Chẩn đoán và điều trị u cuộn cảnh vùng đầu cổ

U cuộn cảnh (glomus tumors) vùng đầu cổ là

khối u hiếm gặp, tiến triển chậm, giàu mạch máu,

thuộc nhóm các u cận hạch (paragangliomas), có

thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau. Nghiên cứu

của chúng tôi tìm hiểu về lâm sàng, chẩn đoán

hình ảnh, đối chiếu chẩn đoán hình ảnh với tổn

thương trong mổ để rút ra kinh nghiệm cho chẩn

đoán và chỉ định điều trị bệnh lý này. Đối tượng

nghiên cứu bao gồm 23 bệnh nhân (BN) với 24 u

được chẩn đoán u cuộn cảnh, điều trị phẫu thuật

tại khoa Phẫu thuật Tim mạch Bệnh viện Việt

Đức, Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương, Bệnh

viện Đại Học Y Hà Nội từ tháng 1 năm 2008 đến

tháng 9 năm 2016.

pdf 6 trang phuongnguyen 160
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán và điều trị u cuộn cảnh vùng đầu cổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán và điều trị u cuộn cảnh vùng đầu cổ

Chẩn đoán và điều trị u cuộn cảnh vùng đầu cổ
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U CUỘN CẢNH VÙNG ĐẦU CỔ 
 33
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U CUỘN CẢNH VÙNG ĐẦU CỔ 
Đoàn Quốc Hưng*, Phạm Tuấn Cảnh*,Chử Vân Khánh** 
TÓM TẮT 
U cuộn cảnh (glomus tumors) vùng đầu cổ là 
khối u hiếm gặp, tiến triển chậm, giàu mạch máu, 
thuộc nhóm các u cận hạch (paragangliomas), có 
thể xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau. Nghiên cứu 
của chúng tôi tìm hiểu về lâm sàng, chẩn đoán 
hình ảnh, đối chiếu chẩn đoán hình ảnh với tổn 
thương trong mổ để rút ra kinh nghiệm cho chẩn 
đoán và chỉ định điều trị bệnh lý này. Đối tượng 
nghiên cứu bao gồm 23 bệnh nhân (BN) với 24 u 
được chẩn đoán u cuộn cảnh, điều trị phẫu thuật 
tại khoa Phẫu thuật Tim mạch Bệnh viện Việt 
Đức, Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương, Bệnh 
viện Đại Học Y Hà Nội từ tháng 1 năm 2008 đến 
tháng 9 năm 2016. Chẩn đoán xác định dựa vào 
lâm sàng, cận lâm sàng và khẳng định bằng kết 
quả giải phẫu bệnh. Trong 24 khối u có 17 u tiểu 
thể cảnh, 2 u tiểu thể thần kinh phế vị và 5 u cuộn 
nhĩ. Tất cả BN đều cắt toàn bộ u, trong đó 2 BN 
tái lập tuần hoàn động mạch cảnh trong, 2 BN 
thắt động mạch cảnh ngoài và 4 BN thắt đoạn 
thần kinh. Kết luận: U cuộn cảnh vùng đầu cổ là 
bệnh hiếm gặp, chẩn đoán xác định chủ yếu dựa 
vào chẩn đoán hình ảnh. Điều trị chủ yếu là phẫu 
thuật lấy trọn khối u, ngoài ra cần xem xét các 
phương pháp điều trị khác như xạ trị, phẫu thuật 
bằng dao gamma nhằm chọn hướng giải quyết hợp 
lý nhất cho mỗi BN cụ thể. 
SUMMARY: Glomus tumors (paragangliomas) 
of the head and neck are rare, slowly progressive, 
rich in blood vessels, tumors in the group of 
access nodes (paragangliomas), can appear in 
