Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia bằng kỹ thuật lai phân tử ngược trên màng lai

α- và β- thalassemia là các rối loạn di truyền đơn gen phổ biến nhất trên

toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên 88 trường

hợp thai của các cặp vợ chồng có nguy cơ cao đẻ con mắc Thalassemia.

Các thai phụ được chọc ối và xét nghiệm phân tử bệnh thalasemia nhằm

phát hiện các dạng đột biến gen thalassemia ở tế bào ối bằng kỹ thuật lai

phân tử ngược (Reverse hybridization) tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh,

Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017.

Kết quả cho thấy 64/88 trường hợp mang gen đột biến chiếm 72,7%.

Trong đó, có 51/64 thai bị đột biến α – thalassemia (79,7%), 8/64 thai bị đột

biến β – thalassemia (12,5%) và 5/64 mang đồng thời đột biến α (--SEA)-

và β – thalassemia (dị hợp tử CD41/42 hoặc dị hợp tử CD 17) hoặc CD 26

(7,8%). Đột biến (--SEA) trên gen α globulin chiếm tỉ lệ 100% thai bị đột biến

α – thalassemia. Trong đó, 47% mang kiểu gen của bệnh α – thalassemia

ở dạng đồng hợp tử. Chẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật lai phân tử ngược

giúp đưa ra các quyết định về thai nhi cũng như tư vấn di truyền trước hôn

nhân đối với các trường hợp phát hiện dị hợp tử bệnh thalasemia.

pdf 5 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia bằng kỹ thuật lai phân tử ngược trên màng lai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia bằng kỹ thuật lai phân tử ngược trên màng lai

