Chẩn đoán và xử trí chửa tại vết mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Mục tiêu: Mô tả các phương pháp chẩn đoán, xử trí và một số yếu tố

liên quan đến kết quả xử trí chửa vết mổ lấy thai (CVMLT).

Đối tượng và phương pháp: phương pháp mô tả hồi cứu có theo dõi dọc trên

45 bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 01/01/2013-30/09/2016.

Kết quả: Tỷ lệ chửa vết mổ lấy thai /mổ lấy thai là 0,15%, chửa vết mổ

lấy thai /chửa ngoài tử cung là 1,08%. Tuổi thai trung bình phát hiện chửa

vết mổ là 5,9 ± 1,5 tuần (tuổi thai nhỏ nhất là 4 tuần, lớn nhất là 9 tuần).

Các phương pháp xử trí ban đầu gồm: hút thai đơn thuần chiếm 60%, hút

thai + chèn bóng 31%, hút thai + MTX 8,9%. Tỷ lệ thành công là 100%

ở tuổi thai <6 tuần,="" 92%="" ở="" thai="" 6-8="" tuần,="" 77%="" ở="" thai="">8 tuần. Siêu âm

Doppler có hình ảnh nhiều mạch máu tăng sinh vùng vết mổ làm tăng

nguy cơ điều trị thất bại lên 7,2 lần so với ít mạch máu tăng sinh (p <>

Kết luận: Các trường hợp chửa vết mổ lấy thai mà tuổi thai ≤8 tuần có

thể hút thai, chèn bóng nếu có chảy máu; tuổi thai >8 tuần nên kết hợp

nhiều phương pháp xử trí khác nhau. Khuyến cáo các thai phụ có sẹo mổ

lấy thai cũ nên khám sớm, nhất là khi có dấu hiệu bất thường; các tuyến

cơ sở khi phát hiện chửa vết mổ lấy thai, cần chuyển tuyến kịp thời tránh

tai biến cho bệnh nhân

pdf 7 trang phuongnguyen 140
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán và xử trí chửa tại vết mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán và xử trí chửa tại vết mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng

