Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
Mục tiêu: Nhận xét kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ
bệnh phẩm nước ối. Xác định một số yếu tố liên quan giữa kiểu gen của
thai với biểu hiện bệnh thalassemia ở mẹ (đặc điểm hồng cầu, huyết
sắc tố, tiền sử).
Đối tượng nghiên cứu: 134 phụ nữ có thai được chọc ối và làm xét
nghiệm đột biến gen thalassemia từ bệnh phẩm nước ối tại Trung tâm
Chẩn đoán trước sinh - bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1/2016
đến 12/2018.
Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Kết quả: có 83 trường hợp được chẩn đoán mang đột biến gen bệnh
alpha thalassemia (61,94%), 41 trường hợp mang kiểu gen đồng hợp
tử đột biến SEA gây phù thai, và 12 trường hợp mang kiểu gen gây
bệnh β-thalassemia thể nặng và 28 trường hợp bình thường (chiếm
20,9%), 100% các thai phụ có hồng cầu nhỏ (MCV<80fl), nhược="">80fl),>
(MCH<28pg) nhưng="" chỉ="" có="" 67,2%="" thai="" phụ="" có="" thiếu="" máu="">28pg)><110g>110g>
Chỉ số ferritin và sắt huyết thanh trong giới hạn bình thường ở 70,9% và
85,1% sô thai phụ.
Kết luận: Xét nghiệm đột biến gen thalassemia ở mẫu nước ối của
những thai phụ có nguy cơ cao rất giá trị trong việc tư vấn di truyền bệnh
thalassemia.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương
ĐẶNG THỊ HỒNG THIỆN, LÊ HOÀI CHƯƠNG, HOÀNG THỊ NGỌC LAN 36 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U Đặng Thị Hồng Thiện(1), Lê Hoài Chương(1), Hoàng Thị Ngọc Lan(2) (1) Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương, (2) Trường Đại học Y Hà Nội CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH THALASSEMIA TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG Tác giả liên hệ (Corresponding author): Đặng Thị Hồng Thiện, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 20/06/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 15/07/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 01/09/2019 Từ khóa: thalassemia, chẩn đoán trước sinh. Keywords: thalassemia, prenatal diagnose Tóm tắt Mục tiêu: Nhận xét kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ bệnh phẩm nước ối. Xác định một số yếu tố liên quan giữa kiểu gen của thai với biểu hiện bệnh thalassemia ở mẹ (đặc điểm hồng cầu, huyết sắc tố, tiền sử). Đối tượng nghiên cứu: 134 phụ nữ có thai được chọc ối và làm xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ bệnh phẩm nước ối tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh - bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1/2016 đến 12/2018. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang. Kết quả: có 83 trường hợp được chẩn đoán mang đột biến gen bệnh alpha thalassemia (61,94%), 41 trường hợp mang kiểu gen đồng hợp tử đột biến SEA gây phù thai, và 12 trường hợp mang kiểu gen gây bệnh β-thalassemia thể nặng và 28 trường hợp bình thường (chiếm 20,9%), 100% các thai phụ có hồng cầu nhỏ (MCV<80fl), nhược sắc (MCH<28pg) nhưng chỉ có 67,2% thai phụ có thiếu máu (Hb<110g/l). Chỉ số ferritin và sắt huyết thanh trong giới hạn bình thường ở 70,9% và 85,1% sô thai phụ. Kết luận: Xét nghiệm đột biến gen thalassemia ở mẫu nước ối của những thai phụ có nguy cơ cao rất giá trị trong việc tư vấn di truyền bệnh thalassemia. Từ khóa: thalassemia, chẩn đoán trước sinh. Abstract RESULTS OF PRENATAL DIAGNOSIS OF THALASSEMIA IN THE NATIONAL HOSPITAL OF OBSTETRICS