 
đã chết ở thời điểm thu thập số liệu nghiên cứu, 
hoặc người bệnh không đồng ý tham gia nghiên 
cứu, hay hồ sơ bệnh án không đầy đủ. Thời gian thu 
thập số liệu từ tháng 1 /8 /2019 đến 30 /4 / 2020. 
2.2. Phương pháp nghiên cứu: 
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô 
tả hồi cứu và tiến cứu. 
2.2.2. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu thuận tiện. 
2.2.3. Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng 
vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu trước và sau 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 7 
ghép tim về các thông tin chung, thông tin bệnh lý, 
chất lượng cuộc sống theo bộ câu hỏi SF36 
(phiên bản 1.0) - gồm 8 yếu tố về sức khỏe: hoạt 
động thể lực, các hạn chế do sức khỏe thể lực, các 
hạn chế do dễ xúc động, sinh lực, sức khỏe tinh 
thần, hoạt động xã hội, cảm giác đau, sức khỏe 
chung. Một số thông tin về tiền sử cũng như các 
thông tin về bệnh lý, phẫu thuật của đối tượng 
nghiên cứu được trích lấy từ bệnh án. 
2.2.4. Phương pháp phân tích số liệu: Số 
liệu định lượng sau khi thu thập được xử lý, nhập 
vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1 và được 
xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0 for Window cho 
các thông tin mô tả và phân tích thống kê. Áp 
dụng các phương pháp phân tích mô tả - tính tỉ lệ 
phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Sử 
dụng các thuật toán thống kê - mô tả tần suất, tỷ 
lệ cho các biến phân loại; mô tả trung bình 
(Mean) và độ lệch chuẩn (SD) cho các biến liên 
tục có phân bố chuẩn; mô tả trung vị (Median) và 
khoảng phân vị cho các biến liên tục không phân 
bố chuẩn. 
Điểm CLCS được đánh giá [30]: 
Từ 0 - 25  
Chất lượng cuộc sống 
kém 
Từ 26 - 50  
Chất lượng cuộc sống 
trung bình - kém 
Từ 51 - 75  
Chất lượng cuộc sống 
trung bình - khá 
Từ 76 - 100  
Chất lượng cuộc sống 
khá và tốt 
2.2.5. Đạo đức nghiên cứu: Đề tài được 
triển khai sau khi được Hội đồng khoa học bệnh viện 
thông qua. Đối tượng nghiên cứu được giải thích 
về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước 
khi tiến hành và chỉ thực hành khi có sự chấp 
nhận hợp tác của đối tượng tham gia nghiên cứu. 
Người nghiên cứu chỉ sử dụng các số liệu, thông 
tin thu thập được phục vụ cho mục đích nghiên 
cứu, không sử dụng cho mục đích nào khác. 
III. KẾT QUẢ 
Có 23 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa 
chọn vào nghiên cứu trong tổng số 29 ca ghép tim 
tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, tính tới thời 
điểm 30 /4 /2020. 
3.1. Đặc điểm người bệnh trước ghép tim 
- Đặc điểm dịch tễ học 
Bảng 1. Phân bố tuổi bệnh nhân vào thời điểm ghép tim 
Nhóm tuổi (năm) n Tỉ lệ % (n=23) 
≤18 3 13,0 
18-34 2 8,7 
35-49 10 43,5 
50-65 8 34,8 
Tuổi trung bình 41,7±15,2 (10 – 64). Nam giới có 18 ca (78,3%), nữ giới có 5 ca (21,7%). 
Phân bố bệnh nhân trước ghép theo nơi sinh sống: Nông thôn 11 ca (47,8%); Thành thị 12 ca (52,2%). 
Phân bố bệnh nhân trước ghép theo trình độ học vấn: Tiểu học - Trung học cơ sở 2 ca (đang 
học -8,6%); Phổ thông trung học 11 ca (47,8%); Cao đẳng, Đại học 10 ca (43,6%). 
