Chẩn đoán và điều trị cường giáp trong thời kỳ mang thai
Cường giáp trong thai kỳ chiếm tỷ lệ 0,1 – 1% (0,4% lâm sàng và cận lâm sàng 0,65%) và phần
lớn là kết quả của bệnh Graves. Cường giáp ảnh hưởng lên quá trình mang thai, kết quả thai
kỳ và biến chứng thường gặp nhất là thai chậm phát triển trong tử cung, ngược lại quá trình
mang thai làm thúc đẩy các rối loạn chức năng tuyến giáp. Do tăng hormon hCG, một số phụ
nữ với chứng nôn nghén phát triển cường giáp thoáng qua và đó là điểm quan trọng để phân
biệt cường giáp thoáng qua và bệnh Graves. Việc chẩn đoán bệnh cường giáp trong thai kỳ
đòi hỏi phải phân tích cẩn thận các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm. Các xét nghiệm chức
năng tuyến giáp nên được đánh giá tham khảo dựa trên giá trị tương ứng ở phụ nữ mang
thai. Điều trị không đúng hoặc không điều trị có thể ảnh hưởng đến kết quả thai kỳ. Kháng
giáp là thuốc điều trị chính cho thai phụ, Methimazole (MMI) và propylthiouracil (PTU) có
thể được sử dụng trong thời kỳ mang thai, tuy nhiên khi sử dụng, PTU được lựa chọn trong
ba tháng đầu thai kỳ và thay thế bằng MMI ở những quý sau thai kỳ
Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán và điều trị cường giáp trong thời kỳ mang thai
Nguyễn Hải Thủy l 21 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG GIÁP TRONG THỜI KỲ MANG THAI Nguyễn Hải Thủy Tóm tắt Cường giáp trong thai kỳ chiếm tỷ lệ 0,1 – 1% (0,4% lâm sàng và cận lâm sàng 0,65%) và phần lớn là kết quả của bệnh Graves. Cường giáp ảnh hưởng lên quá trình mang thai, kết quả thai kỳ và biến chứng thường gặp nhất là thai chậm phát triển trong tử cung, ngược lại quá trình mang thai làm thúc đẩy các rối loạn chức năng tuyến giáp. Do tăng hormon hCG, một số phụ nữ với chứng nôn nghén phát triển cường giáp thoáng qua và đó là điểm quan trọng để phân biệt cường giáp thoáng qua và bệnh Graves. Việc chẩn đoán bệnh cường giáp trong thai kỳ đòi hỏi phải phân tích cẩn thận các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm. Các xét nghiệm chức năng tuyến giáp nên được đánh giá tham khảo dựa trên giá trị tương ứng ở phụ nữ mang thai. Điều trị không đúng hoặc không điều trị có thể ảnh hưởng đến kết quả thai kỳ. Kháng giáp là thuốc điều trị chính cho thai phụ, Methimazole (MMI) và propylthiouracil (PTU) có thể được sử dụng trong thời kỳ mang thai, tuy nhiên khi sử dụng, PTU được lựa chọn trong ba tháng đầu thai kỳ và thay thế bằng MMI ở những quý sau thai kỳ. Tình trạng tuyến giáp mẹ là dấu hiệu đáng tin cậy nhất và ở các thai phụ nồng độ T4 tự do (FT4) huyết thanh đạt mức một phần ba trên của mức bình thường được cho là điều trị thành công. Điều trị cường giáp trong thời kỳ mang thai cần phải được cân nhắc cẩn thận và thai phụ nên được thực hiện để dự phòng các tác dụng xấu đến thai phụ, thai nhi và trẻ sơ sinh. MMI có khả năng gây quái thai, hẹp hậu môn và thực quản thai nhi. PTU được khuyến cáo như là thuốc được lựa chọn trong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng do nó gây nhiễm độc gan nên được thay đổi sau đó bằng MMI. Phẫu thuật được chỉ định khi điều trị liều cao thuốc kháng giáp không thể kiểm soát cường giáp hoặc xuất hiện các tác dụng phụ nghiêm trọng. Điều trị iode phóng xạ bị chống chỉ định trong thời kỳ mang thai. Abstract Diagnosis and treatment hyperthyroidism during pregnancy The incidence of thyrotoxicosis in pregnant women is about 0.1-1% (0,4% clinical and 0,65% subclinical) and in majority is a result of Graves’ disease. The hyperthyroidism interfere with course and outcome of pregnancy and the most often fetal complication of mothers hyperthyroidism is a growth retardation. On the contrary pregnancy by itself is state which TẠP CHÍ PHỤ SẢN - 10(3), 21-34, 2012 22 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012 promotes the thyroid dysfunction. Because of human chorionic gonadotropin