AND GYNECOLOGY Objective: Comment on the results of the thalassemia mutation test from amniotic fluid. Identification of some factors related to thalassemia genotype of fetus with maternal presentation (red blood cell, hemoglobin, pre-clinical), TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 37 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 36 - 41, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 Study subjects: 134 pregnant women who had amniocentesis and tested for mutations in the thalassemia gene from amniotic fluid at the Prenatal Diagnosis Center in National Hospital of Obstetrics and Gynecology from January 2016 to Decembre 2018. Method: cross sectional description study. Results: There were 83 cases diagnosed with alpha thalassemia gene mutation (61,94%), 41 trường hợp mang kiểu gen đồng hợp tử đột biến SEA gây phù thai, 12 cases carrying the genotype responsible for β-thalassemia major, và 28 cases of undetected thalassemia mutations (20.9%). 100% of the women had small red blood cells (MCV <80 μl) anh MCH<28pg, but only 69.6% had anemia (Hb <110 g/l). Ferritin and serum iron concentration are in normal limits on 70,9% và 85,1% of pregnant women. Conclusion: Testing for thalassemia mutations in amniotic fluid samples of high-risk pregnant women is of great value in providing genetic counseling for thalassemia. Keywords: thalassemia, prenatal diagnose 1. Đặt vấn đề Thalassemia là bệnh thiếu máu di truyền phổ biến nhất trên thế giới, theo quy luật di truyền lặn của Mendel, do đột biến gen globin làm giảm hoặc không sản xuất globin để tạo thành hemoglobin (Hb), gây ra tình trạng thiếu máu [1]. Bệnh có 2 nhóm phổ biến là α- thalassemia và β-thalassemia tùy theo nguyên nhân đột biến ở gen α-globin hay β-globin khiến tế bào hồng cầu bị giảm thể tích và số lượng gây thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ. Phân tử haemoglobin được tạo bởi hai cặp chuỗi globin khác nhau kết hợp với haem có chứa sắt. Các chuỗi globin được chia thành hai nhóm: nhóm chuỗi α gồm có các chuỗi ζ và α; và nhóm chuỗi không α (hay cũng gọi là nhóm chuỗi β) gồm có các chuỗi ε, β, và δ. Các chuỗi ζ và α được mã hóa bởi các gene nằm trên nhánh ngắn của nhiễm sắc thể số 16. Các gene mã hóa các chuỗi ε, β, và δ nằm trên nhiễm sắc thể số 11 theo trật tự ε, δ, β. Bệnh thalassaemia là hậu quả của hiện tượng đột biến hoặc mất các gene tham gia vào quá trình sinh tổng hợp các chuỗi globin. Nhóm các bệnh thalassaemia được phân loại theo chuỗi globin bị bất thường: chuỗi globin α hoàn toàn không có hoặc thiếu thì gọi là bệnh α-thalassemia, chuỗi β bị thiếu hoặc không có thì gọi là β-thalassemia, chuỗi δ và β ở bệnh nhân δβ- thalassemia Bệnh alpha thalassemia đặc biệt phổ biến ở các nước Đông Nam Á như Việt Nam. Bệnh α thalassemia thường gây thiếu máu nhẹ hơn, mức độ thiếu máu rất thay đổi. Bệnh Alpha thalassemia có bốn thể, thường do đột biến kiểu mất một, hai, ba hoặc cả bốn gen α -globin. Thể bệnh lâm sàng nặng nhất của bệnh alpha thalassemia là phù thai Hb Bart’, cả bốn locus gen α -globin đều không hoạt động. Đây là một trường hợp thai nghén có nguy cơ cao, tiên lượng xấu cho con- thường gây tử vong trước hoặc ngay sau sinh; đối với mẹ, nếu có kèm phù rau thai thì mẹ nhiều nguy cơ tiền sản giật và băng huyết sau đẻ [2],[3]. Bệnh beta thalassemia là kết quả của gần 200 kiểu đột