Bảng 2. Phân bố bệnh nhân trước ghép theo nghề nghiệp 
Nghề nghiệp n Tỉ lệ % (n = 23) 
Cán bộ, viên chức 6 26,1 
Tự do 5 21,7 
Kinh doanh 4 17,4 
Hưu trí 1 4,3 
Làm ruộng, nông dân. 4 17,4 
Học sinh 3 13,1 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 8 
Phân bố bệnh nhân trước ghép theo tình 
trạng hôn nhân gia đình: 19/23 trường hợp có gia 
đình riêng (92,6%). 
Các đặc điểm cá nhân nhập viện trước ghép 
về lối sống: 14/23 trường hợp không hút thuốc lá 
(60,9%); 17/23 trường hợp không uống rượu 
(73,9%). 
Chỉ số BMI bình thường chiếm 78,3% (18 
ca); thiếu cân 21,7% (5 ca); không có thừa cân. 
Nhóm máu O chiếm 43,5% (10 ca); máu B 
chiếm 30,4% (7 ca); máu A chiếm 21,7% (5 ca); 
và máu AB chiếm 4,3% (1 ca) 
- Tình trạng kinh tế, chi phí điều trị: 
Tất cả người bệnh đều có Bảo hiểm y tế. 
Các chi phí ngoài bảo hiểm y tế được chi trả bởi 
bệnh nhân và gia đình họ (18 ca – 78,3%); bởi họ 
hàng thân thích (1 ca – 4,3%); bởi trợ giúp xã hội 
và họ hàng (4 ca – 17,4%). 
Phân bố bệnh nhân theo mức thu nhập gia 
đình thì hộ nghèo có 2 ca (8,7%); còn lại ở mức 
trung bình (52,2%) và khá giả (39,1%). 
- Một số đặc điểm bệnh lý: 
Bảng 3. Phân bố theo bệnh tim chính dẫn đến suy tim 
Nguyên nhân suy tim n Tỷ lệ % (n=23) 
Bệnh cơ tim giãn 21 91,3 
Bệnh động mạch vành 2 8,7 
Bảng 4. Phân bố tình trạng ưu tiên trước ghép theo UNOS [7]; NYHA và Chức năng tim (EF) 
Chỉ số n Tỷ lệ % (n=23) 
Loại Ia 9 39,3 
Loại Ib 11 47,8 Ưu tiên theo UNOS 
Loại II 03 13,0 
III 6 26,1 
III-IV 4 17,4 NYHA 
IV 13 56,5 
31-35 5 21,7 
21-30 13 56,6 EF (%) 
≤ 20 5 21,7 
Bảng 5. Phân bố theo thời gian phát hiện bệnh và số lần nằm viện 
Chỉ số n Tỉ lệ % (n=23) 
≤ 6 5 21,7 
7-12 4 17,4 
13-36 8 34,8 
Thời gian phát 
hiện bệnh (tháng) 
> 36 6 26,1 
< 3 0 0 
Số lần nằm viện 
≥ 3 23 100 
Phân bố theo các bệnh lý phối hợp: viêm (loét) dạ dày 2 ca (8,7%); suy thận 2 ca (8,7%); xơ gan 
tim 4 ca (17,4%); tiểu đường và Gout mỗi loại 1 ca (4,3%). 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 9 
3.2. Chất lượng cuộc sống người bệnh sau ghép tim: 
- Đánh giá chung: 
100% người bệnh trả lời họ được sự hỗ trợ tốt từ nhân viên y tế gia đình và xã hội sau ghép. 
