Chất lượng cuộc sống của trẻ hen phế quản

Hen phế quản (HPQ) là bệnh viêm mạn tính đường thở, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng

cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân.

Mục tiêu: Đánh giá CLCS của trẻ mắc HPQ theo thang điểm Juniper và tìm hiểu một số

yếu tố liên quan đến CLCS.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 trẻ HPQ từ 7-15 tuổi điều trị ngoại

trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Kết quả: Tỷ lệ nam /nữ là 2,7/1.Lứa tuổi: 85,7% trẻ tuổi 7-11 và 14,3% trẻ ở độ tuổi 12-

15. Tỷ lệ trẻ hen có chất lượng CS bị ảnh hưởng mức độ nặng chiếm 6,6%, mức độ trung bình

là 54,3 %. Biểu hiện hạn chế vận động ở trẻ HPQ ở 90,5% trẻ khi chạy, 46,7% khi leo cầu

thang, và 28,6% khi đạp xe. Mối liên quan: HPQ không kiểm soát hoặc kiểm soát một phần

có CLCS bị ảnh hưởng gấp 26,78 lần so với nhóm hen kiểm soát hoàn toàn. Nhóm trẻ bị hen

bậc > 2 có CLCS bị ảnh hưởng nặng hơn gấp 4,25 lần so với nhóm trẻ hen ≤ bậc 2. Nhóm

bệnh nhi không tuân thủ điều trị dự phòng thuốc hen có CLCS bị ảnh hưởng cao hơn gấp 5,55

lần so với nhóm trẻ tuân thủ dùng thuốc.

pdf 7 trang phuongnguyen 240
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống của trẻ hen phế quản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chất lượng cuộc sống của trẻ hen phế quản