Chẩn đoán và xử trí chửa tại vết mổ lấy thai tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng
NGUYỄN VĂN HỌC, LÊ THỊ HOÀN, NGUYỄN HOÀNG TRANG
100
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Nguyễn Văn Học(2), Lê Thị Hoàn(2), Nguyễn Hoàng Trang(1) 
(1) Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, (2) Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng 
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ CHỬA TẠI VẾT MỔ LẤY THAI
TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HẢI PHÒNG
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Nguyễn Hoàng Trang, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 01/03/2017
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/03/2017
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 28/04/2017
Từ khóa: chửa vết mổ lấy thai.
Keywords: cesarean scar 
pregnancy.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả các phương pháp chẩn đoán, xử trí và một số yếu tố 
liên quan đến kết quả xử trí chửa vết mổ lấy thai (CVMLT). 
Đối tượng và phương pháp: phương pháp mô tả hồi cứu có theo dõi dọc trên 
45 bệnh nhân tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng từ 01/01/2013-30/09/2016. 
Kết quả: Tỷ lệ chửa vết mổ lấy thai /mổ lấy thai là 0,15%, chửa vết mổ 
lấy thai /chửa ngoài tử cung là 1,08%. Tuổi thai trung bình phát hiện chửa 
vết mổ là 5,9 ± 1,5 tuần (tuổi thai nhỏ nhất là 4 tuần, lớn nhất là 9 tuần). 
Các phương pháp xử trí ban đầu gồm: hút thai đơn thuần chiếm 60%, hút 
thai + chèn bóng 31%, hút thai + MTX 8,9%. Tỷ lệ thành công là 100% 
ở tuổi thai 8 tuần. Siêu âm 
Doppler có hình ảnh nhiều mạch máu tăng sinh vùng vết mổ làm tăng 
nguy cơ điều trị thất bại lên 7,2 lần so với ít mạch máu tăng sinh (p <0,05). 
Kết luận: Các trường hợp chửa vết mổ lấy thai mà tuổi thai ≤8 tuần có 
thể hút thai, chèn bóng nếu có chảy máu; tuổi thai >8 tuần nên kết hợp 
nhiều phương pháp xử trí khác nhau. Khuyến cáo các thai phụ có sẹo mổ 
lấy thai cũ nên khám sớm, nhất là khi có dấu hiệu bất thường; các tuyến 
cơ sở khi phát hiện chửa vết mổ lấy thai, cần chuyển tuyến kịp thời tránh 
tai biến cho bệnh nhân.
Từ khóa: chửa vết mổ lấy thai.
Abstract 
STUDY OF DIAGNOSIS AND MANAGEMENT OF 
CESAREAN SCAR PREGNANCY AT HAI PHONG 
OBSTETRICS AND GYNECOLOGY HOSPITAL 
Background: To determine the rate and describe the methods of 
diagnosis, management and some factors related to the outcomes of 
cesarean scar pregnancy (CSP). 
Subjects and methods: retrospective describtive and longitudinal 
follow-up study of 45 patients at Hai Phong Obstetric and Gynecology 
hospital from 1st January 2013 to 30th September 2016. 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 100 - 106, 2017
101
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Results: CSP/ Caesarean section was 0.15 %, CSP/ Pregnancy ectopic was 1,08% . The mean 
of gestation age at time of CSP diagnosis was 5.9 ± 1.5 weeks (minimum was 4 weeks, maximum 
was 9 weeks). The primary management methods include: suction (60%), suction + balloon (31%), 
suction + MTX (8.9%). The successful rate was 100% at gestational age of less than 6 weeks, 92% 
at 6-8 weeks of gestational age, 77% over 8 weeks of gestational age. Doppler ultrasonography with 
multiple angiographic angiograms in incision area increased the risk of failure (p <0.05) by 7,2 times. 
Conclusions: CSP at gestational age of less than 8 weeks could be managed by suctioning and 