many different positions. Research on clinical 
diagnosis, medical imaging comparing with 
surgical lesions in order to withdraw experience 
to diagnose and treat this rare pathology. Study 
subjects included 23 patients (24 tumors) with 
glomus tumors, surgical treatment at 
Cardiovascular surgery-Viet Duc Hospital, ENT 
Central Hospital, Hanoi Medical University 
Hospital from january 2008 to september 2016. 
The definitive diagnosis is based on clinical, 
paraclinical and confirmed by pathology results. 
In 24 tumors with 17 carotid body tumors, 2 
glomus vagales and 5 glomus tympanicums . All 
cases were surgically excised, including 2 cases 
of re-establishing circulation of the internal 
carotid artery, 2 cases of external carotid artery 
ligation and 4 cases of nerve ligation clip. 
Conclusion: Glomus tumors of the head and neck 
are rare, definitive diagnosis relies on diagnostic 
imaging. Treatment is total tumorectomy, in 
addition to consideration of other therapies such 
as radiation therapy, gamma knife surgery in 
order to select the most appropriate solutions for 
each specific case.7 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
U cuộn cảnh (glomus tumor) vùng đầu cổ là 
khối u hiếm gặp, tiến triển chậm, giàu mạch máu, 
thuộc nhóm các u cận hạch (paragangliomas) có thể 
xuất hiện ở nhiều vị trí khác nhau như: tiểu thể cảnh 
(carotid body), tiểu thể thần kinh phế vị (glomus 
vagale), cuộn nhĩ (glomus tympanicum)Trong 
đó u tiểu thể cảnh hay gặp nhất (chiếm khoảng 
65%) [1]. Ở vùng đầu cổ tỷ lệ gặp u tiểu thể cảnh 
là khoảng 1/300.000 người mỗi năm. Chúng là 
khối u phổ biến nhất của nhóm khối u cận hạch 
ngoài thượng thận [2]. U cuộn cảnh đầu cổ hay gặp 
ở nữ giới, tỷ lệ nam:nữ là xấp xỉ 1:1,5-4 tùy nghiên 
cứu [3],[4]. Tuổi khởi phát thường là từ 30 - 60 
tuổi [4], đa số là xuất hiện một bên, bên trái 
* Khoa Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực BV HN Việt Đức 
** Bệnh Viện Phố Nối-Hưng Yên 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Đoàn Quốc Hưng 
Ngày nhận bài: 01/08/2017 - Ngày Cho Phép Đăng: 07/08/2017 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 34 
chiếm ưu thế hơn so với bên phải. Yếu tố gia đình 
cũng được ghi nhận đặc biệt ở nhóm khối u cuộn 
cảnh hai bên [6]. Chẩn đoán không khó bằng lâm 
sàng, cận lâm sàng (đặc biệt là chẩn đoán hình 
ảnh), biến chứng của u là chèn ép các tạng lân 
cận (mạch máu, thần kinh) và ác tính hóa. Điều trị 
chủ yếu là mổ lấy trọn khối u [4]. Nút mạch trước 
rồi phẫu thuật sau sẽ làm giảm được nguy cơ chảy 
máu [5]. Những năm gần đây biện pháp xạ trị hoặc 
phẫu thuật thuật bằng gamma-knife cũng cho 
những kết quả ấn tượng về khả năng kiểm soát khối 
u, hạn chế các biến chứng có liên quan tới dây thần 