Chất lượng cuộc sống của trẻ hen phế quản
NGHIÊN CỨU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG 
CỦA TRẺ HEN PHẾ QUẢN
Trịnh Thị Hậu1, Lê Huyền Trang1, Lê Thị Thu Hương1
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Hen phế quản (HPQ) là bệnh viêm mạn tính đường thở, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng 
cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân.
Mục tiêu: Đánh giá CLCS của trẻ mắc HPQ theo thang điểm Juniper và tìm hiểu một số 
yếu tố liên quan đến CLCS.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 105 trẻ HPQ từ 7-15 tuổi điều trị ngoại 
trú tại Bệnh viện Nhi Trung ương.
Kết quả: Tỷ lệ nam /nữ là 2,7/1.Lứa tuổi: 85,7% trẻ tuổi 7-11 và 14,3% trẻ ở độ tuổi 12-
15. Tỷ lệ trẻ hen có chất lượng CS bị ảnh hưởng mức độ nặng chiếm 6,6%, mức độ trung bình 
là 54,3 %. Biểu hiện hạn chế vận động ở trẻ HPQ ở 90,5% trẻ khi chạy, 46,7% khi leo cầu 
thang, và 28,6% khi đạp xe. Mối liên quan: HPQ không kiểm soát hoặc kiểm soát một phần 
có CLCS bị ảnh hưởng gấp 26,78 lần so với nhóm hen kiểm soát hoàn toàn. Nhóm trẻ bị hen 
bậc > 2 có CLCS bị ảnh hưởng nặng hơn gấp 4,25 lần so với nhóm trẻ hen ≤ bậc 2. Nhóm 
bệnh nhi không tuân thủ điều trị dự phòng thuốc hen có CLCS bị ảnh hưởng cao hơn gấp 5,55 
lần so với nhóm trẻ tuân thủ dùng thuốc.
Kết luận: trên 60% trẻ HPQ bị ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ và ở mức độ 
trung bình. Các yếu tố như mức độ nặng của hen, mức độ kiểm soát hen, sử dụng thuốc dự 
phòng hen và độ tuân thủ điều trị ảnh hưởng đến CLSC của người bệnh.
Từ khóa: Trẻ em, hen phế quản, chất lượng cuộc sống.
Abstract
QUALITY OF LIFE OF THE ASTHMATIC PATIENTS
Asthma is a chronic airway inflammation disease, affecting patients’ life quality.
Objectives: Assess the life quality of young patients with bronchial asthma on Juniper scale 
and learn some related factors.
1 Bệnh viện Nhi Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Trịnh Thị Hậu. Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 01/11/2018; Ngày phản biện khoa học: 08/11/2018; Ngày duyệt bài: 20/11/2018
66 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA TRẺ HEN PHẾ QUẢN
Methods: Conduct a survey on 105 asthma patients aged 7-15 years, who have undergone 
outpatient treatment at the National Hospital of Pediatrics.
Results: The ratio of male / female is 2.7 / 1. Age: 85.7% of the surveyed patients are 7-11 years 
old, and 14.3% are 12-15 years old. Asthma has serious impact on the life of 6.6% of the surveyed 
patients, and have medium impact on that of 54.3%. 90.5% of asthma children face movement 
restriction when running, 46.7% when climbing stairs, and 28.6% when cycling. Relations: 
Asthma affects the life quality of patients who are not treated or only partially treated 26.78 times 
higher than patients who are fully treated. Asthma affects the life quality of children with the 
disease at level 2 upwards 4.25 times more than those with the disease at level 2 downwards. The 
life quality of patients without asthma prophylaxis affected by this disease is 5.55 times higher 
than in those with preventive treatment.
Conclusion: The life quality of more than 60% of bronchial asthma children is reduced at an 
average level. Factors such as the severity of the disease, treatment, prophylaxis, and adherence 
to treatment affect patients’ life quality.
Keywords: Children, asthma, quality of life
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
HPQ là bệnh hô hấp mãn tính khá phổ 
biến và gặp ở mọi lứa tuổi đặc biệt ở trẻ em, 
và có xu hướng ngày càng tăng. Có tới 40% 
trẻ hen phế quản phải nghỉ học mỗi khi lên 