balloonating when bleeding occurs; CPS at Gestational age of over 8 weeks should be managed 
by many different management strategies. It is recommended that pregnant women with history of 
cesarean section should consult the obstetricians early especially when abnormal signs presented; 
When patients diagnosed with CSP at primary medical stations, they must be transferred to obstetric 
hospitals to prevent severe complications. 
Keywords: cesarean scar pregnancy.
1. Đặt vấn đề
Ngày nay xu hướng mổ lấy thai ngày càng 
tăng dẫn đến tỉ lệ chửa vết mổ lấy thai (CVMLT) 
cũng ngày càng tăng. Việc nạo hút đối với những 
thai nằm đúng vị trí trong buồng tử cung ở các sản 
phụ có sẹo mổ đẻ cũ đã khó, hút thai chửa tại vị 
trí vết mổ còn khó khăn gấp bội, bởi có khả năng 
gây ra những tai biến nặng như băng huyết, nứt, 
vỡ sẹo mổ cũ, thậm chí phải truyền máu, cắt tử 
cung bán phần. Trên thế giới và trong nước đã có 
một số nghiên cứu về phương pháp điều trị CVMLT 
song hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất. Nghiên 
cứu này được thực hiện với mong muốn tìm hiểu 
bệnh lý, đưa ra phương pháp xử trí ban đầu đối 
với các trường hợp CVMLT, rút kinh nghiệm trong 
chẩn đoán và nâng cao hiệu quả điều trị, nhằm 
mục đích giảm được các tai biến nguy hiểm cho 
bệnh nhân, đặc biệt có thể đảm bảo được chức 
năng sinh sản cho người phụ nữ sinh sống tại Hải 
Phòng nói riêng và các khu vực lân cận thuộc vùng 
duyên hải Bắc Bộ nói chung. Mục tiêu nghiên cứu: 
mô tả các phương pháp chẩn đoán, xử trí và một 
số yếu tố liên quan đến kết quả xử trí chửa tại vết 
mổ lấy thai tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng từ 
01/01/2013 đến 30/09/2016 .
2. Đối tượng và phương pháp
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân có hồ sơ bệnh án được 
chẩn đoán ra viện là CVMLT, điều trị tại BVPS Hải 
Phòng từ 01/01/2013 - 30/9/2016.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Tử cung có sẹo mổ lấy thai cũ
- Bệnh án có mô tả các triệu chứng khám lâm 
sàng, siêu âm chẩn đoán là CVMLT
- Xét nghiệm mô bệnh học sau hút, nạo, mổ lấy 
khối chửa: có tổ chức rau thai. 
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Những bệnh án không có đủ thông tin nghiên cứu
- Kết quả xét nghiệm mô bệnh học: không có 
rau thai 
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: mô tả hồi cứu có theo dõi 
dọc. Lập hồ sơ nghiên cứu cho từng BN từ lúc vào 
NGUYỄN VĂN HỌC, LÊ THỊ HOÀN, NGUYỄN HOÀNG TRANG
102
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
viện, theo dõi sau điều trị tới khi các dấu hiệu lâm 
sàng và cận lâm sàng trở về bình thường.
- Cỡ mẫu: Chọn mẫu thuận tiện, không xác 
xuất. Có 45 BN đủ tiêu chuẩn lựa chọn nói trên.
2.4. Xử lý số liệu
Phương pháp thống kê y học, phần mềm SPSS 
16.0, thuật toán χ2, Fisherđể so sánh 2 tỷ lệ theo 
bảng. Tính OR và 95% CI của OR giữa các biến 
độc lập hay phụ thuộc. 
3. Kết quả
3.1. Tỉ lệ chửa tại vết mổ lấy thai 
Nhận xét: 
- Tỷ lệ CVMLT/CNTC trong 3 năm 2013, 2014 
và 2015 tăng dần theo thời gian; 9 tháng đầu năm 
2016 giảm còn 0,71% (p< 0,05).
- Tỷ lệ CVMLT/MLT năm 2013, 2014 và 9 
tháng đầu năm 2016 là tương tự nhau (p> 0,05).
3.2. Chẩn đoán chửa tại vết mổ lấy thai
Nhận xét: Lý do chính khiến BN CVMLT đi 
khám là chậm kinh, thử Quick (+) (42,2%), tiếp 
đến là ra máu âm đạo (33,3%), đau bụng hạ vị 
(22,2%); 01 BN (2,2%) tình cờ phát hiện bệnh khi 
đi khám phụ khoa.