Bảng 5. Thời gian sống sau ghép cứu tính đến thời điểm nghiên cứu 
Thời gian sống n Tỉ lệ % (n=23) 
6 - 12 tháng 5 21.7 
13 - 36 tháng 9 39.1 
37 - 60 tháng 5 21.7 
≥ 60 tháng 4 17.4 
Bảng 6. Nghề nghiệp bệnh nhân quay lại làm việc sau xuất viện 
Nghề nghiệp n Tỉ lệ % (n=23) 
Cán bộ, viên chức 6 26,1 
Không tham gia lao động 3 13,0 
Kinh doanh 6 26,1 
Hưu trí 1 4,3 
Làm ruộng, nông dân. 4 17,5 
Học sinh 3 13,0 
Nhận xét: phần lớn người bệnh (87%) người bệnh quay trở lại làm việc mà trước khi mắc bệnh 
họ đã làm. Cán bộ, viên chức làm công việc văn phòng đều đi làm việc lại bình thường sau 3 tuần xuất 
viện. Người bệnh tham gia công việc kinh doanh và học sinh, làm nông nghiệp công việc mức độ nhẹ 
cũng quay lại công việc trong vòng 2-3 tháng sau ra viện. Có 03 bệnh nhân không tham gia lao động 
do bệnh nhân và gia đình của họ không mong muốn tiếp tục đi làm. 
Bảng 7. Thời gian người bệnh ghép tim trở lại lao động làm việc 
Thời gian sau ra viện n Tỉ lệ % (n=20) 
3 tuần 7 35,0 
2 tháng 11 55,0 
3 tháng 2 10,0 
Lối sống của bệnh nhân sau ghép: có sự thay đổi nhiều, những bệnh nhân có hút thuốc và uống 
rượu bia trước ghép đã bỏ hẳn; và tình trạng khối cơ thể được kiểm soát: không béo phì và tình trạng 
cân nặng đều cải thiện sau ghép với BMI bình thường chiếm 87% (20 ca) và BMI hơi thấp 13% (3 ca). 
- Điểm CLCS đo lường bằng bộ công cụ SF-36: 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 10 
Bảng 8. Điểm CLCS của người bệnh sau ghép tim theo các lĩnh vực 
Lĩnh vực sức khỏe n TB Min Max SD 
Hoạt động về thể chất 23 86,0 65 100 9,8 
Sự giới hạn do vai trò sức khỏe thể chất 23 84,5 35 100 1,.2 
Sự đau đớn 23 92,1 55,0 100 12,0 
Sự giới hạn do vai trò sức khỏe tinh thần 23 85,1 33,3 100 3,4 
Năng lượng sống và sự mệt mỏi 23 85,9 65,0 100 2,2 
Trạng thái tâm lý 23 84,0 56,0 95 2,2 
Chức năng xã hội 23 79,1 50,0 100 2,8 
Hoạt động sức khỏe chung 23 82,3 50,0 95 10,0 
Bảng 9. Điểm CLCS của người bệnh sau ghép tim chung 
Lĩnh vực sức khỏe n TB Min Max SD 
Chất lượng sống tinh thần 23 83,5 65,5 98,0 8,7 
Chất lượng sống thể chất 23 86,3 57,5 97,5 9,5 
Chất lượng sống chung 23 84,9 61,5 97,8 8,8 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Đặc điểm người bệnh ghép tim từ 
người cho đa tạng chết não: 
Người bệnh có chỉ định ghép tim chủ yếu 
mắc các bệnh gây suy tim mạn tính, như các 
bệnh cơ tim giãn, viêm cơ tim, cơ tim hạn chế, 
mạch vành... Mặc dù có những tiến bộ trong 
điều trị kéo dài thời gian sống, suy tim mạn tính 
vẫn là nguyên nhân chính gây tử vong ở những 
người mắc bệnh tim mạch [12]. Suy tim có liên 
quan đến gánh nặng các triệu chứng tồi tệ, nhập 
viện thường xuyên và tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ 
mắc suy tim mạn tăng theo tuổi, và tiên lượng 
tương tự như tỷ lệ tử vong trong các bệnh lý 
ung thư ác tính nhất định [13]. Dữ liệu từ Cơ 
quan quản lý ung thư khu vực West Midlands ở 
Anh cho thấy tỷ lệ sống sót sau 1 năm của bệnh 
nhân suy tim mạn tồi tệ hơn ... máy) và 47,8% nhóm Ib (bệnh nhân 
mức độ nặng vừa phải dùng thuốc trợ tim liều 
thấp, phải nhập viện hoặc điều trị tại nhà). Trong 
báo cáo của Steven A. Farmer (2013) tại Mỹ với 
555 bệnh nhân ghép tim thì thuộc UNOS 1 có 
61,8%, và UNOS 2 có 38.2%; nghiên cứu của 
K.L.Grady (1998) thì UNOS 1 là 46% và UNOS 2 
là 54 %. Như vậy bệnh nhân trong nghiên cứu 
chúng tôi có phần nặng hơn, có thể do vấn đề ghép 
tim ở Việt Nam chưa được nhận thức rõ, nhiều 
người bệnh cố điều trị bảo tồn - trong khi đó trên 
thế giới, chỉ định ghép tim được nhiều người dân 
đăng ký khi bệnh ở mức độ nhẹ hơn. 