biến khác nhau của gen β globin. Các đột biến này sẽ dẫn đến hậu quả là cơ thể không tổng hợp được các chuỗi β hoặc tổng hợp thiếu chuỗi. Các biểu hiện lâm sàng của β thalassemia phụ thuộc vào thể bệnh. Trường hợp β thalassemia thể nặng hay thể đồng hợp tử (bệnh thiếu máu Cooley), các triệu chứng lâm ĐẶNG THỊ HỒNG THIỆN, LÊ HOÀI CHƯƠNG, HOÀNG THỊ NGỌC LAN 38 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U sàng thường biểu hiện rất sớm từ tháng thứ 7 sau khi sinh và rõ ràng nhất vào lúc trẻ được khoảng 2 tuổi, gồm hội chứng hoàng đảm, gan lách to, rất chậm phát triển, và biến dạng xương chủ yếu xương hàm và xương trán; những người này phải điều trị truyền máu và thải sắt suốt đời. Đối với β thalassemia thể trung bình hay thể dị hợp tử, các gen β globin vẫn còn hoạt động ở một mức độ nào đó, bệnh nhân mắc thể này cũng có các triệu chứng lâm sàng ở mức độ nhẹ hơn, có biểu hiện xét nghiệm là thiếu máu nhược sắc hồng cầu nhỏ. Còn β thalassemia thể nhẹ thường là những người mang gene bệnh nhưng không có biểu hiện lâm sàng của bệnh và không cần can thiệp điều trị [4],[5]. Đột biến HbE là một thể đặc biệt, do acid amin ở vị trí số 26 là glutamin bị thay thế bằng lysin- không phải là đột biến số lượng chuỗi β- globin nhưng có biểu hiện kiểu hình của bệnh β thalassemia. Người mang kiểu gen phối hợp dị hợp tử 1 đột biến HbE và 1 đột biến β thalassemia sẽ có kiểu hình β thalassemia thể nặng [6]. Hàng năm, trên thế giới có khoảng 50.000 - 60.000 đứa trẻ sinh ra bị căn bệnh này, có khoảng 50.000 - 100.000 trẻ bị bệnh Thalassemia thể nặng qua đời. Việt Nam là nước có tỷ lệ mắc bệnh cao, với khoảng 3% dân số mang gen bệnh thalassemia (5 triệu người) và 20 nghìn người phải điều trị thường xuyên [7]. Mỗi năm có khoảng 2000 trẻ em sinh ra mắc bệnh Thalassemia, chỉ khoảng 1/10 trong số đó được tiếp cận các phương pháp điều trị (truyền máu, thải sắt hoặc ghép tủy). Sự tập trung bất thường của sắt (thứ phát sau khi hồng cầu vỡ) vào các cơ quan như tim, gan, tụy có thể làm cho các cơ quan này bị suy. Suy tim và nhiễm trùng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các bệnh nhân này [8]. Việc chẩn đoán trước sinh bằng xét nghiệm di truyền phân tử để tìm đột biến gen bệnh thalassemia từ bệnh phẩm nước ối của những bà mẹ có tiền sử sinh con bị thalassemia hoặc hai vợ chồng có nguy cơ mang gen thalassemia đã giúp cho bác sỹ sản khoa có những thông tin về thai chính xác để tư vấn di truyền cho cặp vợ chồng [9]. Mục tiêu nghiên cứu: - Nhận xét kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ bệnh phẩm nước ối. - Xác định một số yếu tố liên quan giữa kiểu gen của thai với biểu hiện bệnh thalassemia ở mẹ (đặc điểm hồng cầu, huyết sắc tố, tiền sử). 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng Những thai phụ có chẩn đoán nghi ngờ, được chọc ối và làm xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ bệnh phẩm nước ối tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh bệnh viện Phụ Sản Trung Ương từ tháng 1/ 2016 đến 12/ 2018. Tổng số có 134 đối tượng nghiên cứu. 2.2. Phương pháp nghiên cứu - Nghiên cứu mô tả cắt ngang: Thai phụ nguy cơ cao thai bị mắc bệnh thalassemia qua thăm khám và xét nghiệm, không có chống chỉ định chọc ối được chọc ối lấy 10ml nước ối để làm xét nghiệm DNA và xét nghiệm xác định đột biến gen gây bệnh thalassemia. - Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS và EpiData 3. Kết quả 3.1. Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Tuổi trung bình của các phụ nữ có thai trong nghiên cứu này là 27,9 ± 5,06 tuổi, trong đó người ít tuổi nhất là 19 tuổi và người cao tuổi nhất là 45 tuổi. Số lượng người bệnh nhiều nhất trong nhóm tuổi từ 25 đến 35 tuổi là 90 người chiếm 67,2%. Chủ yếu là người dân tộc Kinh chiếm 70,1%, số còn lại bao gồm các dân tộc Thái (11 trường hợp), Tày (12 trường hợp), Mường (7 trường hợp) và một số dân tộc khác. Tuổi 35 N Số lượng 35 90 9 134 % 26,1 67,2 6,7 100 Dân tộc Kinh Thái Tày Mường Khác N Số lượng 94 11 12 7 10 134 % 70,1 8,2 9,0 5,2 7,5 100 Bảng 1: Các đặc điểm của mẹ TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 39 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 36 - 41, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 3.2. Kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia của thai từ bệnh phẩm nước ối 3.3. Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và tiền sử sản khoa của mẹ 3.4. Liên quan giữa kết quả chọc ối của thai và đặc điểm của mẹ Kiểu gen Số lượng Tỷ lệ % Bệnh α-thalassemia (83 trường hợp) Đồng hợp tử SEA 40 61,94 Dị hợp tử SEA 37 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử α3.7 3 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử α4.2 2 Dị hợp tử α3.7 và dị hợp tử α4.2 1 Bệnh β- thalassemia (10 trường hợp) Đồng hợp tử CD17 1 7,46 Dị hợp tử CD17 3 Dị hợp tử CD17 và dị hợp tử CD41/42 2 Dị hợp tử CD41/42 1 Dị hợp tử CD41/42 và dị hợp tử CD71/72 1 Dị hợp tử CD41/42 và dị hợp tử -28 1 Dị hợp tử CD41/42 và dị hợp tử IVS1-1 1 Bệnh Huyết sắc tố E 2 trường hợp Dị hợp tử CD26 2 1,49 Phối hợp (11 trường hợp) Đồng hợp tử SEA và dị hợp tử CD26 1 8,21 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử CD26 1 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử CD26, dị hợp tử CD71/72 1 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử CD26, dị hợp tử CD41/42 1 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử CD17 2 Dị hợp tử SEA và dị hợp tử CD41/42 1 Dị hợp tử CD26, dị hợp tử CD41/42 2 Dị hợp tử CD26, dị hợp tử CD17 2 Bình thường 28 20,9 Tổng 134 100 Bảng 2: Kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia của thai từ bệnh phẩm nước ối Kết quả XN gen từ TB ối Tiền sử Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Con mang gen bệnh 4 7 6 6 Khác 11 30 3 3 Phù thai 12 46 0 5 Tổng Bảng 3: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và tiền sử sản khoa của mẹ Kết quả chọc ối HGB Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng ≥ 110 g/l 10 29 1 4 44 < 110g/l 17 54 8 10 89 P<0,05 Bảng 4: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và sự thiếu máu của mẹ Kết quả chọc ối MCV Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng ≥ 80 f/l 0 1 0 0 1 < 80f/l 27 82 9 14 132 P Bảng 5: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và hồng cầu nhỏ của mẹ 4. Bàn luận Ở Việt Nam, tỷ lệ người dân mắc bệnh phân bố trong cả nước, khác nhau tùy từng địa phương, Kết quả chọc ối MCH Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng ≥ 28pg 0 0 0 0 0 < 28pg 27 83 9 14 P Bảng 6: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và hồng cầu nhược sắc của mẹ Kết quả chọc ối Sắt HT Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Bình thường 21 60 7 11 Giảm 1 7 0 0 Tăng 1 2 0 1 Không XN p Bảng 