thyrotropin activity some women with hyperemesis gravidarum develop transient thyrotoxicosis and it is important to distinguish gestational transient thyrotoxicosis from Graves’ disease. The diagnosis of hyperthyroidism in pregnancy requires careful analysis of clinical and laboratory data. The thyroid function tests should be assessed using pregnancy specific reference values. Poorly treated or untreated maternal overt hyperthyroidism may affect pregnancy outcome. Fetal and neonatal hypo- or hyperthyroidism and neonatal central hypothyroidism may complete health issues during intrauterine and neonatal periods. Antithyroid drugs are the main therapy for maternal hyperthyroidism. Both methimazole (MMI) and propylthiouracil (PTU) may be used during pregnancy; however, PTU is preferred in the first trimester and should be replaced by MMI after this trimester. Choanal and esophageal atresia of fetus in MMI-treated and maternal hepatotoxicity in PTU-treated pregnancies are of utmost concern. Maintaining free T4 concentration in the upper one third of each trimester specific reference interval denotes success of therapy. The first line therapy of thyrotoxicosis is medical treatment with use of antithyroid drugs supplemented if necessary with levothyroxine in fetal hyperthyroism. Other treatment modalities should be used only exceptionally. In women with elevated antithyroid antibodies titer or undergoing thionamides therapy it is necessary to perform fetal sonography to determine fetal thyroid status. Management of hyperthyroidism during pregnancy requires special considerations and should be carefully implemented to avoid any adverse effects on the mother, fetus and neonate. (*) Trường Đại học Y Dược Huế (GS.TS) Cường giáp trong thời kỳ mang thai là bệnh lý không phổ biến và ghi nhận với tỷ lệ thấp trong những trường hợp mang thai. Việc chẩn đoán lâm sàng và phân biệt nguyên nhân cường giáp có thể gặp khó khăn ở phụ nữ mang thai, do các triệu chứng và dấu hiệu cường giáp như căng thẳng, đổ mồ hôi, khó thở, nhịp tim nhanh và tiếng thổi tâm thu ở tim cũng được ghi nhận trong hầu hết các sản phụ bình thường. Tuy nhiên các dấu chứng cụ thể hơn như giảm cân, bướu giáp và lồi mắt có thể gợi ý cường giáp Graves. Ngoài ra, sự xuất hiện của cường giáp thoáng qua của chứng nôn nghén ở sản phụ có thể làm phức tạp cho chẩn đoán. Việc chẩn đoán cường giáp luôn luôn được xác định bằng cách đo nồng độ FT4 và TSH. Nồng độ TT4 và FT4 thường thay đổi trong thời gian mang thai bình thường và giá trị bình thường của nồng độ TT4, FT4 và T3 cũng như TSH cần được khảo sát cho mỗi quý thai. Khẳng định cường giáp có ảnh hưởng xấu đến tiên lượng thai kỳ. Vì vậy, mặc dù hiếm gặp bệnh, việc nhận biết và điều trị đặc hiệu của cường giáp trong thời kỳ mang thai là quan trọng. Nguyên nhân của nhiễm độc giáp trong thai kỳ Nhiễm độc giáp được định nghĩa là “hội chứng lâm sàng của tăng chuyển hóa và tăng hoạt động quá mức khi gia tăng nồng độ FT4 và/hoặc FT3”. Bệnh Graves là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp tự miễn dịch trong thời kỳ mang thai, xảy ra ở 0,1% -1% (0,4% lâm sàng và 0,65% cận lâm sàng) của tất cả các trường hợp mang thai. Bệnh có thể được chẩn đoán lần đầu tiên trong thời kỳ mang thai hoặc có thể biểu hiện như Nguyễn Hải Thủy l 23 là một giai đoạn tái phát ở sản phụ có tiền sử cường giáp. Nguyên nhân nhiễm độc giáp không do bệnh tự miễn thường ít phổ biến bao gồm bướu giáp độc đa nhân, u tuyến độc, nhiễm độc giáp do thuốc. Viêm giáp bán cấp đau hoặc viêm giáp im lặng hoặc u quái buồng trứng là nguyên nhân hiếm gặp của nhiễm độc giáp trong thai kỳ. Một nguyên nhân cường giáp trong thời kỳ mang thai thường gặp hơn so với bệnh Graves là hội chứng cường giáp do thai (gestational hyperthyroidism syndrome) được xác định là cường giáp thoáng qua, xảy ra trong nửa