cơn hen cấp. HPQ diễn biến kéo dài gây ảnh 
hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của 
bệnh nhân, gia đình và xã hội.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu 
về CLCS của HPQ ở trẻ em còn chưa nhiều. 
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài 
với mục tiêu:
1. Đánh giá CLCS của trẻ HPQ từ 7-15 
tuổi theo thang điểm Juniper
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến 
CLCS của trẻ
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán 
HPQ, được theo dõi và quản lý tại khoa Miễn 
dịch - Dị ứng - Khớp BV Nhi Trung ương.
- Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Tuổi: 
Bệnh nhân từ 7 - 15 tuổi; Được chẩn đoán 
xác định HPQ theo tiêu chuẩn chẩn GINA 
2015[7]; Bệnh nhân ngoài cơn hen cấp; Đồng 
ý và hợp tác để trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn về 
“đánh giá chất lượng cuộc sống” của Juniper 
vào năm 1996 [1]
- Tiêu chuẩn loại trừ: Gia đình không đồng 
ý; bệnh nhi kèm các bệnh nặng khác.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 
loạt ca bệnh
2.2.2. Cỡ mẫu: Cỡ mẫu thuận tiện
2.2.3. Cách thực hiện:
- Bệnh nhân hen được giải thích, đồng 
ý tham gia nghiên cứu sẽ được đánh giá về 
mức độ nặng của bệnh hen (theo bậc), mức 
độ kiểm soát hen, mức độ tuân thủ điều trị; 
phỏng vấn bộ câu hỏi của Jupiter gồm 23 
câu để đánh giá chất lượng cuộc sống của trẻ 
HPQ. Bộ câu hỏi chia thành 3 lĩnh vực chính, 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 67
NGHIÊN CỨU
bao gồm: 10/23 câu về các triệu chứng thường 
ngày của hen; 8/23 câu về thay đổi cảm xúc và 
5/23 câu là các câu hỏi về hạn chế hoạt động 
thường ngày do HPQ. Câu hỏi đề cập về thay 
đổi các triệu chứng, cảm xúc, hoạt động trong 
vòng 1 tuần qua. Mỗi câu hỏi được chia theo 
thang điểm từ 1 đến 7, trong đó điểm 1 là mức 
độ ảnh hưởng nặng nhất và điểm 7 là không 
bị ảnh hưởng gì.
- Các thông số nghiên cứu sẽ được ghi lại 
theo một bệnh án thiết kế nghiên cứu thống 
nhất.
- Phân loại mức độ ảnh hưởng CLCS theo 
số điểm đánh giá: 6-7 điểm (ít bị ảnh hưởng); 
4-<6 điểm (mức trung bình) ; < 4 điểm ( mức 
nặng).
2.3. Phân tích và xử lí số liệu
Phân tích, xử lý số liệu bằng phần mềm 
SPSS 16.0 và các thuật toán của thống kê y 
học.
III. KẾT QUẢ
3.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên 
cứu:
Bảng 1. Thông tin về đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm Đơn vị
Số lượng 
(N=105)
Tỷ lệ %
Tuổi
7-11 tuổi
12-15 tuổi
90
15
85,7
14,3
Giới
Nam
Nữ
72
33
68,6
31,4
Mức độ nặng của bệnh hen
Bậc 1
Bậc 2
Bậc 3
6
49
50
5,7
46,7
47,6
Dự phòng 
Có
Không 
87
18
82,9
17,1
Tuân thủ điều trị
Có
Không
77
28
73,3
26,7
Nhận xét: Nhóm tuổi từ 7-11 điểm chiếm ưu thế, trẻ nam nhiều hơn nữ. Tỷ lệ trẻ dự phòng 
hen khá cao (82,9%), tuy nhiên 26,7 % không tuân thủ điều trị.
3.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống của trẻ HPQ theo thang điểm JUNIPER
Bảng 2. Phân loại chất lượng cuộc sống dựa thang điểm JUNIPER
Phân loại CLCS Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
CLCS ít bị ảnh hưởng (6-7 điểm) 41 39,1
CLCS ảnh hưởng trung bình (4-<6 điểm) 57 54,3
68 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA TRẺ HEN PHẾ QUẢN
Phân loại CLCS Số lượng (N) Tỷ lệ (%)
CLCS ảnh hưởng nặng nề (<4 điểm) 7 6,6
Tổng 105 100,0
Nhận xét: 60,9% bệnh nhân HPQ bị ảnh hưởng chất lượng cuộc sống, mức trung bình 
(54,3%), mức nặng (6,6 %).
Biểu đồ 1. Các hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất trong tuần qua
Nhận xét: Khi được hỏi về các hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất trong tuần qua cho thấy 