Biểu đồ 3. Nhận xét: 100% các trường hợp khám 
thấy CTC tím, dài đóng kín, di động TC bình thường, 
cùng đồ sau không đầy, không đau; 39 trường hợp 
(86,7%) khối lượng TC tương xứng với tuổi thai; 2 
Biểu đồ 1. Tỷ lệ chửa tại vết mổ lấy thai
Biểu đồ 2. Lý do chính khiến bệnh nhân đi khám
Biểu đồ 3. Triệu chứng thực thể
trường hợp (4,4%) di động tử cung đau; 9 BN (20%) 
khám thấy dấu hiệu phình đoạn eo TC.
Nhận xét: 30 BN (66,7%) có Doppler vùng vết 
mổ tăng sinh mạch máu ít, 15 BN vùng vết mổ tăng 
sinh mạch máu nhiều. 100% các trường hợp buồng tử 
cung trống, niêm mạc TC dày.
3.3. Phương pháp xử trí và kết quả
Nhận xét: Tỷ lệ thành công chung là 91,1%; 
04/45 trường hợp hút + chèn bóng thất bại chuyển 
mổ, trong đó 02 ca chuyển mổ cắt khối chửa & bảo 
tồn TC, 02 ca còn lại chuyển mổ cắt TC bán phần.
Nhận xét:
- Hút thai đơn thuần được chỉ định chủ yếu cho 
tuổi thai <8 tuần (83,3%).
- Hút thai + chèn bóng chủ yếu được áp dụng 
cho tuổi thai >8 tuần (88,9%).
Biểu đồ 4. Các dấu hiệu trên siêu âm
Kết quả
Xử trí
Thành công Thất bại P
N % N %
Hút thai đơn thuần 27 100 0 0
0,07Hút tai + chèn bóng 10 71,4 4 28,6
Hút thai + MTX 4 100 0 0
Tổng 41 91,1 4 8,9
Bảng 1. Các phương pháp xử trí ban đầu và kết quả
Tuổi thai (tuần)
Xử trí
 8 P
N % N % N %
Hút thai đơn thuần 16 66,7 10 83,3 1 11,1
<0,001Hút tai + chèn bóng 6 25 0 0 8 88,9
Hút thai + MTX 2 8,3 2 16,7 0 0
Bảng 2. Liên quan giữa phương pháp xử trí ban đầu và tuổi thai
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 100 - 106, 2017
103
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
Nhận xét:
- Trong số 27 trường hợp được chỉ định hút thai 
đơn thuần: 25 BN (92,6%) có SÂ doppler vùng vết 
mổ ít mạch máu tăng sinh và 2 BN (7,4%) có nhiều 
mạch máu tăng sinh.
- Hút thai + chèn bóng và hút thai + MTX: được 
chỉ định điều trị cho những trường hợp SÂ Doppler 
vùng vết mổ có nhiều mạch máu tăng sinh.
Nhận xét: Tỷ lệ thành công trong xử trí ban đầu 
CVMLT giảm dần theo tuổi thai: 100% ở tuổi thai 
< 6 tuần; 91,7% ở tuổi thai 6- 8 tuần và 66,7% ở 
thai > 8 tuần. 
Nhận xét: SÂ Doppler có hình ảnh nhiều mạch 
máu tăng sinh vùng vết mổ làm tăng nguy cơ thất bại 
lên 7,2 lần so với ít mạch máu tăng sinh (p= 0,04).
4. Bàn luận
4.1. Tỉ lệ chửa tại vết mổ lấy thai
Theo bảng 6, tỷ lệ CVMLT/MLT và CVMLT/
CNTC trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so 
với một số tác giả trong và ngoài nước. Điều này 
có thể giải thích là do phụ nữ Việt Nam còn chịu 
ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam khinh nữ, dẫn 
đến sinh đẻ nhiều, tỉ lệ mổ đẻ của nước ta lại cao, 
Doppler vùng vết mổ
Xử trí
Ít mạch máu tãng sinh Nhiều mạch máu tăng sinh P
N % N %
Hút thai đơn thuần 25 83,3 2 13,3
< 0,001Hút tai + chèn bóng 4 13,3 10 66,7
Hút thai + MTX 1 3,3 3 20
Bảng 3. Liên quan giữa phương pháp xử trí ban đầu và Doppler vùng vết mổ
Kết quả
Tuổi thai (tuần)
Thành công Thất bại P
N % N %
< 6 24 100,0 0 0
0,0136 – 8 11 91,7 1 8,2
> 8 6 66,7 3 33,3
Bảng 4. Liên quan giữa kết quả xử trí ban đầu và tuổi thai
Kết quả 
Doppler Vùng vết mổ
Thành công Thất bại
OR 95%CI P
N % N %
Nhiều mạch máu tăng sinh 12 80 3 20
7,2 1,8–76,8 0,04
Ít mạch máu tăng sinh 29 96,7 1 3,3
Bảng 5. Liên quan giữa kết quả xử trí ban đầu và Doppler vùng vết mổ
Tác giả Năm CVMLT/CNTC (%) CVMLT/MLT (%)
Rotas [1] 2007 0,05
Diêm T.Thanh Thủy [2] 2009 0,11% 0,33
Timor [3] 2013 0,12% 0,04
Nghiên cứu này 2013 - 2016 0,15% 1,08%