Chẩn đoán trước sinh bệnh thalassemia bằng kỹ thuật lai phân tử ngược trên màng lai
HOÀNG THỊ NGỌC LAN, NGUYỄN THỊ VÂN ANH, LÊ PHƯƠNG THẢO, NGÔ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐOÀN THỊ HUYỀN
42
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Vân Anh, Lê Phương Thảo, Ngô Thị Tuyết Nhung, Đoàn Thị Huyền 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương
CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BỆNH THALASSEMIA 
BẰNG KỸ THUẬT LAI PHÂN TỬ NGƯỢC
TRÊN MÀNG LAI
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Hoàng Thị Ngọc Lan, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: thalassemia, kỹ thuật 
lai phân tử ngược, đột biến gen 
globin, chẩn đoán trước sinh.
Keywords: thalassemia, 
reverse hybridization, prenatal 
diagnosis.
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Tóm tắt
α- và β- thalassemia là các rối loạn di truyền đơn gen phổ biến nhất trên 
toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Nghiên cứu được tiến hành trên 88 trường 
hợp thai của các cặp vợ chồng có nguy cơ cao đẻ con mắc Thalassemia. 
Các thai phụ được chọc ối và xét nghiệm phân tử bệnh thalasemia nhằm 
phát hiện các dạng đột biến gen thalassemia ở tế bào ối bằng kỹ thuật lai 
phân tử ngược (Reverse hybridization) tại Trung tâm Chẩn đoán trước sinh, 
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương năm 2017. 
Kết quả cho thấy 64/88 trường hợp mang gen đột biến chiếm 72,7%. 
Trong đó, có 51/64 thai bị đột biến α – thalassemia (79,7%), 8/64 thai bị đột 
biến β – thalassemia (12,5%) và 5/64 mang đồng thời đột biến α (--SEA)- 
và β – thalassemia (dị hợp tử CD41/42 hoặc dị hợp tử CD 17) hoặc CD 26 
(7,8%). Đột biến (--SEA) trên gen α globulin chiếm tỉ lệ 100% thai bị đột biến 
α – thalassemia. Trong đó, 47% mang kiểu gen của bệnh α – thalassemia 
ở dạng đồng hợp tử. Chẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật lai phân tử ngược 
giúp đưa ra các quyết định về thai nhi cũng như tư vấn di truyền trước hôn 
nhân đối với các trường hợp phát hiện dị hợp tử bệnh thalasemia.
Từ khóa: thalassemia, kỹ thuật lai phân tử ngược, đột biến gen globin, 
chẩn đoán trước sinh.
Abstract 
 PRENATAL DIAGNOSIS OF THALASSEMIA BY 
REVERSE HYBRIDIZATION 
The alpha and beta thalassemia are the most common inherited 
single-gene disorders in Vietnam.
Objective: to detect the gene mutations that cause thalassemia in 
amniotic cells by Reverse hybridization techniques. 
Method: For 88 pregnancies of high-risk couples with Thalassemia. 
The fetuses were prenatal diagnosed the mutation alleles by Reverse 
hybridization in Prenatal Diagnosis Center at National Hospital of 
Obstetrics and Gynecology in 2017. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 42 - 46, 2018
43
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
1. Đặt vấn đề
Bệnh Thalassemia là bệnh di truyền gen lặn 
trên nhiễm sắc thể thường, nguyên nhân là do đột 
biến gen gây giảm hoặc không tổng hợp protein 
globin tham gia cấu tạo Hb, dẫn đến thiếu hụt 
Hb trong hồng cầu [1]. Tại Việt Nam (2015), có 
khoảng hơn 10 triệu người mang gen bệnh hoặc 
bị bệnh Thalassemia, khoảng hơn 20000 bệnh 
nhân cần điều trị và mỗi năm có khoảng 2000 
trẻ sinh ra bị bệnh [2]. Bệnh Hb Bart’s (thể nặng 
nhất của bệnh α– thalassemia) thường gây phù rau 
thai, thai chết lưu trong tử cung hoặc chết sớm sau 
sinh. Bệnh nhân β – thalassemia thể nặng có đồng 
hợp tử hoặc dị hợp tử kép 2 đột biến khác nhau, 
thường có biểu hiện thiếu máu nặng dần sau 3 - 6 
tháng tuổi. Phương pháp điều trị chủ yếu đối với 
bệnh Thalassemia vẫn là truyền máu, thải sắt, cắt 
lách và điều trị các biến chứng [1],[3]. Mặc dù hậu 
quả bệnh là rất nặng nề nhưng hiện nay trên thế 
giới, các nhà khoa học vẫn chưa tìm được phương 
pháp điều trị khỏi cho người mắc bệnh này. Do đó, 
xét nghiệm, tư vấn di truyền và chẩn đoán trước 
khi sinh đóng vai trò quan trọng trong việc đưa 
ra quyết định cá nhân cũng như chuyên môn về 
phòng ngừa, điều trị bệnh.
Ở Việt Nam, sàng lọc chẩn đoán bệnh 
Thalassemia trước sinh thường sử dụng các phương 
pháp multiplex PCR, ARMS-PCR và giải trình tự vùng 
gen globin. Tuy nhiên, các phương pháp này chỉ có 