kinh sọ [7]. Tại Việt Nam hầu như chưa có nhiều 
nghiên cứu về bệnh lý này, nên việc thực hiện đề tài 
đánh giá về chẩn đoán và điều trị u cuộn cảnh vùng 
đầu cổ là cần thiết, đóng góp với y văn thế giới 
II.VÀI NÉT VỀ DANH PHÁP BỆNH HỌC 
U cuộn cảnh có nguồn gốc từ các tế bào 
chính của các mô cận hạch cấu tạo nên cuộn 
cảnh. Do các cuộn cảnh có bản chất là các tế bào 
thần kinh nội tiết, có chức năng điều tiết tuần 
hoàn vùng đầu mặt cổ chủ yếu thông qua các 
receptor nhạy cảm hóa học (chemoreceptor), u 
cuộn cảnh còn có tên khác là chemodectoma. 
 Theo giải phẫu đại thể, u cuộn cảnh vùng 
đầu cổ được xếp thành 2 nhóm: u cuộn cảnh thái 
dương và u cuộn cảnh vùng cổ. U cuộn cảnh thái 
dương gồm: u cuộn nhĩ (glomus tympanicum 
tumor) và u cuộn tĩnh mạch (glomus jugulare 
tumor). Trong trường hợp khối u phát triển rộng 
xâm lấn cả tai giữa được gọi là u cuộn cảnh hòm 
nhĩ (jugulotympanic glomus tumors). U cuộn 
cảnh vùng cổ gồm: U tiểu thể cảnh (carotid body 
tumor) có nguồn gốc từ các tiểu thể cảnh và u tiểu 
thể thần kinh phế vị (glomus vagale tumor) có 
nguồn gốc từ các cuộn cảnh dọc theo dây X. Tuy 
nhiên về mặt cấu trúc vi thể do không thể phân 
biệt được sự khác biệt giữa u cuộn cảnh với các 
khối u tủy thượng thận hoặc các khối u cận hạch 
ở các vị trí khác của cơ thể nên WHO (2004) xếp 
u vào nhóm các khối u cận hạch ngoài thượng 
thận (extra-adrenal paraganglioma). Trong phạm 
vi bài này để tiện cho việc theo dõi tôi vẫn sử 
dụng danh pháp cũ là khối u cuộn cảnh. 
Các khối u cận hạch nhìn chung đều có hai 
loại tế bào: tế bào chính và tế bào đệm, trong đó các 
tế bào chứa các hạt dự trữ catecholamines. Tuy 
nhiên chỉ dưới 5% số u cuộn cảnh vùng đầu cổ có 
khả năng tiết ra norepinephrine [7]. Trên tiêu bản 
mô học, tế bào chính xếp thành đám và được bao 
bọc bởi các tế bào đệm, bên trong tổ chức mô đệm 
giàu mạch máu. U cuộn cảnh ác tính tỉ lệ khoảng 5-
30%. Việc chẩn đoán tính chất ác tính không phụ 
thuộc vào tổ chức mô học mà phụ thuộc vào có hay 
không có tổn thương di căn xa [8]. 
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
- Gồm các BN chẩn đoán sau mổ là u cuộn 
cảnh vùng đầu cổ điều trị tại BV Việt Đức, BV 
Tai mũi họng trung ương, BV Đại học Y Hà nội 
từ 1/2008 tới 9/2016. 
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, 
mô tả từng ca có can thiệp. 
- Cỡ mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu 
thuận tiện. 
- Thu thập và xử lý số liệu bằng phương pháp 
thống kê toán học y học với chương trình SPSS 16.0. 
IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
4.1.Đặc điểm chung: có 23 bệnh nhân (BN) 
với 24 khối u cuộn cảnh được phẫu thuật từ 
1/2008 tới 9/2016 đủ tiêu chuẩn nghiên cứu 
-Tuổi, giới: BN gồm 17 nữ, 6 nam, tuổi thấp 