Mức độ nặng-suy tim theo NYHA: có 56,5 % 
người bệnh suy tim NYHA IV và 17% NYHA III-
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 13 
IV (triệu chứng cơ năng xảy ra ngay lúc nghĩ ngơi, 
chỉ một vận động thể lực nhẹ cũng gây triệu chứng 
cơ năng tăng), 26.1% suy tim NYHA III (hạn chế 
nhiều vận động thể lực, mặc dù bệnh nhân khỏe 
khi nghỉ ngơi nhưng chỉ cần vận động nhẹ đã có 
triệu chứng cơ năng), trong khi nghiên cứu của 
K.L.Grady (1998) với 219 bệnh nhân được ghép 
tim, thì suy tim NYHA IV chiếm 44%, và 52% 
NYHA III. Như vậy mức độ suy tim của chúng tôi 
cũng nặng hơn tương tự phân nhóm theo UNOS. 
4.2. Chất lượng cuộc sống người bệnh 
sau ghép: 
Cả 100% người bệnh trong nghiên cứu này 
cho rằng họ được người nhà và nhân viên y tế hỗ 
trợ tốt về cả tinh thần và thể chất sau ghép. Chúng 
tôi chọn bệnh nhân để đánh giá vào thời điểm 6 
tháng sau ghép tim về CLCS, vì theo nhiều 
nghiên cứu CLCS sau ghép tim, thì người bệnh 
sau ghép 6 tháng đã được ổn định về tình trạng 
phẫu thuật và có thể tái hòa nhập cộng đồng, 
trong nghiên cứu có 4 bệnh nhân sống trên 5 năm, 
9 bệnh nhân sống trên 3 năm từ ngày ghép tim. 
Trong nghiên cứu của K.L.Grady à cs (1998) [35] 
với 219 bệnh nhân 6 tháng sau ghép tim thì 
CLCS sau khi được ghép tim 6 tháng thay đổi độ 
rõ rệt so với người bệnh trước khi ghép. Những 
khác biệt về chất lượng cuộc sống là trong các 
lĩnh vực sau: chức năng thể chất và nghề nghiệp, 
trạng thái tâm lý và tương tác xã hội. 
Trong nghiên cứu này có hầu hết bệnh nhân 
(87%) quay lại làm việc công việc mà trước khi 
tình trạng mắc bệnh trở nên nghiêm trọng, bao 
gồm: 26,1 % làm kinh doanh, 26,1 làm cán bộ 
công - viên chức văn phòng, 17,5% làm nông 
nghiệp và 13,0% tiếp tục đi học; với thời gian 
quay lại công việc lần lược là sau ra viện 3 tuần 
(35%), 2 tháng (55%) và 3 tháng (10%); có 13% 
không tiếp tục làm việc mặc dù tình trạng sức 
khỏe ổn định do bản thân và gia đình của họ 
không muốn đi làm. Trong nghiên cứu của J.F. 