Bảng 6. Tỉ lệ chửa tại vết mổ lấy thai theo các tác giả
mặt khác tỉ lệ có thai ngoài ý muốn lớn hơn nhiều 
so với các nước phát triển, dẫn đến tần suất CVMLT 
cao. Mặt khác, việc trang bị các thiết bị hiện đại 
đã góp phần rất lớn cho các bác sỹ sản khoa chẩn 
đoán sớm các trường hợp CVMLT nên ít bỏ sót các 
ca bệnh. Timor [3] khẳng định còn rất nhiều trường 
hợp CVMLT bị bỏ sót hoặc chưa được báo cáo, 
việc xử trí muộn có thể gây nên nhiều biến chứng 
nặng nề. 
4.2. Chẩn đoán chửa tại vết mổ lấy thai
4.2.1. Triệu chứng cơ năng
19 trường hợp đến khám vì chậm kinh, Quick 
(+), 15 BN ra máu âm đạo dai dẳng, 10 BN đau 
bụng hạ vị, 1 BN ko có triệu chứng cơ năng đến 
khám tình cờ phát hiện CVMLT (22%). Theo Diêm 
Thanh Thủy, Đinh Quốc Hưng, triệu chứng ra máu 
âm đạo gặp nhiều nhất với tỷ lệ là 64% & 68%, 
tiếp đến là đau bụng hạ vị với tỷ lệ là 20% & 25% 
[2] [4]. Rotas tổng hợp 59 bài báo với 1452 ca 
CVMLT thấy >50% các trường hợp không có triệu 
chứng lâm sàng chỉ phát hiện tình cờ khi đi khám 
bệnh [1]. Như vậy có thể thấy triệu chứng lâm sàng 
CVMLT nghèo nàn, không đặc hiệu, thường nhầm 
lẫn với các trường hợp có thai thông thường khác. 
Bởi vậy cần khuyến cáo các thai phụ nhất là các 
trường hợp có sẹo MLT cũ nên đi siêu âm phát hiện 
thai sớm ngay khi chậm kinh 1 tuần để sớm phát 
hiện CVMLT nếu có. 
4.2.2. Triệu chứng thực thể
45 trường hợp đều có các dấu hiệu khám thực 
thể như một trường hợp có thai thông thường trong 
buồng tử cung, đặc biệt 9 BN khi khám qua cùng 
đồ trước thấy có hiện tượng phình đoạn eo tử cung. 
Điều này hoàn toàn hợp lí vì mặc dù CVMLT được 
coi là một dạng của CNTC nhưng nó lại nằm ở 
đoạn dưới tử cung tại vị trí vết mổ, nên các triệu 
chứng thực thể gần như giống chửa đúng vị trí trừ 
một số trường hợp thai to, nguy cơ vỡ sẹo mổ cũ thì 
bệnh nhân có thể có dấu hiệu đau hoặc choáng. 
Trong nghiên cứu này chúng tôi không quan sát 
thấy trường hợp nào đau bụng nhiều. 
4.2.3. Triệu chứng cận lâm sàng
30 trường hợp (66,7%) Doppler vùng sẹo mổ 
tăng sinh mạch máu ít, 15 trường hợp Doppler 
vùng sẹo mổ tăng sinh mạch máu nhiều. Vị trí túi 
thai trên SÂ và Doppler mạch máu vùng vết mổ 
rất có giá trị trong chỉ định điều trị và tiên lượng 
NGUYỄN VĂN HỌC, LÊ THỊ HOÀN, NGUYỄN HOÀNG TRANG
104
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
bệnh. Chúng tôi không nghiên cứu được xu hướng 
phát triển của thai so với buồng tử cung hay bàng 
quang vì các bác sĩ SÂ không đọc, nhưng theo 
nghiên cứu của Diêm Thanh Thủy: 67% trường hợp 
túi thai có xu hướng phát triển về phía buồng tử 
cung, có ít mạch máu tăng sinh nên tỉ lệ điều trị 
thành công cao và không có tai biến; 19% túi thai 
ở phía trung gian (ở trong cơ tử cung và ăn sâu vào 
sẹo mổ), mạch máu tăng sinh không nhiều, xử trí 
bằng phương pháp hút thai thì có 44% trong nhóm 
này phải chuyển phẫu thuật vì chảy máu nhiều và 
tồn tại khối ÂVKĐN; 15% có xu hướng phát triển 
về phía bàng quang, mạch máu tăng sinh nhiều, 
điều trị thất bại lên tới 54% [2].
Trong nghiên cứu chúng tôi, tuổi thai trung bình 
phát hiện CVMLT là 5,9±1,5 tuần, nhóm 4-5 tuần 
chiếm nhiều nhất, tiếp đến là 6-8 tuần, nhóm BN 
phát hiện muộn có tuổi thai >8 tuần (lớn nhất là 9 
tuần) chiếm 20%’ tương đồng với một số nghiên 
cứu của Đinh Quốc Hưng tỉ lệ nhóm <6 tuần là 
39%, 6-8 tuần là 32%, 8 tuần (lớn nhất là 12 tuần) 
là 14% [4]. Việc chẩn đoán sớm sẽ mang lại rất 
nhiều lợi ích, định hướng hướng xử trí đem đến sự 