đầu thai kỳ, được đặc trưng bởi sự gia tăng FT4 hoặc TT4 và nồng độ TSH huyết thanh giảm hoặc không định lượng được nhưng không có sự hiện diện các dấu chỉ điểm huyết thanh của bệnh tự miễn tuyến giáp. Tỷ lệ hội chứng này từ 1-3% của người mang thai, tùy thuộc vào vùng địa lý và thứ phát do tăng nồng độ hCG. Bên cạnh đó hội chứng này có thể được kết hợp với chứng ốm nghén với đặc trưng như buồn nôn và ói mửa nghiêm trọng trong giai đoạn sớm của thai kỳ, sản phụ có thể giảm cân trên 5%, mất nước và xuất hiện ceton niệu. Chứng ốm nghén xảy ra trong 0,5-10 trên 1000 phụ nữ mang thai. Nguyên nhân khác liên quan với nhiễm độc giáp do hCG bao gồm đa thai, thai trứng hoặc ung thư tế bào nuôi. Hầu hết các trường hợp hiện nay có tăng nồng độ hCG huyết thanh đáng kể. Ngoài ra một sự đột biến thụ thể TSH dẫn đến tăng nhạy cảm chức năng đối với hCG cũng đã được ghi nhận là một nguyên nhân hiếm gặp của cường giáp trong thai kỳ. Phân biệt hội chứng cường giáp do thai (gestational hyperthyroidism) và cường giáp do bệnh Graves’ trong thai kỳ Khi nồng độ TSH huyết thanh thấp hoặc không định lượng được và nồng độ FT4 huyết thanh cao, chẩn đoán phân biệt trong đa số trường hợp là giữa cường giáp Graves và cường giáp thai kỳ. Trong cả hai trường hợp, biểu hiện lâm sàng phổ biến bao gồm hồi hộp, lo âu, run tay và kém chịu nóng. Hỏi bệnh sử và khám lâm sàng cẩn thận rất quan trọng trong việc tìm kiếm bệnh nguyên. Sản phụ không có tiền sử về bệnh tuyến giáp trước đó và không có dấu hiệu lâm sàng của bệnh Graves (bướu cổ, bệnh mắt nội tiết) cần ưu tiên chẩn đoán cường giáp thai kỳ. Trong tình huống nghi ngờ chẩn đoán lâm sàng, cần xác định bằng TSHR-Ab. Khi hiện diện một bướu giáp nhân, TT3 huyết thanh được xác định là hữu ích trong việc thăm dò khả năng của hội chứng “nhiễm độc T3’’. Xác định TT3 cũng có thể hữu ích trong việc chẩn đoán nhiễm độc giáp T3 gây ra bởi bệnh Graves’. Theo khuyến cáo được phân loại theo hướng dẫn của Ban công tác các dịch vụ y tế dự phòng Hoa Kỳ (United States Preventive Services Task Force= USPSTF), nếu TSH huyết thanh thấp trong thai kỳ đầu tiên (TSH < 0.1 mIU/L), có chỉ định khám lâm sàng và hỏi tiền sử. Định lượng FT4 nên được thực hiện trên tất cả các bệnh nhân. Định lượng TT3 và TSHR-Ab có thể hữu ích trong việc thiết lập một chẩn đoán cường giáp (mức B-USPSTF). Hiện không có đủ bằng chứng để khuyến cáo hay chống lại việc sử dụng của siêu âm tuyến giáp phân biệt nguyên nhân gây ra cường giáp trong thai kỳ (mức I-USPSTF). Không nên thực hiện xạ hình iod phóng xạ (RAI) và xác định sự hấp thu iode phóng xạ trong thời kỳ mang thai (mức D-USPSTF). Nguy cơ của cường giáp không được điều trị trong thời kỳ mang thai Sản phụ cường giáp Một số nguy cơ ghi nhận bao gồm giảm 24 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012 trọng lượng em bé khi sinh (OR = 9.2, 95% CI 5,5-16), sinh non (OR = 16,5, 95% CI 2,1- 130), và sản giật (OR = 4,7, KTC 95% 1,1- 19,7) và nguy cơ sẩy thai thường phổ biến ở người mẹ cường giáp không được điều trị hơn so với những sản phụ bình giáp. Tần suất thai kém phát triển có thể tăng trong những trường hợp cường giáp (26,7 so với 7,7%) so với những bình giáp trong suốt thai kỳ vẫn còn có hay không có bệnh Graves không được điều trị liên quan với bất thường bẩm sinh là một vấn đề còn tranh luận. Một số nghiên cứu báo cáo dị tật bẩm sinh ở sản phụ cường giáp cao hơn so với sản phụ bình giáp. Thai nhi của mẹ cường giáp TSHR-Ab là thủ phạm của sinh bệnh học của cường giáp ở thai nhi. Khả năng phát triển thai cường giáp cần phải đòi hỏi được điều trị liên quan đến mức độ của nồng độ TSHR-Ab kích thích của mẹ và thuốc điều trị bệnh cho sản phụ. Một nghiên cứu cho thấy rằng việc TSHR-Ab kích thích mẹ qua nhau thai gây ra cường giáp hoặc bệnh Graves ‘trong 1-5% trẻ sơ sinh ở các bà mẹ bị bệnh Graves. Tỷ lệ này là thấp nhờ sự cân bằng