nhất 20 tuổi, cao nhất 61 tuổi, trung bình là 41,7 
tuổi, lứa tuổi từ 30 - 60 tuổi có 16/23 BN 
(69,5%). 
-Vị trí khối u: Đa số các khối u xuất hiện 
một bên với 22/23 BN (95,7%). Bên trái chiếm 
ưu thế hơn so với bên phải (Bên trái 52,2%, bên 
phải 43,5%). 
-Phân loại: Trong 24 khối u có 17 u tiểu thể 
cảnh, 2 u tiểu thể thần kinh phế vị và 5 u cuộn nhĩ. 
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U CUỘN CẢNH VÙNG ĐẦU CỔ 
 35
4.2.Đặc điểm nhóm BN u cuộn cảnh vùng cổ (18 BN với 19 u) 
Bảng 4.1: Triệu chứng lâm sàng u cuộn cảnh vùng cổ (18 BN với 19 u) 
Lý do đi khám bệnh Số bệnh nhân % 
Khối vùng cổ/ góc hàm 18 94,4 
Nuốt vướng, nuốt khó 4 22,2 
Đau nửa đầu 2 11,1 
Sụp mi cùng bên 1 5,6 
Tăng huyết áp 2 11,1 
Đã mổ ở tuyến trước* 6 33,3 
*Đã mổ ở tuyến trước, đều không có giấy tờ, BN mô tả nhớ lại chẩn đoán là hạch, hay u máu, hay 
u tuyến dưới hàm và đều không có kết quả GPB. 
-Đặc điểm khối u: Khối u vùng cổ/ góc hàm còn di động có 12/19 u (63,2%). Khối u vùng cổ/ góc 
hàm gây biến dạng cổ, ít hoặc không di động có 7/19 u (36,8%). 
Bảng 4.2: Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh u cuộn cảnh vùng cổ (n=18BN) 
Loại thăm dò Số bệnh nhân % 
Siêu âm Doppler* 18 100 
Cắt lớp vi tính 7 38,9 
Cắt lớp vi tính đa dãy MSCT dựng hình ĐM** 11 55,6 
Chụp động mạch cảnh** 13 72,2 
Cộng hưởng từ 6 33,3 
*100% khối u tăng sinh mạch trên siêu âm Doppler. 
**8/11 BN (72,7%) trên chụp MSCT và 13/13 BN (100%) trên chụp ĐM cảnh có 
hình ảnh khối u tăng sinh mạch; có 9/11 BN (81,8%) và 11/13 BN (84,6%) có hình ảnh đẩy roãng 
rộng chạc ba ĐM cảnh. 
- Phương pháp điều trị và kết quả 
Bảng 4.3: Can thiệp nút mạch trước mổ (n= 19 u) 
Can thiệp nút mạch (n=19) Số u % 
Có nút mạch 14 73,7 
Không nút mạch 5 26,3 
 Nút 1 nhánh 3 21,4 
Nút nhiều nhánh 7 50 Số mạch được nút 
(n=14) 
Không mô tả rõ 4 28,6 
Trong nhóm có nút mạch có truyền máu 3/14 (21,4%), trong nhóm không nút mạch có truyền máu 2/5 (40%). 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 36 
Bảng 4.4: Phẫu thuật (n = 19 u) 
Phẫu thuật Số u % 
Mổ có chuẩn bị 19 100 
Cắt toàn bộ u 19 100 
Tái lập tuần hoàn ĐM cảnh trong 2 10,5 
Thắt ĐM cảnh ngoài 2 10,5 
Thắt đoạn thần kinh 4 21 
Có 1 BN u cuộn cảnh 2 bên sau mổ: Siêu âm tắc ĐM cảnh ngoài có 3/18 (16,7%); khàn tiếng, nói 
khó 4/18 (22,2%); rối loạn nuốt (phải mở thông dạ dày) 1/18 (5,6%); Sụp mi (có hồi phục) 1/18 
(5,6%). Không có BN nào bị chảy máu sau mổ hoặc tai biến thần kinh trung ương. 
Bảng 4.5: Đối chiếu kết quả siêu âm Doppler với tổn thương trong mổ (n=19 u) 
U tiểu thể cảnh U tiểu thể thần kinh phế vị Phẫu thuật 
KQ siêu âm Số u % Số u % 
Hình ảnh nghĩ tới u cuộn cảnh 13 76,5 2 100 
Hình ảnh nghĩ tới tổn thương khác 4 23,5 0 - 
Tổng 17 100 2 100 