an toàn cho BN. Theo Jukovic, tuổi thai chẩn đoán 
được khá muộn từ 4 - 23 tuần [5], có lẽ do BN đến 
khám muộn hoặc cố gắng theo dõi đến khi quyết 
định xử trí thì tuổi thai đã lớn.
4.4. Xử trí chửa tại vết mổ lấy thai
27 trường hợp được hút thai đơn thuần, 14 
trường hợp hút thai + chèn bóng, 4 trường hợp 
hút thai + MTX. Hầu hết bệnh nhân trong nghiên 
cứu chúng tôi có tuổi thai ≤ 9 tuần nên 100% các 
trường hợp đều được xử trí ban đầu bằng hút thai 
có hoặc không có hướng dẫn của siêu âm; sau 
hút nếu chảy máu thì chèn bóng; nếu βhCG giảm 
chậm < 50% sẽ điều trị kết hợp MTX; không có 
trường hợp nào được chỉ định ngay phẫu thuật cắt 
bỏ khối chửa hay cắt tử cung. 
Hút thai đơn thuần: được chỉ định chủ yếu 
cho tuổi thai <8 tuần. Hút thai + chèn bóng chủ 
yếu áp dụng cho tuổi thai >8 tuần (90%) do các 
trường hợp này khối thai lớn, các gai rau ăn sâu 
trong vùng vết mổ, khi hút thai thường chảy máu 
nhiều. Theo bảng 3, phương pháp hút thai đơn 
thuần được chỉ định chủ yếu cho những trường hợp 
CVMLT mà SÂ Doppler có ít mạch máu tăng sinh 
tại vết mổ (83,3%). Ngược lại, phương pháp hút 
thai + chèn bóng và hút thai + MTX được áp dụng 
điều trị cho những trường hợp SÂ Doppler có nhiều 
mạch máu tăng sinh vùng vết mổ (p< 0,05). 27 
trường hợp được xử trí bằng phương pháp hút thai 
đơn thuần đều thành công với tuổi thai <8 tuần. 
So với các nghiên cứu khác thì tỉ lệ thành công 
theo phương pháp này trong nghiên cứu của chúng 
tôi là cao hơn với tuổi thai nhỏ. Theo Diêm Thanh 
Thủy, hút thai đơn thuần chiếm 71% & thành công 
80% [2]; Đỗ Thị Ngọc Lan tỉ lệ thành công là 96% 
[6]. Như vậy nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước 
đã chứng minh, đối với tuổi thai nhỏ, mạch máu 
vùng vết mổ tăng sinh ít thì hút thai đơn thuần vẫn 
là phương pháp điều trị dễ chấp nhận vì tính đơn 
giản, an toàn, ít biến chứng hơn, chi phí điều trị 
thấp, nếu có chảy máu thì lượng máu mất cũng 
không nhiều vì các gai rau chưa ăn sâu và phát 
triển nhiều tại vùng vết mổ.
Hút thai + chèn bóng: 14 trường hợp được hút 
thai, sau hút chảy máu phải chèn bóng, tỉ lệ thành 
công là 71%. Có 4 trường hợp thất bại: 1 BN thai 
>7 tuần, sau hút + chèn bóng, BN tạm ổn định 
được cho về ngoại trú, 15 ngày sau quay lại viện 
vì ra máu kéo dài, SÂ có khối ÂVKĐN 46x53mm 
ở eo TC, xét nghiệm βhCG 5818mUI/ml → được 
chỉ định mở bụng cắt bỏ khối chửa, trong và sau 
mổ truyền 2 đơn vị hồng cầu khối cùng nhóm; 3 
BN còn lại tuổi thai >8 tuần: 1 trường hợp sau hút 
thai 2 lần + chèn bóng 3 lần, βhCG 48h sau hút 
giảm >50% so với ban đầu, 1 tháng sau hút, SÂ 
vùng vết mổ đoạn dưới có khối ÂVKĐN 45x55mm, 
vùng vết mổ tăng sinh mạch máu nhiều → được 
chỉ định mổ cắt bỏ khối chửa khâu lại vết mổ tử 
cung (BN mới có 1 con); 1 trường hợp khác đã đủ 
con CVMLT 9 tuần chết lưu, vùng vết mổ tăng sinh 
mạch máu nhiều, đã được chỉ định hút thai + chèn 
bóng, SÂ sau hút 48h có khối 61x68mm ở đoạn 
eo → được chỉ định cắt tử cung bán phần, trong và 
sau mổ truyền 4 đơn vị hồng cầu khối cùng nhóm; 
trường hợp cuối cùng CVMLT 9 tuần chết lưu, vùng 
vết mổ tăng sinh nhiều mạch máu → chỉ định hút 
thai + chèn bóng, vẫn ra máu rất nhiều→ được chỉ 
định mở bụng cắt bỏ khối khối chửa, thắt 2 động 
mạch tử cung, vẫn không có kết quả → chỉ định 
cắt tử cung bán phần mặc dù bệnh nhân mới có 1 
con, tuổi còn trẻ (32 tuổi), trong và sau mổ truyền 