tự kháng thể kích thích và tự kháng thể ức chế và điều trị nhóm thionamide của các bà mẹ. TSHR-Ab vượt qua rau thai và kích thích tuyến giáp của thai nhi và có thể gây ra cường giáp của thai nhi biểu hiện thai với nhịp tim nhanh (nhịp tim > 160 nhịp/phút), bướu cổ, sinh non, suy tim và thai tích nước xảy ra ở 5% trẻ sơ sinh của những bà mẹ mắc bệnh Graves. Chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ Chức năng tuyến giáp Trong nửa đầu của thai kỳ bình thường, nồng độ TSH huyết thanh có thể ở dưới mức giới hạn tham chiếu so với người không mang thai, có lẽ là kết quả là do nồng độ cao hCG huyết thanh. Vì vậy, ở mức độ thấp TSH huyết thanh với giá trị FT4 bình thường trong giai đoạn sớm thai kỳ không thể xác định là bất thường chức năng tuyến giáp. Trong nửa thứ hai của thai kỳ, giới hạn thấp hơn TSH trong các người không mang thai có thể được sử dụng. Nồng độ FT4 và FT3 có thể tương đối cao hơn (5% -10%) so với giá trị không mang thai khoảng 10 tuần của thai kỳ, tương ứng với giai đoạn cao của nồng độ hCG huyết thanh và giảm nồng độ TSH huyết thanh. Từ nồng độ bình thường hoặc hơi cao này, bệnh dần dần xảy ra trong thời kỳ mang thai, và giá trị khoảng tham chiếu vào cuối quý ba thai kỳ là 10% -30% thấp hơn giá trị không mang thai. Nồng độ TT4 và TT3 huyết thanh tăng trong giai đoạn sớm thai kỳ. Từ cuối quý một thai kỳ, chúng vẫn ổn định, với mức tham khảo gần 1,5 lần khoảng tham chiếu người không mang thai trong quý thứ hai và thứ ba thai kỳ. Giá trị T4 và T3 toàn phần có thể được kết hợp với một thử nghiệm thu nhận T3 hoặc đo nồng độ TBG để điều chỉnh cho sự thay đổi liên quan thai nghén trong TBG. Như vậy các giá trị “chỉ số FT4“ hay “TBG được điều chỉnh T4” có thể hữu ích để chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ. Tuy nhiên, khoảng tham chiếu bình thường của từng quý thai kỳ nên được thiết lập cho mỗi thử nghiệm cá nhân và xét nghiệm được sử dụng. Cũng cần lưu ý về độ tin cậy dựa trên phân tích tự động đối với FT3 và FT4 đã được đặt ra hơn 25 năm nay. Trong nhiều bệnh viện chúng là những phương pháp chuẩn đo lường trong thời kỳ mang thai. Bởi vì mang thai có thể ảnh hưởng đến kết quả của các xét nghiệm từ các phương tiện do nhà sản xuất khác nhau theo những Nguyễn Hải Thủy l 25 cách thức khác nhau, phạm vi tham chiếu phương pháp đặc hiệu cho quý thai kỳ nên được sử dụng bởi các nhà sản xuất. Chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ cần được thực hiện và sử dụng các giá trị nồng độ TSH huyết thanh hoặc nồng độ TT4 và TT3, trong đó giá trị tham chiếu TT4 và TT3 điều chỉnh 1,5 lần so với khoảng tham chiếu người không mang thai hoặc dự toán theo FT4 và FT3 với khoảng tham chiếu theo từng quý thai kỳ của người bình thường. Việc chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ là một thách thức. Trong phần lớn các bệnh nhân, bệnh được gây ra bởi một bất thường tuyến giáp tiên phát và phát hiện chủ yếu sẽ là sự ức chế TSH huyết thanh với nồng độ FT3 và/hay FT4 huyết thanh trên khoảng tham chiếu (cường giáp rõ) hoặc trong vòng của khoảng tham chiếu (SH). Một điểm quan trọng là phạm vi khoảng tham chiếu cho các test kiểm tra chức năng tuyến giáp khác nhau trong các giai đoạn khác nhau của thai kỳ và tùy thuộc một số loại xét nghiệm, thay đổi có thể phụ thuộc vào các thử nghiệm. Bảng 1. Nồng độ TSH huyết thanh trong các quý thai Quý thai kỳ TSH huyết thanh (mIU/L) Quý đầu 0,1-2,5 Quý thứ hai 0,2-3,0 Quý thứ ba 0,3-3,0 Graves là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp trong thời kỳ mang thai; bướu giáp nhân độc ít phổ biến hơn. Cường giáp gây ra do chất hCG (human chorionic gonadotropin) do thai trứng hoặc ung thư tế bào nuôi biểu hiện một tuyến giáp tăng hoạt động và lan tỏa tương tự như Graves nhưng không có dấu hiệu mắt và không xuất hiện TRAb huyết thanh. Trong những bệnh nhân này, nồng độ hCG huyết