Bảng 4.6: Đối chiếu kết quả CLVT/MSCT/MRI với tổn thương trong mổ (n=18) 
U tiểu thể cảnh U tiểu thể thần kinh phế vị Phẫu thuật
CLVT/MSCT/MRI Số u % Số u % 
Hình ảnh nghĩ đến u cuộn cảnh 14 87,5 2 100 
Hình ảnh nghĩ tới tổn thương khác 2 12,5 0 - 
Tổng 16 100 2 100 
GPB: 17/19 u (89,5%) paraganglioma, 2/19 u (10,5%) schwannoma. 
4.3. Đặc điểm nhóm BN U cuộn cảnh vùng 
thái dương (n= 5 BN) 
- Triệu chứng lâm sàng và lý do đi khám 
bệnh: Cả 5 BN đều có triệu chứng ù tai theo nhịp 
mạch, chỉ có 2/5 BN có triệu chứng nghe kém, 
các triệu chứng về tổn thương thần kinh, chóng 
mặt không gặp. 
- Đặc điểm u lúc khám lâm sàng: 4/5 BN nội 
soi tai thấy hình ảnh màng nhĩ bị xung huyết màu 
hồng nhạt, có 1/5 BN nội soi thấy khối u đã bắt 
đầu vượt ra màng nhĩ lan ra ống tai ngoài. 
- Các loại thăm dò: trong nghiên cứu cả 5 BN 
đều được đo thính lực đồ và chụp CLVT xương 
thái dương, chụp cộng hưởng từ 1/5 BN, chụp 
phim Schuller có 1/5 BN, đo nhĩ lượng có 2/5 
BN, không BN nào chụp chụp ĐM. 
- Đặc điểm trên CLVT xương thái dương: 
hình ảnh tổ chức mờ khu trú trong hòm nhĩ, ranh 
giới rõ với vịnh tĩnh mạch cảnh và động mạch cảnh 
đoạn trong xương đá, chuỗi xương con hình dạng 
và vị trí bình thường. 1 BN chụp cộng hưởng từ kết 
quả TD u cận hạch (paraganglioma) thể khu trú 
trong hòm tai. 
- GPB: cả 5 BN đều là glomus tumor 
V. BÀN LUẬN 
5.1. Dịch tễ học: 23 BN của chúng tôi gồm 17 
nữ và 6 nam. Theo một số tác giả u cuộn cảnh gặp ở 
nữ nhiều hơn ở nam [2],[4], thường gặp ở những 
người sống ở vùng cao (so với mặt nước biển), 
liên quan đến tình trạng thiếu oxy mạn tính 
[6],[8]. Yếu tố gia đình cũng được ghi nhận đặc 
biệt ở nhóm khối u cuộn cảnh hai bên [6]. Nghiên 
cứu của chúng tôi chưa đưa ra được các yếu tố về 
địa dư liên quan và không phát hiện bất kỳ bằng 
chứng về nguồn gốc gia đình có liên quan. 
5.2. Chẩn đoán 
5.2.1.U cuộn cảnh vùng cổ 
*Lâm sàng: Đa số BN u cuộn cảnh vùng cổ đi 
khám với triệu chứng có khối vùng cổ/ góc hàm 
(bảng 1) thường phát triển chậm, không đau, không 
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ U CUỘN CẢNH VÙNG ĐẦU CỔ 
 37
nóng đỏ, mật độ chắc, di động kém, không có tiếng 
thổi phù hợp với nhiều nghiên cứu [1],4,[9]. Do vậy 
những BN đến khám với lý do có khối ở vùng cổ/ 
góc hàm cần nghĩ đến chẩn đoán phân biệt với u 
cuộn cảnh. Có tới 6 BN ( 33,3%- bảng 1) đã được 
mổ ở tuyến trước, đều không có giấy tờ, BN mô tả 
nhớ lại chẩn đoán là hạch, hay u máu, hay u tuyến 
dưới hàm và đều không có kết quả GPB. Đây là 
một điểm cần rút kinh nghiệm để hạn chế chẩn 
đoán nhầm hay phát hiện bệnh muộn. 
*Cận lâm sàng: 
-Siêu âm Doppler điển hình là khối giảm âm 
ở chỗ chia hai động mạch cảnh, khối u tăng sinh 
mạch. Đánh giá tình trạng xâm lấn, đè ép vào các 
động mạch cảnh, sự lưu thông các mạch này [10]. 