Delgado và CS (2015) [36] tại Tây Ban Nha - chỉ 
có 13,5% quay lại công việc sau 6 tháng và tăng 
lên 14,5% sau 60 tháng được ghép tim. Một 
nghiên cứu khác tại Đài Loan của Tseng và cs., 
2010 [28] thì 50 đối tượng (86% nam và 14% nữ) 
có độ tuổi 20-70 tuổi (trung bình 47,68), thời gian 
sau ghép tim từ 1 đến 4 năm, thì trong vòng 6 
tháng có 10% nhân viên hành chính hoặc nhà 
hàng và cảnh sát đã tiếp tục công việc; sau 6 đến 
12 tháng có 8% nhân viên hành chính, kiểm soát 
chất lượng và nhân viên thiết kế và lập kế hoạch 
đã tiếp tục công việc; sau 12 tháng có 14% các 
giáo viên, nhân viên bảo hiểm, quản lý, kỹ sư tin 
học và thợ sắt đã tiếp tục được công việc . 
Thay đổi lối sống người bệnh sau ghép: 
trước ghép tim có 39,1% bệnh nhân còn hút thuốc 
và 26,1% có uống rượu; tuy nhiên sau ghép đã 
thay đổi hoàn toàn - không có bệnh nhân tiếp tục 
hút thuốc lá và uống rượu; đây là kết quả tác 
động tích cực của nhân viên y tế và người nhà 
bệnh nhân. Trong một báo cáo tổng quan hệ 
thống của Patrick Hofmann và cs (2018) [37] dựa 
trên 15 nghiên cứu từ 1998 đến 2015 trên bệnh 
nhân sau ghép tim hoặc phổi, có khoảng 12-33% 
người bệnh tái hút thuốc lá sau ghép tim và là 
nguyên nhân gây tử vong lâu dài và các rối loạn 
sau ghép, tăng biến chứng ung thư. 
Về chỉ số khối cơ thể sau ghép tim (BMI): 
trong số 23 bệnh nhân được ghép tim hầu hết 
bệnh nhân đều tăng cân sau ghép, tuy nhiên 
không có bệnh nhân mắc béo phì, tỷ lệ BMI ở 
mức bình thường là 87%. Trong nghiên cứu của 
I.Milanniak và cs (2014) [38], có 32,54% là bình 
thường, 46,74% là thừa cân và 18,34% là béo phì, 
không quan sát thấy sự khác biệt thống kê giữa 
BMI trước và sau khi ghép; thừa cân và béo phì 
sau ghép tim là phổ biến và phản ánh yếu tố nguy 
cơ mắc bệnh mạch máu cơ tim và các bệnh tim 
mạch khác cũng như hội chứng chuyển hóa ở 
những người nhận tim ghép. 
Về điểm CLCS: hầu hết người bệnh trong 
nhóm nghiên cứu chúng tôi có tình trạng sức khỏe 
chung, sức khỏe tinh thần và thể chất đều ở mức 
khá và tốt, điểm sức khỏe chung trung bình 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 14 
84,9±8.8, trong đó sức khỏe khỏe tinh thần ở mức 
83±8,7, sức khỏe thể chất 86,3±9,5. CLCS trong 
nghiên cứu chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu 
của Phạm Văn Cường (2015) [39] trên 90 bệnh 
nhân suy tim mạn (30 van tim, 30 cao huyết áp và 
30 bệnh mạch vành) - đã được điều trị tích cực, 
với sức khỏe chung trung bình 80,2±16,1, trong đó 
sức khỏe khỏe tinh thần ở mức 83±8,7, sức khỏe 
thể chất 74,3±12,3. Trong nghiên cứu của Imran 
Saeed và cs (2008) sau 1 năm sức khỏe chung 57 
ca ghép tim: sức khỏe tinh thần 72 và sức khỏe thể 
chất 65; còn trong nghiên cứu của Antonella 
Galeone và cs (2014) [40] tại pháp trên nhóm 131 
bệnh nhân sống sau ghép tim 20 năm: điểm chất 
lượng cuộc sống chung là 69±16 (trung vị 75), 
chất lượng sức khỏe tinh thần 68±20 (trung vị 73), 
và sức khỏe thể chất 67±22 (trung vị 72). 