thanh cao hơn dự kiến, và nguyên nhân có thể được xác định bởi thăm dò sản khoa. Sự hiểu biết liên quan đến thay đổi trong thai kỳ trong các thử nghiệm chức năng tuyến giáp là rất quan trọng trong việc đưa ra chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ. Giá trị và vai trò nồng độ TRAb huyết thanh trong thời kỳ mang thai. Nồng độ TRAb cần phải được định lượng nếu không chắc chắn về nguyên nhân cường giáp trong thai kỳ. Hai chỉ điểm tốt nhất của những hoạt động của bệnh Graves trong thời kỳ mang thai là chức năng tuyến giáp bệnh nhân và đo nồng độ TRAb huyết thanh. TRAb định lượng rất hữu ích trong c ... gặp với PTU và kháng thể kháng bào tương bạch cầu trung tính (antineurtrophil cytoplasmic antibody) dương tính 40 lần với PTU nhiều hơn so với MMI. Viêm gan miễn dịch dị ứng (Immunoallergic hepatitis) chỉ xảy ra với PTU, tần số của nó từ 0,1 đến 0,2%. Suy gan liên quan PTU được nhìn thấy trong 1/10000 người lớn và 1/2000 trẻ em, nó xảy ra 3 tháng sau khi bắt đầu dùng PTU điều trị , mặc dù biến chứng này có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình điều trị PTU. Trong trường hợp nặng, lên đến 25-50% tử vong đã được báo cáo và ghép gan có thể được đặt ra. Vì vậy, người ta đã khuyến cáo PTU không được sử dụng đầu tiên ở trẻ em hoặc người lớn. Tuy nhiên, do khả năng liên kết gây quái thai của MMI, PTU vẫn được khuyến cáo như là thuốc được lựa chọn trong quý đầu của thai kỳ. Chỉ có 2 trường hợp suy gan đã được báo cáo với PTU trong thai kỳ. Thai nhi: Tất cả các loại thuốc kháng giáp đều qua rau thai và có khả năng có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp của thai nhi . Mặc dù PTU liên kết với albumin huyết thanh nhiều hơn MMI và giả thuyết có thể được truyền qua rau thai ít hơn MMI, nhưng thực sự qua rau thai của PTU và MMI đều tương đương. Nguyễn Hải Thủy l 31 Một nghiên cứu cho thấy tốc độ truyền qua rau thai độc lập với nồng độ protein khuếch tán (perfusave protein concentration), và điều này có thể là do hiệu quả chiết xuất rau thai cao của thuốc không liên kết. Nồng độ PTU dây rốn cao hơn nồng độ máu mẹ cường giáp điều trị với PTU cho đến kỳ hạn. Ngoài ra, không có sự khác biệt về nồng độ hormone tuyến giáp và TSH trong máu dây rốn khi sinh giữa trẻ sơ sinh được điều trị MMI và PTU. Các biến chứng liên quan với thuốc kháng giáp trong bào thai : Quái thai: Hai mô hình khác biệt gây quái thai, bất sản da đầu (aplasia cutis) và hẹp hậu môn (choanal) / hẹp thực quản đã được báo cáo với sử dụng MMI trong thời gian mang thai, nhưng các dữ liệu gây tranh cãi. Mặc dù báo cáo trường hợp nhiều nghiên cứu trên động vật đã được ghi nhận liên quan chứng bất sản da đầu (cutis aplasia) với MMI điều trị cho bà mẹ mang thai , không có trường hợp bất sản da đầu nào được nhìn thấy trong một loạt của 243 phụ nữ mang thai được điều trị với MMI và sự xuất hiện của bất sản da đầu với MMI không vượt quá tỷ lệ cơ bản của 1/30.000 ca sinh ở thai kỳ bình thường. Hẹp hậu môn (Choanal) và hẹp thực quản có thể có một tỷ lệ cao hơn dự kiến trong bào thai tiếp xúc với MMI trong quý đầu của thai kỳ, tỷ lệ chỉ số nguy cơ (OR) có thể cao đến 18. Tuy nhiên, bệnh của mẹ có thể là yếu tố nguy cơ chứ không phải là điều trị MMI. Một nghiên cứu thuần tập ghi nhận không thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ bất thường lớn hoặc sẩy thai tự phát giữa nhóm điều trị MMI và nhóm chứng trong thời kỳ mang thai . Thuốc kháng giáp ảnh hưởng trên tuyến giáp của thai nhi: Ít có sự tương quan giữa chức năng tuyến giáp của thai nhi và liều lượng của thuốc kháng giáp của mẹ. Giảm T4 tự do huyết thanh ở 36% trẻ sơ sinh được ghi nhận các bà mẹ có nồng độ T4 tự do huyết thanh thấp hơn giá trị hai phần ba của nồng độ không mang thai bình thường. Tình trạng tuyến giáp mẹ là dấu hiệu đáng tin cậy nhất và ở các bà mẹ mang thai với nồng độ T4 tự do (FT4) huyết