100% BN của chúng tôi đều được làm thăm dò 
này (bảng 2), thậm chí làm nhiều lần. 
- CLVT và CLVT đa dãy MSCT có bơm 
thuốc cản quang: cho chẩn đoán xác định u tiểu 
thể cảnh, chẩn đoán phân biệt, đồng thời đánh giá 
tình trạng động mạch cảnh ngoài và trong sọ. 
Trên phim thấy khối u thường hình bầu dục nằm 
ở vị trí chạc ba động mạch cảnh, làm roãng rộng 
hai động mạch cảnh, u bắt thuốc mạnh. U tiểu thể 
thần kinh phế vị nằm phía ngoài ĐM cảnh trong 
và ĐM cảnh ngoài, nằm ở khoang cạnh hầu. 8/11 
BN (72,7%) trên chụp MSCT có hình ảnh khối u 
tăng sinh mạch; và 9/11 BN (81,8%) có hình ảnh 
đẩy roãng rộng chạc ba ĐM cảnh. Đây là phương 
tiện chẩn đoán tốt, ít xâm lấn và đã được tiến hành ở 
nhiều cơ sở y tế tại việt Nam, nhưng CLVT chỉ để 
chẩn đoán không có khả năng can thiệp hỗ trợ điều 
trị như chụp ĐM (nút mạch) [4], [5]. 
- Chụp mạch cảnh theo phương pháp 
Seldinger: 13/13 BN (100%) có hình ảnh khối u 
tăng sinh mạch và 11/13 BN (84,6%) có hình ảnh 
đẩy roãng rộng chạc ba ĐM cảnh. Đây là thăm dò 
góp phần chẩn đoán, đồng thời can thiệp nút 
mạch. Cả 13 BN chụp mạch với 14 khối u cuộn 
cảnh của chúng tôi đều được can thiệp nút mạch 
ngay (bảng 3). Thời điểm nút mạch lựa chọn là 
24h trước phẫu thuật theo khuyến cáo của UCSF 
(1996), làm hạn chế chảy máu, mất máu trong 
phẫu thuật, giảm tối đa nguy cơ tái tưới máu u bởi 
các nhánh phụ [7], [9]. Với những BN không có 
khả năng cắt u (chống chỉ định gây mê, nhiễm 
trùng vùng cổ, kỳ vọng sống thấp) thì nút mạch 
còn được coi là một giải pháp điều trị tạm thời 
giúp làm chậm sự phát triển của u. 
- MRI: cung cấp chính xác cho phẫu thuật 
viên hình ảnh của khối u, mức độ xâm lấn, liên 
quan của khối u với bó mạch cảnh, các thành 
phần mô mềm lân cận và giúp phân loại giai đoạn 
khối u trước mổ [9],[10]. 
- PET-CT: chỉ định trong trường hợp nghi 
ngờ u cuộn cảnh ác tính (có di căn xa). 
- Định lượng Catecholamine: Do u tiểu thể 
cảnh có bản chất là u cận hạch nên một số tác giả 
nghiên cứu định lượng catecholamine nhận thấy 
chỉ số này tăng cao trong máu và nước tiểu, đặc 
biệt ở những bệnh nhân có khối u với tính chất 
gia đình [5]. Bệnh nhân của chúng tôi chưa làm 
được xét nghiệm này. 
- Mô bệnh học: giúp chẩn đoán xác định thể 
bệnh, định hướng theo dõi BN sau mổ, quyết định 
điều trị hỗ trợ sau mổ như tia xạ, hóa chất (với u ác 
tính, u có nguồn gốc thần kinh schwannoma) [9]. 
5.2.2.U cuộn cảnh vùng thái dương 
*Lâm sàng: triệu chứng chủ yếu là ù tai 
theo nhịp mạch (tăng lên khi gắng sức, giảm đi 
khi đè mạnh vào vùng máng cảnh) (5/5 BN) và 
nghe kém (2/5 BN). Các triệu chứng về thần 
kinh như: liệt mặt một bên, nói khàn, nói khó, sụp 
mikhi khối u lan rộng. Thực thể: nội soi thấy 
hình ảnh màng nhĩ sung huyết (hồng nhạt) góc 