thể phát hiện thấy các đột biến đơn lẻ. Kỹ thuật lai 
Results: There were 64/88 fetuses having mutation (72,7%). Among those, 51 cases had α – 
thalassemia mutations (79,7%), 8 fetuses were β – thalassemia mutations (12,5%) and 5 fetuses 
inherited both α (--SEA) and β – thalassemia or α- and CD 26 (7,8%). The (--SEA) alleles were found 
on 51 out of 51 fetuses having α – thalassemia mutations, 24/51(47%) of these were homozygous 
genotype. Prenatal diagnosis by Reverse Hybridization could be able to help the couple in making 
the decisions for the fetus. Prenatal diagnosis of thalassemia is useful for genetic counseling. 
Keywords: thalassemia, reverse hybridization, prenatal diagnosis.
phân tử ngược trên màng lai (Reverse hybridization) 
được cải tiến trên cơ sở của kỹ thuật lai phân tử có 
thể phát hiện cùng lúc được nhiều đột biến khác 
nhau trên cùng một gen. Tại Việt Nam, kỹ thuật 
này mới được áp dụng, chưa được sử dụng rộng 
rãi, vì thế chúng tôi tiến hành nghiên cứu:“Sàng lọc 
trước sinh bệnh Thalassemia bằng kỹ thuật lai phân 
tử ngược” nhằm phát hiện các dạng đột biến gen 
gây bệnh Thalassemia ở tế bào ối bằng kỹ thuật lai 
phân tử ngược giúp chẩn đoán trước sinh và tư vấn 
hướng di truyền cho bệnh thalassemia
2. Đối tượng và phương pháp 
2.1. Đối tượng
88 trường hợp thai nhi của các cặp vợ chồng 
có nguy cơ cao sinh con mắc Thalassemia (đã được 
chẩn đoán có mang gen đột biến α-/β- hoặc có tiền 
sử sinh con/mang thai được chẩn đoán mắc bệnh 
Thalassemia) được chọc hút ối và chẩn đoán trước 
sinh bệnh thalassemia tại Trung tâm Chẩn đoán trước 
sinh, Bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Thời gian nghiên 
cứu: từ ngày 1/1/2017 đến ngày 31/12/2017.
2.2. Phương pháp
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế ghiên cứu mô tả cắt ngang.
Quy trình kỹ thuật trong nghiên cứu 
Nghiên cứu sử dụng bộ Kit: Thalassemia Gene 
Diagnostic Kit (Code: HBGA-THAL a5-b16) xuất xứ 
Hồng Kông và có chứng chỉ CE/IVD. Quá trình 
thực hiện trải qua 4 bước sau:
HOÀNG THỊ NGỌC LAN, NGUYỄN THỊ VÂN ANH, LÊ PHƯƠNG THẢO, NGÔ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐOÀN THỊ HUYỀN
44
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
Bước 1: Tách chiết ADN 
+ ADN được tách chiết từ mẫu dịch ối bằng 
phương pháp tách cột của bộ Kit QIAGEN (Đức)
+ Kiểm tra nồng độ và độ tinh sạch của ADN 
được tách chiết bằng phương pháp đo quang trên 
máy NanoDrop: Nồng độ ADN 300-380ng/
ml, đánh giá độ tinh sạch bằng tỉ lệ A(260nm)/
A(280nm) ≥ 1,8.
Bước 2: Thực hiện phản ứng PCR
Rã đông α và β Thalassemia PCR mix ở nhiệt độ 
phòng. Ly tâm α và β Thalassemia DNA Taq Polymer 
và α và β Thalassemia PCR mix tại 8000rpm/phút 
trong 1 phút. Sau đó cho vào trong 1 ống tube 
PCR. Quay nhẹ. Chia hỗn hợp vào các ống PCR. 
Bổ sung 6 µl DNA vào các ống α-Thalassemia và 3 
µl DNA mẫu vào các ống β-Thalassemia, lắc nhẹ. 
Đậy nắp, ly tâm nhẹ (mẫu lắng xuống đáy ống) và 
chạy chương trình PCR.
Bước 3: Tiến hành lai sản phẩm PCR trên màng 
lai HybriMem (MEM-THAL) 
+ Biến tính sản phẩm α và β- Thalassemia 
PCR tại 950C trong 5 phút. Làm ấm dung dịch 
Hybridization Solution và WB1 tại 450C trên bể 
ổn nhiệt. Bổ sung 800µl dung dịch Hybridization 
Solution đã làm ấm ở 420C, ủ trong 3 phút. Sau đó 
bổ sung lên tất cả sản phẩm PCR trên màng lai, ủ 
30 phút. Sau đó rửa màng với dung dịch WB1 3 
lần. Đưa nhiệt độ máy về 250C.
+ Bổ sung 500µl dung dịch Blocking Solution 
tại 300C ủ 5 phút. Sau đó bổ sung 500µl Enzyme 
Conjugate tại 250C, ủ 5 phút. Rửa màng với 
800µl dung dịch Solution A. Đưa nhiệt độ máy 
lên 360C.
+ Bổ sung 500µl dung dịch NBT/BCIP (từ giếng 
cuối đến giếng đầu), ủ 5 phút, đóng nắp. Rửa 
màng với 800µl dung dịch Hybridization Solution, 
sau đó rửa với 2ml DI water. 
Bước 4: Phân tích kết quả 
+ Quan sát kết quả trên màng lai HybriMem( 
MEM-THAL) xác định các loại đột biến sau: đột 
biến α: 3 đột biến mất đoạn: --SEA,-α3.7 và 
-α4.2, 2 đột biến điểm: CS, QS; 16 đột biến 
β: -28(A-G), -29(A-G), Cap(-AAAC), Int(T-G), 
CD14/15(+G), CD17(A-T), CD27/28(+C), 
βE(G-A), 1(-C), CD41/42(-TTCT), CD43(G-T), 
CD71/72(+A), IVS-I-1(G-T), IVS-I-1(G-A), IVS-I-
5(G-C), IVS-I-654(C-T).
3. Kết quả