thanh đạt mức một phần ba trên của mức bình thường, nồng độ T4 tự do huyết thanh trên 90% trẻ sơ sinh của họ trong giới hạn bình thường. Điều trị quá liều kháng giáp gây giảm T4 tự do huyết thanh của mẹ thường đi kèm với suy giáp thai nhi. Ảnh hưởng thuốc kháng giáp trên sự tăng trưởng thể chất và tinh thần trẻ em: Không có sự khác biệt trong chức năng tuyến giáp hoặc phát triển thể chất và tâm thần đã được tìm thấy giữa các trẻ em được sinh ra mà mẹ sử dụng MMI hoặc PTU trong thời kỳ mang thai và những trẻ em sinh ra từ các bà mẹ bình giáp. Xét nghiệm cần được thực hiện ở sản phụ được điều trị với kháng giáp trong thời kỳ mang thai và mục tiêu của FT4 huyết thanh mẹ: MMI, PTU và carbimazole tất cả đều qua rau thai. Vì vậy, để tránh tác động có hại của thai nhi, mục đích là để duy trì các giá trị FT4 giới hạn trên của mức bình thường, trong khi đang sử dụng liều lượng kháng giáp thấp nhất có thể được. Nồng độ FT4 và TSH nên được đo khoảng mỗi 2-4 tuần bắt đầu điều trị và mỗi 4-6 tuần sau khi đạt được các mục tiêu . Giá trị cụ thể FT4 cho mỗi quý thai hiện không có, khuyến cáo cần tham khảo các giá trị tham chiếu ở bệnh nhân không mang thai. Trong điều trị nên được tránh kháng giáp quá liều vì khả năng gây bướu giáp và hoặc suy giáp thai nhi. Nồng độ TSH có thể vẫn không phát hiện được trong thời kỳ mang thai. Nồng độ TT3 không được khuyến cáo trong việc theo dõi của bệnh Graves ‘vì sự bình thường của TT3 huyết thanh người mẹ đã được cho biết gây ra tăng TSH huyết thanh trong trẻ sơ sinh khi sinh. Trường hợp ngoại lệ là người phụ nữ có nhiễm 32 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012 độc giáp T3, chẳng hạn như trong sự hiện diện của một bướu giáp nhân từ trước. Trong ba tháng đầu của thai kỳ, một số phụ nữ mắc bệnh Graves sẽ xuất hiện một sự trầm trọng của bệnh. Sau đó, quá trình tự nhiên của bệnh Graves là một cải tiến dần dần trong quý thứ hai và thứ ba. Thông thường, điều này sẽ dẫn đến một sự cần thiết phải giảm liều kháng giáp. Ngưng tất cả các liệu pháp kháng giáp là khả thi trong 20-30% bệnh nhân trong quý ba thai kỳ. Các trường hợp ngoại lệ là sản phụ có nồng độ TRAb cao cần điều trị kháng giáp nên được tiếp tục cho đến khi sinh. Tính nghiêm trọng của bệnh thường xảy ra sau khi sinh . Khuyến cáo USPSTF. Sản phụ nữ đang được điều trị với kháng giáp trong thai kỳ, FT4 và TSH nên được theo dõi khoảng 2-6 tuần. Mục tiêu chính là FT4 huyết thanh hoặc vừa phải trên mức tham chiếu bình thường (mức B-USPSTF). Methimazole ở liều 10-20 mg hoặc PTU 100-200 mg hàng ngày nên được bắt đầu và sau một tháng được điều chỉnh để duy trì nồng độ FT4 huyết thanh của mẹ đạt được một phần ba trên của quý thai kỳ . Nồng độ FT4 và TSH huyết thanh nên được theo dõi hàng tháng trong thời kỳ mang thai. Nồng độ huyết thanh của TSH: 0,1-2,0 mU/L là thích hợp, nhưng TSH <0.1 cũng là chấp nhận được nếu bệnh nhân có lâm sàng tốt ra và huyết thanh FT4 là trong phạm vi thích hợp. Có nên ngưng điều trị thuốc kháng giáp tổng hợp ở sản phụ bình giáp trong ba tháng cuối của thai kỳ: Một số bác sĩ lâm sàng khuyến cáo ngừng thuốc kháng giáp trong quý ba thai kỳ ở 20-30% phụ nữ mang thai đã được bình giáp trong vài tuần về liều lượng nhỏ và chuẩn độ thấp TRAB. Một nghiên cứu đã cho thấy sự tái phát của cường giáp trong giai đoạn sau sinh ở những sản phụ đã ngừng điều trị kháng giáp so với những người đã tiếp tục điều trị như vậy trong suốt thai kỳ và hậu sản. Điều trị triệt để cường giáp trong thai kỳ Nếu bệnh nhân cần điều trị triệt để một số khuyến cáo cần đưa ra: Phẫu thuật được đặt ra khi hiện diện của nồng độ cao TRAb. Nếu người mẹ có ý định mang thai hai năm sau đó. Nồng độ TRAb có khuynh hướng gia tăng sau khi điều trị phóng xạ và vẫn còn tăng trong nhiều tháng. Test thai phải thử trước 48h trước khi điều trị phóng xạ để tránh phơi nhiễm phóng xạ cho bào thai. Mang thai