trước dưới hoặc thấy u lan ra ống tai ngoài. 
*Cận lâm sàng: Chủ yếu dựa vào chẩn đoán 
hình ảnh giống u cuộn cảnh vùng cổ ngoài ra có các 
chú ý sau: 
- CLVT xương thái dương giúp xác định vị 
trí khối u, có hay không xương phần thấp của tai 
giữa liên quan với hành cảnh. Nếu có xương 
riêng biệt bao phủ hành cảnh và tách rời khối u 
khỏi động mạch cảnh thì phẫu thuật sẽ giới hạn ở 
tai giữa mà không liên quan đến mạch máu ở cổ. 
Hình ảnh điển hình là “muối tiêu”. 
- Sinh thiết: phân loại u cuộn cảnh với các u 
khác như u mạch máu, u nội mạc, saccome mạch 
máu, ung thư tai.Trong khi làm sinh thiết phải hết 
sức cẩn thận vì u này chảy máu rất nhiều. Chúng ta 
nên làm sinh thiết trong phòng mổ, có đủ dụng cụ để 
cầm máu, và phải chuẩn bị như là một phẫu thuật. 
Chúng ta dùng thòng lọng cắt khối u trong ống tai 
rồi nhét bấc thật chặt vào ống tai. Đối với khối u 
không xuất ngoại ra ống tai, ít khi chúng ta chẩn 
đoán đúng bệnh trước khi mổ và sinh thiết cũng chỉ 
có thể thực hiện sau khi đã mở xương chũm. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 17 - THÁNG 8/2017 
 38 
- Các thăm dò khác: thính lực, nhĩ lượng 
-Giải phẫu bệnh: kết quả glomus tumor. 
Theo Gombos đa số u là lành tính, và được chữa 
khỏi bằng cách cắt bỏ toàn bộ u, nguy cơ 10% tái 
phát tại chỗ, khoảng 1% các khối u glomus 
được báo cáo là ác tính [11]. 
5.3. Đối chiếu chẩn đoán hình ảnh với tổn 
thương trong mổ để rút ra kinh nghiệm cho 
chẩn đoán và chỉ định điều trị 
5.3.1.U cuộn cảnh vùng cổ 
- Siêu âm Doppler: độ nhậy 78,9% (15/19 u 
chẩn đoán chính xác-bảng 5). 
- CLVT/ MSCT/ MRI: độ nhậy 88,9% (16/18 
u chẩn đoán chính xác-bảng 6). 
 Như vậy không có phương pháp chẩn đoán 
hình ảnh nào có giá trị chẩn đoán tuyệt đối, cần 
phối hợp để chẩn đoán chính xác. 
5.3.2.U cuộn cảnh thái dương: BN không có 
tiền sử bệnh lý tai có ù tai theo mạch đập, nghe 
kém, CLVT có khối mờ trong hòm nhĩ, có thể có 
hình ảnh muối tiêu cần nghĩ tới u cuộn cảnh. 
5.3.3.Kết quả phẫu thuật 
-Phẫu thuật là biện pháp điều trị triệt căn duy 
nhất và có thể lấy được bệnh phẩm làm GPB (trong 
nghiên cứu của chúng tôi 100% BN được mổ lấy 
toàn bộ khối u – bảng 4). U cuộn cảnh dù bản chất 
tế bào là lành tính nhưng lại tiến triển theo kiểu ác 
tính (tỷ lệ ác tính từ 5-30%, chèn ép hay xâm lấn tổ 
chức xung quanh) nên chỉ định phẫu thuật là bắt 
buộc [11],[12]. Tuy vậy cũng có những biến chứng 
nhất định sau mổ (Siêu âm tắc ĐM cảnh ngoài có 
3/18 (16,7%); khàn tiếng, nói khó 4/18 (22,2%); rối 
loạn nuốt (phải mở thông dạ dày) 1/18 (5,6%); Sụp 
mi (có hồi phục) 1/18 (5,6%)). Qua nghiên cứu 
biến chứng sau mổ chúng tôi thấy rằng: chỉ nên 
tiến hành loại phẫu thuật này tại cơ sở chuyên khoa 
với phẫu thuật viên có kinh nghiệm, nơi có khả 