hoạt động chạy chiếm cao nhất (90,5%), sau đến leo cầu thang (47,6%), đạp xe (28,6%), hét 
to (19,0%).
3.3. Một số yếu tố liên quan đễn chất lượng cuộc sống của trẻ mắc HPQ
Bảng 3. Mối liên quan giữa phân loại bậc hen và CLCS
Bậc hen
Chất lượng cuộc sống
OR (95% CI)
Bị ảnh hưởng Ít bị ảnh hưởng
>Bậc 2 39 (78,0) 11 (22,0)
4,25 (1,71-10,57)
≤ Bậc2 25 (45,4) 30 (54,6)
Nhận xét: trẻ bị hen bậc càng cao thì CLCS càng bị ảnh hưởng.
Bảng 4. Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát hen với CLCS
Mức độ kiêm soát hen
Chất lượng cuộc sống
OR (95% CI)
Bị ảnh hưởng Ít bị ảnh hưởng
Một phần hoặc không kiểm soát 62 (73,8) 22 (26,2)
26,78 (4,35-164,61)
Hoàn toàn 2 (9,5) 19 (90,5)
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 69
NGHIÊN CỨU
Nhận xét: Nhóm bệnh nhi chỉ kiểm soát hen một phần hoặc không kiểm soát bị ảnh hưởng 
CLCS cao gấp 26,78 lần so với nhóm hen kiểm soát hen hoàn toàn. Sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê với 95%CI=4,35-164,61.
Bảng 5. Mối liên quan giữa điều trị dự phòng hen và CLCS 
Điều trị dự phòng hen
Chất lượng cuộc sống χ²
(p)Bị ảnh hưởng Ít bị ảnh hưởng
Không điều trị dự phòng 18 (100,0) 0 (0,0)
0,00
Có điều trị dự phòng 46 (52,9) 41 (47,1)
Nhận xét: Nhóm bệnh nhi hen không điều trị dự phòng tỷ lệ CLCS bị ảnh hưởng nhiều có 
ý nghĩa thống kê so với nhóm điều trị dự phòng với p<0,05.
Bảng 5. Mối liên quan giữa tuân thủ dùng thuốc với CLCS
Tuân thủ dùng thuốc
Chất lượng cuộc sống
OR (95% CI)
Bị ảnh hưởng Ít bị ảnh hưởng
Không tuân thủ 24 (85,7) 4 (14,3)
5,55 (1,65-18,66)
Có tuân thủ 40 (51,9) 37 (48,1)
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân hen không tuân thủ điều trị CLCS bị ảnh hưởng cao gấp 5,55 
lần so với nhóm bệnh nhân tuân thủ thuốc.
IV. BÀN LUẬN
HPQ là bệnh khá phổ biến ở nước ta cũng 
như nhiều nước trên thế giới, trong nhóm 
nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hen phế 
quản chủ yếu gặp ở độ tuổi từ 7- 11 tuổi chiếm 
85,7%, gặp ở trẻ nam cao hơn trẻ nữ (68,6% 
và 31,4%) với tỷ lệ nam/nữ là 2,17/1. Kết quả 
này tương đồng với nghiên cứu của Đoàn 
Thị Thanh Bình năm 2012 với tỷ lệ nam/nữ 
là 1,88/1 chủ yếu gặp lứa tuổi 7-11 tuổi với 
90,7% [2].
Điểm trung bình CLCS của các trẻ HPQ 
tham gia nghiên cứu là 5,46/7 điểm, nghĩa là 
HPQ có ảnh hưởng nhưng ở mức độ trung 
bình đến CLCS của trẻ HPQ. Kết quả này 
khác biệt so với nghiên cứu của Đoàn Thị 
Thanh Bình có điểm trung bình CLCS ở trẻ 
12-15 tuổi thấp hơn trẻ 7-11 tuổi [2]. Nguyên 
nhân do cha mẹ trẻ đã có hiểu biết hơn, đưa 
trẻ đến khám sớm, tuân thủ điều trị dự phòng 
tốt hơn. Mặt khác, vấn đề dự phòng HPQ 
ngày càng được chú trọng trong điều trị, các 
quy trình chăm sóc bệnh nhân HPQ hiện nay 
được chuẩn hóa phổ biến không chỉ ở tuyến 
trên mà còn ở các bệnh viện tuyến dưới.
Các biểu hiện hạn chế hoạt động là một 
tiêu chí để đánh giá CLCS ở trẻ HPQ, theo 
nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cộng sự 
kết quả hoạt động chạy là hoạt động bị ảnh 
hưởng nhiều nhất với 5,21 điểm [3]. Nghiên 
cứu của giả K Reichenberg và cộng sự cũng 
cho kết quả tương tự, chạy là hoạt động bị 
hạn chế nhiều nhất ở trẻ HPQ chiếm 74% 
các hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất [1]. 
Nghiên cứu của chúng tôi khi được hỏi về 
3 hoạt động bị ảnh hưởng nhiều nhất trong 
tuần: hoạt động chạy được trẻ nhắc đến nhiều 
nhất (chiếm 90,5%), hoạt động leo cầu thang 
70 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA TRẺ HEN PHẾ QUẢN
(47,6%), đạp xe (28,6%), hét (19,0%). Ngoài 
ra, một số hoạt động khác được nhắc đến 
như: đi bộ lên dốc, chơi trong giờ giải lao, ca 
hát, (chiếm tỷ lệ nhỏ, đều <2%).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho 