cần được trì hoãn khoảng 6 tháng sau khi điều trị triệt để để có thời gian chọn liều thyroxin phù hợp. Để có thể đánh giá mục tiêu cho mang thai (nồng độ TSH huyết thanh 0,3-2,5 mIU/l). Khuyến cáo USPSTF. Phụ nữ nhiễm độc giáp, cần đạt được bình giáp trước khi dự định mang thai (mức A-USPSTF) Chỉ định và thời gian của phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp trong việc điều trị cường giáp thai kỳ? Phẫu thuật trong thời kỳ mang thai mang nhiều nguy cơ hơn so với điều trị thuốc và có biến chứng do cường giáp. Có sự liên quan giữa tăng nguy cơ sẩy thai tự phát hoặc sinh non. Cắt toàn bộ tuyến giáp trong cường giáp bà mẹ rất hiếm khi được chỉ định và cắt giảm tuyến giáp gần toàn phần thường được chỉ định ở những bệnh nhân có phản ứng bất lợi lớn hoặc nặng với thuốc kháng giáp, và nếu cường giáp là không kiểm soát được vì thiếu tuân thủ, cần liều cao thuốc kháng giáp được yêu cầu để kiểm soát bệnh và bướu cổ lớn có thể đòi hỏi những liều cao của kháng giáp. Thời gian tối ưu cho phẫu thuật là trong quý 2 thai kỳ, khi tạo hình các cơ quan hoàn tất, tử cung là tương đối kháng với các biến cố kích thích và giảm tỷ lệ sẩy thai tự nhiên. Mang thai là một chống chỉ định tương đối phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp và chỉ nên được sử dụng trong trường hợp này khi điều trị tích cực nội bằng thuốc kháng giáp không đáp ứng. Phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp tốt nhất là tránh trong quý thứ nhất Nguyễn Hải Thủy l 33 và thứ ba của thai kỳ vì tác dụng gây quái thai liên quan với các thuốc gây mê và làm tăng nguy cơ sẩy thai trong quý đầu tiên và tăng nguy cơ sinh non ở quý ba thai kỳ. Tối ưu, phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp sẽ được thực hiện ở phần cuối quý thứ hai thai kỳ. Mặc dù đó là thời gian an toàn nhất, nhưng không phải là không có rủi ro (4,5% -5,5% nguy cơ sinh non). Đánh giá nguy cơ cao được tư vấn cùng với tư vấn trước khi phẫu thuật liên quan đến rủi ro liên quan. Phương pháp phẫu thuật cắt giảm giáp chữa trị tăng hoạt tuyến giáp trạng và thường được theo sau bởi một sự giảm dần TRAb trong máu lưu thông. Cho đến lúc bệnh thuyên giảm xảy ra, TRAb sản xuất bởi người mẹ có thể kích thích tuyến giáp của thai nhi hoặc trẻ sơ sinh và gây ra cường giáp. Trong khi sinh, nơi người mẹ vẫn còn nồng độ cao của TRAb sau khi cắt giảm tuyến giáp, theo dõi chặt chẽ thai nhi về hai thay đổi tim mạch và hệ vận động (siêu âm thai nhi) phải được thiết lập. Không có dữ liệu liên quan đến liệu dung dịch SSKI hoặc iode nên được sử dụng để chuẩn bị phẫu thuật cắt giảm giáp ở bệnh nhân mang thai. Các nguy cơ của liệu pháp iốt cho thai nhi là ức chế hữu cơ hóa iode (iodine organification), hiệu ứng Wolff-Chaikoff. Tuyến giáp của thai nhi đặc biệt nhạy cảm với tác dụng ức chế của iode quá mức vào cuối của thai kỳ và thai nhi bị bướu cổ có thể xảy ra với điều trị mãn tính. Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy chuẩn bị iốt ngắn hạn của người mẹ được làm tiền phẫu để giảm lưu lượng máu đến tuyến giáp và kiểm soát cường giáp là có hại cho thai nhi. Nhận xét kỹ thuật: chuẩn bị tiền phẫu cho cắt giảm tuyến giáp trong quý thứ hai của thai kỳ bao gồm 10-14 ngày iốt, cùng với điều trị thuốc kháng giáp và ức chế beta- để kiểm soát cường giáp. Kết luận Điều trị cường giáp trong thời kỳ mang thai cần phải cân nhắc đặc biệt và cẩn thận, nên được thực hiện để dự phòng bất kỳ tác dụng xấu đến mẹ, thai nhi và trẻ sơ sinh. Do khả năng gây quái thai khi sử dụng MMI, PTU được khuyến cáo như là thuốc được lựa chọn trong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng do nó gây nhiễm độc gan nên sau đó cần được thay đổi bằng MMI. Phẫu thuật được chỉ định khi liều cao thuốc kháng giáp không thể kiểm soát cường giáp hoặc tác dụng phụ nghiêm trọng đã xảy ra. Chống chỉ định điều trị iod phóng xạ được trong thời kỳ mang thai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Rivkees SA, Mattison DR. Propylthiouracil (PTU) Hepatoxicity in Children and Recommendations for Discontinuation of Use. Int J Pediatr Endocrinol 2009; 2009:132041. 