năng xử lý các loại thương tổn trong trường hợp u 
xâm lấn mạch máu. Ngoài phẫu thuật cần xem xét 
các phương pháp điều trị khác như xạ trị, nút mạch 
nhằm lựa chọn hướng giải quyết hợp lý nhất cho 
mỗi ca bệnh cụ thể, cũng như cần theo dõi, hướng 
dự phòng, phục hồi chức năng cho bệnh nhân sau 
phẫu thuật. 
VI. KẾT LUẬN: 
U cuộn cảnh vùng đầu cổ là bệnh hiếm gặp 
(trong 9 năm chúng tôi chỉ gặp 23 BN với 24 u 
cuộn cảnh đủ điều kiện nghiên cứu). Trong đó, u 
tiểu thể cảnh hay gặp nhất (70,8%). Triệu chứng 
lâm sàng không điển hình nhưng chẩn đoán được 
bằng siêu âm Doppler, chụp cắt lớp vi tính đa dãy 
và chụp mạchPhẫu thuật cắt u là phương pháp 
lựa chọn chủ yếu. Ngoài ra cần xem xét các 
phương pháp điều trị khác như xạ trị, nút mạch, 
phẫu thuật bằng dao gamma nhằm chọn hướng 
giải quyết hợp lý nhất cho mỗi ca bệnh cụ thể. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Pellitteri P.K., Rinaldo A., Myssiorek D. 
et al (2004), Paragangliomas of the head and 
neck, Oral oncology, Vol 40, pp. 563-567. 
2. Luna-Ortiz K., Rascon-Ortiz M., 
Villavicencio-Valencia V. et al (2005), Carotid 
body tumors: review of a 20-year experience, 
Oral Oncol, Vol 41(1), pp. 56-61. 
3. Maison Casarim A.L., Tincani A.J., 
Negro A.D. et al (2014), Carotid body tumor: 
Retrospective analysis on 22 patients, Sao Paulo 
Med J, Vol 132(3), pp. 133-9. 
4. Đoàn Quốc Hưng (2015), U tiểu thể cảnh: 
Một số kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị. 
Tạp chí Tai mũi họng, 6: 51-60. 
5. Đoàn Quốc Hưng, Nguyễn Duy Thắng, 
Lê Thanh Dũng, Mai Thanh Tú (2011), U tiểu 
thể cảnh: chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Hữu 
nghị Việt Đức, Tạp chí tim mạch học Việt Nam, 
Vol 59, pp. 46-53. 
6. Shedd D.P. (1990), Familial occurrence of 
carotid body tumors, Head and Neck, 12(6). 
7. Durdik S., Malinovsky P., Durdik S. P 
Malinovsky (2002), Chemodectoma-carotid body 
tumor surgical treatment, pp. 422-423. 
8. Chao C., Perez C., Brady L. (2011), 
Unusual tumors of the head and neck. Radiation 
oncology management decisions, 3rd edition. 
Philadelphia, Lippincott, pp. 299-302. 
9. Rodriguez-Cuevas H., Lau I., Rodriguez 
H.P. (1986), High-altitude paragangliomas: 
diagnostic and therapeutic considerations, 
Cancer, Vol 57(3), pp. 672-6. 
10. Urquhart A.C., Johnson J.T., Myers E.N., 
(1994), Glomus vagale: paraganglioma of the vagus 
nerve, Laryngoscope, vol 104, pp. 440-445. 
11. Gattuso, Reddy, David (2002), 
Defferential Diagnosis in Surgical Pathology 
2nd, Sunder Elsevier. 
Gombos Z., Zhang P.J. (September 2008), 
Glomus tumor, Archives of pathology & 
laboratory medicine, Vol 132 (9), pp. 1448–52. 

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_va_dieu_tri_u_cuon_canh_vung_dau_co.pdf