V. KẾT LUẬN 
Nghiên cứu trên 23 bệnh nhân sau ghép tim 
từ 6 tháng đến 9 năm tại bệnh viện Hữu nghị Việt 
Đức, thấy có các đặc điểm dịch tễ học tương tự 
như các nghiên cứu khác, nhưng tình trạng người 
bệnh trước ghép nặng hơn, người bệnh nhận được 
hỗ trợ tốt hơn từ gia đình và nhân viên y tế trước 
và sau ghép, và điểm chất lượng cuộc sống là khá 
tốt. Ghép tim là một chỉ định tốt cho người bệnh 
suy tim giai đoạn cuối nhờ cải thiện được tốt chất 
lượng cuộc sống người bệnh sau phẫu thuật. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. C. W. Yancy, M. Jessup, B. Bozkurt và 
cộng sự (2013). 2013 ACCF/AHA guideline for 
the management of heart failure: a report of the 
American College of Cardiology 
Foundation/American Heart Association Task 
Force on Practice Guidelines. J Am Coll Cardiol, 
62 (16), e147-239. 
2. A. S. S. Lois U. Nwakanma, John V. 
Conte, William A. Baumgartner (2008). Cardiac 
Surgery in the Adult., McGraw-Hill, New York. 
3. A. J. M. a. W. D. P. Abhinav Humar 
((2006)). Atlas of organ transplantation, Verlag 
London Limited 2006., Copyright Springer 
4. A. S. F. M. Harwin (1995 ). Manual of 
Cardiac surgery. Second edition., Copyright 1995 
by Spinger - Verlag New York, Inc. 
5. K. K. Khush, W. S. Cherikh, D. C. 
Chambers và cộng sự (2018). The International 
Thoracic Organ Transplant Registry of the 
International Society for Heart and Lung 
Transplantation: Thirty-fifth Adult Heart 
Transplantation Report-2018; Focus Theme: 
Multiorgan Transplantation. J Heart Lung 
Transplant, 37 (10), 1155-1168. 
6. N. H. Ước (2018). Ghép tim Hiện tại và 
tương lai ở Việt Nam. Tim mạch học, 
7. S. Beilby, R. Moss-Morris và L. Painter 
(2003). Quality of life before and after heart, lung 
and liver transplantation. The New Zealand 
Medical Journal (Online), 116 (1171), U381. 
8. E. L. Christie JD, Aurora P, et al. (2009). 
The Registry of the International Society for 
Heart and Lung Transplantation: Twenty-sixth 
Official adult lung and heart–lung report 2009. J 
Heart Lung Transplant, 28: 1031. 
9. B. F. W. J. K. E. M. RS; (1999). 
Outcomes research in surgery. World J Surg, 23, 
10. W. JG. (1999). Outcomes research: 
What to measure. . World J Surg, 23, 
11. A. G. F. R. (1994). A sociological 
perspective on health-related quality of life 
research. In: Albrecht GL Fitzpatrick R, eds. 
Advances in Medical Sociology, . Volume 5: 
Quality of Life in Health Care. Greenwich (CT: 
Jai Press Inc), 
12. K. Dickstein, P. E. Vardas, A. Auricchio 
và cộng sự (2010). 2010 Focused Update of ESC 
Guidelines on device therapy in heart failure: an 
update of the 2008 ESC Guidelines for the 
diagnosis and treatment of acute and chronic heart 
failure and the 2007 ESC Guidelines for cardiac 
and resynchronization therapy. Developed with the 
special contribution of the Heart Failure 
Association and the European Heart Rhythm 
Association. Europace, 12 (11), 1526-1536. 