7: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và sắt huyết thanh của mẹ Kết quả chọc ối Ferritin HT Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Bình thường 20 56 5 8 89 Giảm 2 6 1 1 10 Tăng 1 7 1 3 12 Không XN 22 p Bảng 8: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và Ferritin HT của mẹ Kết quả chọc ối Điện di Hb Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Bình thường 15 40 5 4 Bất thường 2 6 1 1 K XN p Bảng 9: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và kết quả điện di Hb của mẹ Kết quả chọc ối Điện di Hb Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Mang gen α-thalassemia 18 73 1 3 95 Mang gen β-thalassemia 2 0 6 3 11 Phối hợp, HbE 3 5 2 8 18 Không XN 4 5 0 0 9 p 133 Bảng 10: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và kết quả đột biến gen của mẹ Kết quả chọc ối Siêu âm thai Bình thường α - thalassemia β- thalassemia Phối hợp, HbE Tổng Bình thường 23 53 9 14 111 Phù thai 0 15 0 0 15 Khác 1 7 0 0 8 p Bảng 11: Mối liên quan giữa kiểu gen của thai và kết quả siêu âm thai ĐẶNG THỊ HỒNG THIỆN, LÊ HOÀI CHƯƠNG, HOÀNG THỊ NGỌC LAN 40 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 N G H IÊ N C Ứ U từng nhóm dân tộc, tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,5-1% đối với người dân tộc kinh, tăng cao 10-25% ở một số dân tộc thiểu số, đặc biệt là ở người dân tộc miền núi phía Bắc, tỷ lệ mang gen bệnh rất cao: Mường (25,0%), Tày (12,0%), Nùng (10,7%) [7]. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ thai phụ dân tộc Kinh là cao nhất (70,1%), do đa số các bệnh nhân đến khám tại viện là dân tộc kinh, có rất ít người dân tộc thiểu số đến khám, chủ yếu từ các bệnh viện tuyến dưới chuyển lên để hội chẩn. Tuổi trung bình trong nghiên cứu này là 27,9 ± 5,06, đa số các thai phụ trong độ tuổi 25-35 (67,2%) do đây là độ tuổi sinh đẻ chủ yếu ở nước ta hiện nay. Theo bảng 2, trong 134 phụ nữ có thai được chọc ối để xét nghiệm đột biến gen thalassemia có 28 trường hợp không phát hiện thấy đột biến gen bệnh thalassemia (chiếm 20,9%), 83 trường hợp được chẩn đoán mang đột biến gen bệnh alpha thalassemia (chiếm 61,94%), còn lại 23 trường hợp (chiếm 17,16%) bao gồm cả đột biến gen bệnh beta thalassemia, đột biến gen bệnh huyết sắc tố E và phối hợp các loại đột biến trên với tỉ lệ lần lượt là 7,46%; 1,49% và 8,21%. So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hân Hoan và cộng sự trên 290 mẫu nước ối được xét nghiệm gen bệnh thalassemia tại bệnh viện Từ Dũ năm 2007-2010 thì số trường hợp không phát hiện đột biến là 28,6%- tương tự với kết quả của nghiên cứu này là 20,9%; số thai bị đột biến gen bệnh alpha thalassemia là 44% - thấp hơn nhiều so với kết quả của nghiên cứu này là 61,94%; số thai bị đột biến gen beta thalassemia là 20,3% cao hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ là 7,46%. Tỉ lệ trường hợp mang phối hợp nhiều đột biến cả alpha thalassemia, beta thalassemia và HbE của 2 nghiên cứu là tương tự nhau (8,21% ở nghiên cứu của chúng tôi và 6,9% ở nghiên cứu tại Bệnh viện Từ Dũ) [10]. Trong số 83 trường hợp mang đột biến gen bệnh alpha thalassemia thì có 40 trường hợp kiểu gen là đồng hợp tử đột biến SEA và 1 trường hợp phối hợp đồng hợp tử đột biến SEA phối hợp với dị hợp tử đột biến CD26, 41 trường hợp này (chiếm 30,6%) sẽ có kiểu hình bệnh α-thalassemia thể nặng là phù thai gây thai chết trong