thấy, nhóm trẻ HPQ trên bậc 2 có CLCS bị 
ảnh hưởng nặng hơn gấp 4,25 lần nhóm trẻ 
HPQ ≤ bậc2, với 95%CI=1,71-10,57. Kết quả 
này của chúng tôi khá tương đồng với nghiên 
cứu của Graham DM và cộng sự, CLCS có 
mối tương quan tuyến tính ngược với bậc 
hen, bậc hen càng thấp, CLCS càng cao[4].
Mối liên quan giữa mức độ kiểm soát hen 
với chất lượng cuộc sống: Nhóm chỉ kiểm 
soát hen một phần hoặc không kiểm soát hen 
có CLCS bị ảnh hưởng gấp 26,78 lần so với 
nhóm kiểm soát hen hoàn toàn, với độ tin cậy 
95%CI=4,35-164,61. Kết quả này của chúng 
tôi khá phù hợp với các nghiên cứu khác. 
Theo Carranza R và công sự cũng chỉ ra mối 
liên quan trực tiếp giữa mức độ kiểm soát hen 
và CLCS [5]. Trong nghiên cứu của Đoàn Thị 
Thanh Bình, điểm CLCS tăng dần theo mức 
độ kiểm soát hen. Nhóm hen không kiểm 
soát là 5,05 điểm, hen kiểm soát 1 phần là 
5,72 điểm và hen kiểm soát hoàn toàn là 5,99 
điểm [2].
Kết quả cho thấy có mối liên quan có 
ý nghĩa thống kê giữa tuân thủ dùng thuốc 
điều trị hen với chất lượng cuộc sống: Nhóm 
không tuân thủ dùng thuốc điều trị hen có 
CLCS bị ảnh hưởng cao hơn gấp 5,55 lần 
nhóm trẻ tuân thủ dùng thuốc. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi có 87 trẻ có điều trị dự 
phòng hen và có sự khác biệt có ý nghĩa thống 
kê giữa nhóm có điều trị dự phòng và không 
điều trị dự phòng hen, mức ý nghĩa thống 
kê với p<0,05. Nhóm trẻ không điều trị dự 
phòng hen có tỷ lệ CLCS bị ảnh hưởng nhiều 
hơn ở nhóm có điều trị dự phòng hen.
V. KẾT LUẬN:
Hen phế quản ảnh hưởng đến chất lượng 
cuộc sống của trẻ hen ở mức độ trung bình. 
Các hoạt động thường bị hạn chế là chạy 
nhảy, leo cầu thang và đi xe đạp. Các yếu tố 
liên quan đến chất lượng cuộc sống bao gồm: 
mức độ nặng của bệnh hen, mức độ kiểm soát 
hen, việc điều trị dự phòng và vấn đề tuân thủ 
điều trị.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. K Reichenberg và AG Broberg (2000), ” Quality of life in childhood asthma: use of 
the Paediatric Asthma Quality of Life Questionnaire in a Swedish sample of children 
7 to 9 years old”, Acta Pædiatr(89), 989-995.
2. Đoàn Thị Thanh Bình (2012), Nghiên cứu chất lượng cuộc sống của hen phế quản và 
một số yếu tố ảnh hưởng, Luận văn Thạc sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội.
3. Lê Thanh Hải và Lê Thị Minh Hương (2013), ”Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất 
lượng cuộc sống của bệnh nhi hen phế quản tại bệnh viện Nhi trung ương”, Y học 
thực hành. 4(867), 21-24.
4. Graham DM, Blaiss MS, Bayliss MS et al (2000), ”Impact of changes in asthma 
severity on heath-related quality of life in pediatric and adult asthma patients: results 
from the asthma outcomes mornitoring system”, Allergy Asthma Proc. 21, 151-158.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018) I 71
NGHIÊN CỨU
5. Carranza R, Jr Edwards L, Lincourt W et al (2004), ”The relationship between health-
related quality of life, lung function and daily symptoms in patients with persistent 
asthma”, Respir Med. 98, 1157-1165.
6. Levy JI, Welker-Hood LK, Lougherty JE et al (2004), ”Lung function, asthma 
symptoms, and quality of life for children in public housing in Boston: a case-series 
analysis”, Environmental Health: A Global Access Science, 3-13.
7. Global Strategy for Asthma Management and Prevention (2015 update). The GINA 
reports are available on www.ginasthma.org. GINA BOARD OF DIRECTORS*. J. 
Mark FitzGerald, MD, Chair. University of British ...
72 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 6 (12-2018)

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_cua_tre_hen_phe_quan.pdf