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NGƯỜI BỆNH SAU GHÉP TIM TẠI BỆNH VIỆN HỮU NGHỊ VIỆT ĐỨC 
 15 
13. S. Stewart, K. MacIntyre, D. J. Hole và 
cộng sự (2001). More 'malignant' than cancer? 
Five-year survival following a first admission for 
heart failure. Eur J Heart Fail, 3 (3), 315-322. 
14. J. G. Cleland, A. Cohen-Solal, J. C. 
Aguilar và cộng sự (2002). Management of heart 
failure in primary care (the IMPROVEMENT of 
Heart Failure Programme): an international 
survey. Lancet, 360 (9346), 1631-1639. 
15. F. D. Hobbs, J. E. Kenkre, A. K. Roalfe 
và cộng sự (2002). Impact of heart failure and left 
ventricular systolic dysfunction on quality of life: 
a cross-sectional study comparing common 
chronic cardiac and medical disorders and a 
representative adult population. Eur Heart J, 23 
(23), 1867-1876. 
16. D. B. Bekelman, E. P. Havranek, D. M. 
Becker và cộng sự (2007). Symptoms, 
depression, and quality of life in patients with 
heart failure. J Card Fail, 13 (8), 643-648. 
17. T. Muller-Tasch, F. Peters-Klimm, D. 
Schellberg và cộng sự (2007). Depression is a 
major determinant of quality of life in patients 
with chronic systolic heart failure in general 
practice. J Card Fail, 13 (10), 818-824. 
18. J. Martensson, J. E. Karlsson và B. 
Fridlund (1997). Male patients with congestive 
heart failure and their conception of the life 
situation. J Adv Nurs, 25 (3), 579-586. 
19. J. Martensson, J. E. Karlsson và B. 
Fridlund (1998). Female patients with congestive 
heart failure: how they conceive their life 
situation. J Adv Nurs, 28 (6), 1216-1224. 
20. T. Jaarsma, P. Johansson, S. Agren và 
cộng sự (2010). Quality of life and symptoms of 
depression in advanced heart failure patients and 
their partners. Curr Opin Support Palliat Care, 4 
(4), 233-237. 
21. E. J. Stanek, M. B. Oates, W. F. McGhan 
và cộng sự (2000). Preferences for treatment 
outcomes in patients with heart failure: symptoms 
versus survival. J Card Fail, 6 (3), 225-232. 
22. F. Alla, S. Briancon, F. Guillemin và 
cộng sự (2002). Self-rating of quality of life 
provides additional prognostic information in 
heart failure. Insights into the EPICAL study. Eur 
J Heart Fail, 4 (3), 337-343. 
23. F. Rodriguez-Artalejo, P. Guallar-
Castillon, C. R. Pascual và cộng sự (2005). Health-
related quality of life as a predictor of hospital 
readmission and death among patients with heart 
failure. Arch Intern Med, 165 (11), 1274-1279. 
24. J. Juenger, D. Schellberg, S. Kraemer và 
cộng sự (2002). Health related quality of life in 
patients with congestive heart failure: comparison 
with other chronic diseases and relation to 
functional variables. Heart, 87 (3), 235-241. 
25. T. Hoekstra, I. Lesman-Leegte, D. J. 
van Veldhuisen và cộng sự (2011). Quality of life 
is impaired similarly in heart failure patients with 
preserved and reduced ejection fraction. Eur J 
Heart Fail, 13 (9), 1013-1018. 
26. M. Colvin-Adams, J. M. Smith, B. M. 
Heubner và cộng sự (2015). OPTN/SRTR 2013 
Annual Data Report: Heart. American Journal of 
Transplantation, 15 (S2), 1-28. 