tử cung hoặc chết sớm sau sinh; 37 trường hợp chỉ tổn thương 2 gen α-globin với kiểu gen là dị hợp tử đột biến SEA và kiểu hình là bệnh alpha thalassemia thể nhẹ - không có biểu hiện lâm sàng, chỉ có biểu hiện hồng cầu nhỏ nhược sắc khi xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, điện di hemoglobin bình thường; 6 trường hợp còn lại có tổn thương 3 gen α-globin với kiểu gen là dị hợp tử đột biến SEA kết hợp dị hợp tử α3.7 hoặc dị hợp tử α4.2 và kết hợp dị hợp tử α3.7 với dị hợp tử α4.2, cho kiểu hình là bệnh alpha thalassemia thể trung gian, có biểu hiện lâm sàng thiếu máu ở mức độ nhẹ hoặc trung bình, xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi có biểu hiện thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc, điện di hemoglobin có HbH. Những trường hợp phù thai sẽ tư vấn cho thai phụ ngừng thai nghén sớm để tránh biến chứng tiền sản giật cũng như không cần kéo dài thời gian mang thai vô ích. Trong số 23 trường hợp đột biến gen thalassemia khác có 12 trường hợp (chiếm 8,96%) có kiểu hình bệnh β-thalassemia thể nặng là 1 trường hợp đồng hợp tử đột biến CD17 và 11 trường hợp dị hợp tử kép đột biến gen β-globin. Những trường hợp này trẻ thường có biểu hiện bệnh sớm trong năm đầu đời và cần điều trị truyền máu và thải sắt suốt đời. Nếu để trẻ ra đời cần tư vấn cho thai phụ đưa con đi khám và điều trị sớm để tránh biến chứng cho trẻ, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống hơn. Theo nghiên cứu tại bệnh viện Từ Dũ năm 2007-2010 [10] thì tỷ lệ thai mang kiểu gen bệnh Hb Bart’s gây phù thai là 13,1% và thai mang kiểu gen gây kiểu hình bệnh β-thalassemia thể nặng là 5,2%- thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi với tỉ lệ tương ứng là 30,6% và 8,96%. Tiền sử sinh con bị phù thai là một trong những nguyên nhân chính làm cho người bệnh đến để được chẩn đoán xem con lần này có bị phù thai nữa không. Theo bảng 3, Số người có tiền sử bị phù thai nhiều nhất là 66 trường hợp (chiếm 49,25%), trong đó có 54 trường hợp kết quả xét nghiệm đột biến gen thalassemia từ tế bào nước ối của lần có thai này: - 28 đồng hợp tử đột biến SEA, tương ứng với kiểu hình là phù thai, - 1 trường hợp dị hợp tử đột biến SEA kết hợp với dị hợp tử kép CD26, dị hợp tử CD41/42 cho biểu hiện kiểu hình là mắc bệnh β-thalassemia thể nặng, - 12 trường hợp có kiểu gen bình thường - 25 trường hợp mang kiểu gen dị hợp tử đột biến SEA hoặc dị hợp tử đột biến SEA kết hợp dị hợp tử TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 41 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 36 - 41, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 đột biến CD26 hoặc CD17 nên có biểu hiện lâm sàng thể nhẹ, không cần ngừng thai nghén của lần này. Giải pháp khoa học hữu hiệu nhất cho những người bị phù thai nhiều lần do bệnh Hb Bart’s là thụ tinh trong ống nghiệm với những phôi đã được chẩn đoán di truyền loại trừ bệnh thalassemia trước chuyển phôi, tuy nhiên phương pháp này rất tốn kém và kết quả có thai còn hạn chế phụ thuộc vào số phôi tốt mà người bệnh có được cũng như tỷ lệ thành công của phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Theo bảng 4, Trong số 134 đối tượng nghiên cứu, khi làm xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi ta thấy 100% người bệnh có hồng cầu nhỏ (chỉ số MCV nhỏ hơn 80fl) và 100% người bệnh có hồng cầu nhược sắc (chỉ số MCH