3 đơn vị hồng cầu khối. Phương pháp hút thai sau 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 15(02), 100 - 106, 2017
105
Tập 15, số 02
Tháng 05-2017
đó nếu thấy chảy máu thì chèn bóng, tuy nhiên 
theo chúng tôi đây không phải là phương pháp xử 
trí lý tưởng cho các trường hợp chửa tại VMLT với 
tuổi thai >8 tuần vì nguy cơ tai biến nhiều, do các 
gai rau đã ăn sâu vào tổ chức vết mổ, việc nạo 
hút khi tổ chức rau còn tươi nguy cơ băng huyết là 
rất lớn. Nghiên cứu của Diêm Thị Thanh Thủy tỉ lệ 
thành công của phương pháp hút thai + chèn bóng 
trong các trường hợp vùng vết mổ tăng sinh mạch 
máu nhiều là 50% [2]. Nên chăng với các trường 
hợp chửa tại VMLT có tuổi thai >8 tuần vùng vết 
mổ có nhiều mạch máu tăng sinh thì không nên hút 
thai ngay mà có thể dùng MTX (toàn thân hoặc tại 
chỗ), sau đó SÂ kiểm tra nếu thấy túi thai nhỏ lại 
hoặc vùng vết mổ mạch máu tăng sinh giảm, chỉ 
định hút thai thời điểm đó sẽ cho tỉ lệ thành công 
cao hơn, giảm biến chứng, tăng khả năng bảo tồn 
tử cung cho người phụ nữ. 
Hút thai + điều trị MTX: 4 BN được hút thai + 
tiêm MTX toàn thân sau 48h, thành công 100%, 
cao hơn so với các nghiên cứu khác như của Diêm 
Thanh Thủy là 72% [2], Đỗ Ngọc Lan là 92%[6], 
96% theo Đinh Quốc Hưng [4]. Việc sử dụng MTX 
sau hút thai có thể là một giải pháp tốt trong những 
trường hợp βhCG sau hút thai giảm chậm (<50%), 
giúp rút ngắn thời gian nằm viện cũng như theo dõi 
ngoại trú của BN.
Phần lớn các tác giả nước ngoài đều khuyến 
cáo điều trị nội khoa kết hợp là phương pháp khả 
thi nhất. Theo Timor (2012), nghiên cứu hồi cứu 26 
BN CVMLT, trong đó 19 BN được tiêm 50mg MTX 
vào túi thai (25 mg tiêm vào phôi thai/thai nhi, 25 
mg tiêm vào rau thai), 25 mg tiêm bắp, heo dõi 
βhCG, tim thai/phôi thai, vùng vết mổ bằng SÂ 
doppler trong thời gian từ 24 - 177 ngày, không 
thấy có biến chứng trong tất cả các trường hợp và 
kết luận việc kết hợp tiêm 25mg MTX vào túi thai 
+ 25 mg MTX phía sau rau đã đem lại thành công 
trong việc điều trị các trường hợp CVMLT [3]. Qua 
đó chúng ta thấy rằng phương pháp xử trí này rất 
an toàn, hiệu quả điều trị tốt hơn phương pháp hút 
thai trực tiếp khi chưa tiêm MTX. 
Phẫu thuật (mổ cắt bỏ khối chửa hoặc cắt tử 
cung bán phần): trong nghiên cứu này chúng 
tôi không quan sát thấy có trường hợp CVMLT 
nào được chỉ định mổ cắt bỏ khối chửa hoặc cắt 
tử cung bán phần ngay từ đầu vì nhóm ĐTNC 
của chúng tôi đa phần có tuổi thai ≤9 tuần. Các 
nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chỉ ra 
rằng đối với CVMLT nếu tuổi thai lớn & chưa đủ 
con, có thể chỉ định mổ cắt bỏ khối chửa, khâu 
lại sẹo mổ tại tử cung; còn trường hợp đã đủ 
con, lớn tuổi, vùng vết mổ có mạch máu tăng 
sinh nhiều thì nên chỉ định cắt tử cung bán phần 
ngay từ đầu để tránh mất máu không cần thiết. 
Theo nghiên cứu của Diêm Thanh Thủy, mổ cắt 
bỏ khối chửa được thực hiện ở 6/192 BN do tuổi 
thai lớn từ 9-11 tuần, 3 trường hợp hợp mổ ngay 
không cần can thiệp gì, 3 trường hợp hủy thai 
sau 1 tuần mới phẫu thuật, 50% trường hợp phải 
truyền máu [2]. 
Liên quan giữa kết quả xử trí và tuổi thai: Theo 
bảng 4, tỷ lệ thành công là 100% ở các trường 
hợp tuổi thai <6 tuần, 92% ở thai 6-8 tuần, 77% ở 
thai >8 tuần, cao hơn so với nghiên cứu của Diêm 
Thanh Thủy với tỷ lệ thành công theo 3 nhóm tuổi 
thai trên lần lượt là 98%, 85% và 63% [2]. Điều này 
hoàn toàn hợp lý vì ĐTNC của tác giả lớn hơn mẫu 
nghiên cứu của chúng tôi rất nhiều. Như vậy, với 