2. Cooper DS, Rivkees SA. Putting propylthiouracil in perspective. J Clin Endocrinol Metab 2009; 94: 1881-2. 3. Martínez-Frías ML, Cereijo A, Rodríguez-Pinilla E, Urioste M. Methimazole in animal feed and congenital aplasia cutis. Lancet 1992; 339: 742-3. 4. Clementi M, Di Gianantonio E, Cassina M, Leoncini E, Botto LD, Mastroiacovo P; SAFE-Med Study Group. Treatment of hyperthyroidism in pregnancy and birth defects. J Clin Endocrinol Metab. 2010; 95:E337-41. 5. Barbero P, Valdez R, Rodrguez H, Tiscornia C, Mansilla E, Allons A, Coll S, Liascovich R. Choanal atresia associated with maternal hyperthyroidism treated with methimazole: A case-control study. AJMG 2008;146A: 2390-5. 6. Azizi F. Treatment of post-partum 34 l TẠP CHÍ PHỤ SẢN, Tập 10, Số 3, Tháng 7 - 2012 thyrotoxicosis. J Endocrinol Invest 2006; 29: 244-7. 7. Bahn RS, Burch HS, Cooper DS, Garber JR, Greenlee CM, Klein IL, Laurberg P, McDougall IR,Rivkees SA, Ross D, Sosa JA, Stan MN. The Role of Propylthiouracil in the Management of Graves’ Disease in Adults: report of a meeting jointly sponsored by the American Thyroid Association and the Food and Drug Administration. Thyroid. 2009; 19:673-4. 8. Mestman JH. Hyperthyroidism in pregnancy. Clin Obstet Gynecol 1997; 40: 45-64. 9. Lazarus JH. Thyroid disorders associated with pregnancy. Treat Endocrinol 2005; 4: 31-41. 10. Papendieck P, Chiesa A, Prieto L, Gruñeiro-Papendieck L. Thyroid disorders of neonates born to mothers with Graves’ disease. J Pediatr Endocrinol Metab 2009; 22: 547-53. 11. Stagnaro-Green A. Maternal thyroid disease and preterm delivery. J Clin Endocrinol Metab 2009; 94: 21-5. 12. Azizi F. The safety and efficacy of antithyroid drugs. Expert Opin Drug Saf 2006; 5: 107-16. 13. Laurberg P, Bournaud C, Karmisholt J, Orgiazzi J. Management of Graves hyperthyroidism in pregnancy: focus on both maternal and foetal thyroid function, and caution against surgical thyroidectomy in pregnancy. Eur J Endocrinol. 2009;160:1-8. 14. Hershman JM. The role of human chorionic gonadotro- pin as a thyroid stimulator in normal pregnancy. J Clin Endocrinol Metab. 2008;93:3305-3306. 15. Mandel SJ, Spencer CA, Hollowell JG. Are detection and treatment of thyroid insufficiency in pregnancy feasi- ble? Thyroid. 2005;15:44-53. 16. Lee RH, Spencer CA, Mestman JH, et al. Free T4 immunoassays are flawed during pregnancy. Am J Obstet Gynecol. 2009;200:260.e1-e6. 17. Gong Y, Hoffman BR. Free thyroxine reference interval in each trimester of pregnancy determined with the Roche Modular E-170 electrochemiluminescent immunoassay. Clin Biochem. 2008;41:902-906. 18. Silvio R, Swapp KJ, La’ulu SL, Hansen- Suchy K, Roberts WL. Method specific second-trimester reference intervals for thyroid-stimulating hormone and free thyrox- ine. Clin Biochem. 2009;42:750-753. 19. Casey BM, Dashe JS, Wells CE, McIntire DD, Leveno KJ, Cunningham FG. Subclinical hyperthyroidism and pregnancy outcomes. Obstet Gynecol. 2006;107:337-341. 20. Vos XG, Smit N, Endert E, Tijssen JG, Wiersinga WM. Frequency and characteristics of TBII-seronegative patients in a population with untreated Graves’ hyperthy- roidism: a prospective study. Clin Endocrinol (Oxf). 2008; 69:311-317. 21. Chan GW, Mandel SJ. Therapy insight: management of Graves’ disease during pregnancy. Nat Clin Pract Endocrinol Metab. 2007;3:470-478. 22. Davanzo R, Rubert L, Oretti C. Meta- variability of advice on drugs in the breastfeeding mother: the exam- ple of beta-blockers. Arch Dis Child Fetal Neonatal Ed. 2008;93:F249-F250.
File đính kèm:
chan_doan_va_dieu_tri_cuong_giap_trong_thoi_ky_mang_thai.pdf