27. H. H. Tung, H. L. Chen, J. Wei và cộng 
sự (2011). Predictors of quality of life in heart-
transplant recipients in Taiwan. Heart Lung, 40 
(4), 320-330. 
28. P. H. Tseng, S. S. Wang, C. L. Chang 
và cộng sự (2010). Job Resumption Status, 
Hindering Factors, and Interpersonal Relationship 
Within Post–Heart Transplant 1 to 4 Years as 
Perceived by Heart Transplant Recipients in 
Taiwan: A Between-Method Triangulation Study. 
Transplant Proc, 42 (10), 4247-4250. 
29. C. White-Williams, K. L. Grady, S. 
Myers và cộng sự (2013). The relationships among 
satisfaction with social support, quality of life, and 
survival 5 to 10 years after heart transplantation. J 
Cardiovasc Nurs, 28 (5), 407-416. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 30 - THÁNG 9/2020 
 16 
30. L. Sirri, C. Magelli 1 và S. Grandi 
(2011). Predictors of perceived social support in 
long-term survivors of cardiac transplant: the role 
of psychological distress, quality of life, 
demographic characteristics and clinical course. 
Psychology and Health, 26 (1), 77-94. 
31. T. I. S. FOR và H. A. L. 
TRANSPLANTATION (2017). Heart Transplant 
Demographics,https://ishltregistries.org/registries/q
uarterlyDataReportResults.asp?organ=HR&rptTyp
e=tx_demo&continent=6 
32. F. B. Trevizan, M. C. d. O. S. Miyazaki, 
Y. L. W. Silva và cộng sự (2017). Quality of Life, 
Depression, Anxiety and Coping Strategies after 
Heart Transplantation. Brazilian journal of 
cardiovascular surgery, 32 (3), 162-170. 
33. T. Kovacevic-Preradovic, R. Jenni, E. 
N. Oechslin và cộng sự (2009). Isolated Left 
Ventricular Noncompaction as a Cause for Heart 
Failure and Heart Transplantation: A Single 
Center Experience. Cardiology, 112 (2), 158-164. 
34. D. O. Taylor, J. Stehlik, L. B. 
Edwards và cộng sự (2009). Registry of the 
International Society for Heart and Lung 
Transplantation: Twenty-sixth Official Adult 
Heart Transplant Report-2009. J Heart Lung 
Transplant, 28 (10), 1007-1022. 
35. K. L. Grady, A. Jalowiec và C. White-
Williams (1998). Quality of life 6 months after 
heart transplantation compared with indicators of 
illness severity before transplantation. American 
Journal of Critical Care, 7 (2), 106-116. 
36. J. F. Delgado, L. Almenar, F. González-
Vilchez và cộng sự (2015). Health-related quality 
of life, social support, and caregiver burden 
between six and 120 months after heart 
transplantation: a Spanish multicenter cross-
sectional study. Clin Transplant, 29 (9), 771-780. 
37. P. Hofmann, C. Benden, M. Kohler và 
cộng sự (2018). Smoking resumption after heart 
or lung transplantation: a systematic review and 
suggestions for screening and management. 2018, 
10 (7), 4609-4618. 
38. I. Milaniak, P. Przybyłowski, K. 
Wierzbicki và cộng sự (2014). Post-
transplantation body mass index in heart 
transplant recipients: determinants and 
consequences. Transplant Proc, 46 (8), 2844-
2847. 
39. H. A. T. Phạm Văn Cường, Huỳnh Văn 
Minh (2015). Đánh giá chất lượng cuộc sống theo 
bảng SF- 36 trước và sau điều trị tích cực bệnh 
nhân suy tim mạn 
Trường Đại Học Y Dược Huế. 
40. A. Galeone, M. Kirsch, E. Barreda và 
cộng sự (2014). Clinical outcome and quality of 
life of patients surviving 20 years or longer after 
heart transplantation. Transplant International, 
27 (6), 576-582. 

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_nguoi_benh_sau_ghep_tim_tai_benh_vien_h.pdf