các trường hợp CVMLT có tuổi thai nhỏ, chúng ta 
có thể sử dụng phương pháp hút thai vì tỉ lệ thành 
công cao, xử trí đơn giản, chi phí thấp, thời gian 
nằm viện ngắn. Vì vậy SÂ chẩn đoán sớm CVMLT 
là rất quan trọng, một sự chậm trễ trong chẩn đoán 
hoặc điều trị CVMLTcó thể dẫn đến vỡ tử cung, cắt 
bỏ tử cung thậm chí có thể làm tăng nguy cơ tử 
vong ở mẹ. 
Liên quan giữa kết quả xử trí ban đầu và 
Doppler vùng vết mổ: Theo bảng 5, nhóm BN 
vùng vết mổ có ít mạch máu tăng sinh sau khi xử 
trí cho tỉ lệ thành công là 97% so với 80% ở nhóm 
nhiều mạch máu tăng sinh. Như vậy, SÂ Doppler 
vùng vết mổ rất có giá trị trong việc định hướng 
thái độ xử trí ban đầu đối với CVMLT. SÂ Doppler 
vùng vết mổ có nhiều mạch máu tăng sinh làm 
tăng nguy cơ thất bại lên 7,2 lần so với ít mạch 
máu tăng sinh. Những trường hợp này theo chúng 
tôi nên kết hợp điều trị MTX trước, sau đó mới chỉ 
định hút thai sẽ thành công cao hơn và giảm nguy 
cơ chảy máu. 
5. Kết luận
5.1. Chẩn đoán chửa tại vết mổ lấy thai
- Triệu chứng lâm sàng: chậm kinh chiếm tỉ 
NGUYỄN VĂN HỌC, LÊ THỊ HOÀN, NGUYỄN HOÀNG TRANG
106
Tậ
p 
15
, s
ố 
02
Th
án
g 
05
-2
01
7
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
lệ lớn nhất (42,2%), tiếp đến là ra máu âm đạo 
(33,3%) và đau bụng vùng hạ vị (22,2%).
- Siêu âm Doppler: 30 trường hợp (66,7%) 
doppler vùng vết mổ tăng sinh mạch máu ít; 33,3% 
vùng vết mổ tăng sinh mạch máu nhiều.
5.2. Các phương pháp xử trí chửa tại 
vết mổ lấy thai và một số yếu tổ liên 
quan đến kết quả xử trí
- Các phương pháp xử trí ban đầu CVMLT bao 
gồm: hút thai đơn thuần (60%), hút thai + chèn bóng 
(31,1%), hút thai + MTX (8,9%). Tỷ lệ thành công 
giảm dần theo tuổi thai: 100% với tuổi thai < 6 tuần, 
91,7% với thai 6-8 tuần, 66,7% với thai > 8 tuần.
- Siêu âm Doppler có hình ảnh nhiều mạch máu 
tăng sinh vùng vết mổ làm tăng nguy cơ thất bại 
lên 7,2 lần so với ít mạch máu tăng sinh (p< 0,05).
6. Kiến nghị
- Các trường hợp CVMLT có tuổi thai ≤ 8 tuần 
có thể hút thai, chèn bóng nếu có chảy máu. Với 
các trường hợp có tuổi thai > 8 tuần nên kết hợp 
nhiều phương pháp xử trí khác nhau.
- Các thai phụ có sẹo mổ lấy thai nên khám 
sớm, nhất là khi có các dấu hiệu bất thường; các 
tuyến cơ sở nếu phát hiện CVMLT cần chuyển tuyến 
kịp thời tránh tai biến.
Tài liệu tham khảo
1. Rotas M.A, Haberman S, Levgur M. Cesarean scar ectopic 
pregnancies: etiology, diagnosis, and management. Obstetrics & 
Gynecology. 2007; 107(6): 1373-81.
2. Nguyễn Huy Bạo, Diêm Thị Thanh Thủy. Nhận xét 24 trường hợp 
chửa trên sẹo mổ lấy thai tại bệnh viện phụ sản Hà nội 2009. Hội nghị 
SPK Việt Pháp 2010. 2010; 59-63.
3. Timor T.I.E. The diagnosis, treatment, and follow-up of cesarean 
scar pregnancy. American journal of obstetrics and gynecology. 2012; 
207(1); 44-47.
4. Đinh Quốc Hưng. Nghiên cứu chửa ở sẹo mổ lấy thai tại Bệnh viện 
Phụ Sản trung ương. Luận văn bác sỹ chuyên khoa II, Trường Đại học 
Y Hà Nội; 2011. 
5. Jukovic D., Hillaby K. Sali. First trimester diagnosis and management 
of pregnancies implanted into the lower uterine segment cesarean section 
scar. Ultrasound Obstet Gynecol. 2013(21): 220–7. 
6. Đỗ Thị Ngọc Lan. Tình hình chửa tại sẹo mổ lấy thai cũ tại Bệnh 
viện phụ sản Trung Ương từ tháng 3/2011-2/2012. Tạp chí Phụ Sản. 
2012(10): 173-83. 

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_va_xu_tri_chua_tai_vet_mo_lay_thai_tai_benh_vien_p.pdf