nhỏ hơn 28pg), trong khi đó chỉ có 90 người thiếu máu (huyết sắc tố Hb nhỏ hơn 110g/l) - chiếm 67,2%. Như vậy việc sàng lọc một cách chủ động bệnh thalassemia bằng xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi với gợi ý là hồng cầu nhỏ (chỉ số MCV nhỏ hơn 80fl) và hồng cầu nhược sắc (chỉ số MCH nhỏ hơn 28pg) là một việc rất nên triển khai rộng rãi, thường quy và tiến hành sớm khi có thai để thai phụ được làm các xét nghiệm chẩn đoán bệnh sớm, can thiệp sớm nếu chẩn đoán được bệnh ở thai nhi. Khi đánh giá khả năng thiếu sắt ở các đối tượng nghiên cứu ta thấy 114 bệnh nhân (chiếm 85,1%) có lượng sắt huyết thanh bình thường, 95 trên 134 người (chiếm 70,9%) có lượng ferritin huyết thanh bình thường. Như vậy chưa thấy lợi ích của việc chỉ định xét nghiệm định lượng sắt huyết thanh và ferritin huyết thanh ở những thai phụ đến sàng lọc và chẩn đoán bệnh thalassemia trong nghiên cứu này. 5. Kết luận và khuyến nghị - Kết quả chọc ối xét nghiệm đột biến gen thalassemia phát hiện được thai mang gen bệnh α- thalassemia cao với tỷ lệ 61,94%. - 41 trường hợp (30,6%) có thai mang kiểu gen đột biến đồng hợp tử SEA gây phù thai và 12 trường hợp (8,96%) có kiểu gen đồng hợp tử hoặc dị hợp tử kép bệnh β- thalassemia biểu hiện kiểu hình là mắc bệnh β-thalassemia thể nặng. - Cần sàng lọc sớm bệnh thalassemia ở phụ nữ có thai bằng xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi với gợi ý là hồng cầu nhỏ (chỉ số MCV nhỏ hơn 80fl) và hồng cầu nhược sắc (chỉ số MCH nhỏ hơn 28pg). Tài liệu tham khảo 1. Modell B., Darlison M. (2008). Global epidemiology of haemoglobin disorders and derived service indicators. Bull World Health Organ, 86 (6), 480-487. 2. Chui D.H. (2005). Alpha-thalassemia: Hb H disease and Hb Barts hydrops fetalis. Annals of the New York Academy of Sciences, 1054, 25-32. 3. Sanguansermsri T., Thanaratanakorn P., Steger H.F. et al. (2001). Prenatal diagnosis of hemoglobin Bart's hydrops fetalis by HPLC analysis of hemoglobin in fetal blood samples. Southeast Asian J Trop Med Public Health, 32 (1), 180-185. 4. Svasti S., Hieu T.M., Munkongdee T. et al. (2002). Molecular analysis of beta-thalassemia in South Vietnam. Am J Hematol, 71 (2), 85-88. 5. Imran-ud-din Khattak, Sania Tanwwer Khattak, Khan J. (2006 July- Dec). Heterozygous beta thalassemia in patients of children with beta thalassemia major. Gomal Journal of Medical Sciences, 2-4. 6. Borgna-Pignatti, C. Galanello, R. Greer, J.P.Foerster, J.Lukens, J.N Rodgers, et al. 2004. Thalassemias and related disorders: quantitative disorders of hemoglobin synthesis. In Wintrobe’s clinical hematology (Vol.1, p 1319-1365). Philadelphia: Lippincott Williams & Wilkins. 7. Nguyễn Công Khanh (1993). Tần suất bệnh hemoglobin ở Việt Nam. Tạp chí Y học Việt Nam, (8), 11-16. 8. Fucharoen S., Winichagoon P. (1992). Thalassemia in SouthEast Asia: problems and strategy for prevention and control. Southeast Asian J Trop Med Public Health, 23 (4), 647-655. 9. Old, J.M. Screening and genetic diagnosis of haemoglobin disorders. Blood Reviews. 2003; 17(1): 43-53. 10. Nguyễn Khắc Hân Hoan, Phạm Việt Thanh, Trương Đình Kiệt, Lâm Thị Mỹ, 2011, “Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia trên 290 trường hợp thai”. Tạp chí Nghiên cứu y học vol 73, No 3, P 1-6
File đính kèm:
chan_doan_truoc_sinh_benh_thalassemia_tai_benh_vien_phu_san.pdf