3.1. Tỉ lệ phát hiện đột biến gen gây 
bệnh Thalassemia bằng phương pháp 
Reverse hybridization
Từ bảng 1 cho thấy, trong tổng số 88 mẫu 
dịch ối được tiến hành lai phân tử ngược, phát 
hiện 64 mẫu có mang đột biến (một hoặc nhiều 
đột biến) chiếm tỉ lệ 72,7 % và có 27,3% trường 
hợp không phát hiện có đột biến.
Trong 64 mẫu mang đột biến, có 51 mẫu là đột 
biến α- Thalassemia (79,7%), 8 trường hợp là đột 
biến β- Thalassemia (12,5%) và kiểu hỗn hợp α và 
β- Thalassemia là 5 trường hợp (7,8%).
3.2. Kiểu gen của các mẫu được chẩn 
đoán mang đột biến α – thalassemia
Tất cả 54 mẫu cho kết quả đột biến α- 
Thalassemia đều thuộc kiểu đột biến mất đoạn 
lớn dạng Đông Nam Á -- SEA (100%). Trong 
đó, có 24/51 (47%) mang kiểu gen SEA ở 
dạng đồng hợp tử và 27/51(53%) SEA dị hợp 
tử (--SEA). 
3.3. Kiểu gen của các mẫu được chẩn 
đoán mang đột biến β – thalassemia 
Trong 8 mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán thể 
β – thalassemia, có 7/8 mẫu ối mang kiểu gen 
dị hợp tử (87,5%). Có 1 mẫu mang đột biến ở 
dạng dị hợp tử kép, chiếm 12,5% (mắc bệnh β – 
thalassemia).
3.4. Kiểu gen của các mẫu mang đột 
biến hỗn hợp
Trong 5 mẫu thì cả 5 mẫu đều có đột biến dị 
hợp SEA, kết hợp với 1 đột biến của β (dị hợp tử 
CD41/42 hoặc dị hợp tử CD 17) hoặc kết hợp với 
dị hợp tử CD 26 (HbE).
Kết quả sàng lọc Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Không phát hiện đột biến 24 27,3
Phát hiện có đột biến 64 72,7
Tổng số 88 100
Bảng 1. Tỉ lệ phát hiện đột biến
Hình 1. Tỉ lệ phát hiện đột biến α và β- Thalassemia
7	
Bảng 1. Tỉ lệ phát hiện đột biến 
Kết quả sàng lọc Tần số (n) Tỉ lệ (%) 
Không phát hiện đột biến 24 27,3 
Phát hiện có đột biến 64 72,7 
Tổng số 88 100 
Từ bảng 1 cho thấy, trong tổng số 88 mẫu dịch ối được tiến hành lai phân tử ngược, phát 
hiện 64 mẫu có mang đột biến (một hoặc nhiều đột biến) chiếm tỉ lệ 72,7 % và có 27,3% 
trường hợp không phát hiện có đột biến. 
Hình 1. Tỉ lệ phát hiện đột biến α và β- Thalassemia 
Trong 64 mẫu mang đột biến, có 51 mẫu là đột biến α- Thalassemia (79,7%), 8 trường 
hợp là đột biến β- Thalassemia (12,5%) và kiểu hỗn hợp α và β- Thalassemia là 5 
trường hợp (7,8%). 
3.2. Kiểu gen của các mẫu được chẩn đoán mang đột biến α – thalassemia 
Tất cả 54 mẫu cho kết quả đột biến α- Thalassemia đều thuộc kiểu đột biến mất đoạn lớn 
dạng Đông Nam Á -- SEA (100%). Trong đó, có 24/51 (47%) mang kiểu gen SEA ở 
dạng đồng hợp tử và 27/51(53%) SEA dị hợp tử (--SEA). 
3.3. Kiểu gen của các mẫu được chẩn đoán mang đột biến β – thalassemia 
Trong 8 mẫu bệnh phẩm được chẩn đoán thể β – thalassemia, có 7/8 mẫu ối mang kiểu 
gen dị hợp tử (87,5%). Có 1 mẫu mang đột biến ở dạng dị hợp tử kép, chiếm 12,5% (mắc 
bệnh β – thalassemia). 
3.4. Kiểu gen của các mẫu mang đột biến hỗn hợp 
Trong 5 mẫu thì cả 5 mẫu đều có đột biến dị hợp SEA, kết hợp với 1 đột biến của β (dị 
hợp tử CD41/42 hoặc dị hợp tử CD 17) hoặc kết hợp với dị hợp tử CD 26 (HbE). 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 42 - 46, 2018
45
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
4. Bàn luận
Bệnh Thalassemia là bệnh di truyền gen lặn trên 
nhiễm sắc thể thường, bệnh di truyền qua nhiều thế 
hệ nên việc xác định chính xác kiểu đột biến và kiểu 
gen cho thai nhi là bước đầu tiên rất quan trọng 
và là cơ sở khoa học phát hiện người lành mang 
gen bệnh ngay khi còn là thai nhi. Kết quả nghiên 
cứu cho thấy trong 88 mẫu dịch ối được thực hiện 
xét nghiệm có tới 64 trường hợp phát hiện có đột 
biến gen liên quan đến Thalassemia, chiếm 72,7% 
(Bảng 1). Tỉ lệ này tương đồng các với nghiên cứu 
của Ngô Diễm Ngọc (2015) và Đặng Thị Hồng Vân 
(2016) với tỉ lệ phát hiện đột biến gen trên mẫu ối 
các thai phụ được chỉ định xét nghiệm lần lượt là 
73,6% và 75,7% [4],[5]. Tỉ lệ phát hiện đột biến 
của các nghiên cứu đạt mức cao, do các nghiên cứu 
đều được thực hiện trên các trường hợp thai có nguy 
cơ cao mắc bệnh Thalassemia truyền từ bố mẹ, cụ 
thể trong nghiên cứu này là: thai phụ hoặc chồng 
đã được chẩn đoán có mang gen đột biến α-/β-
; có tiền sử sinh con/mang thai được chẩn đoán 
Thalassemia; thai phụ có tiền sử mang thai bị phù 
thai nhiều lần; theo dõi mang gen Thalassemia qua 
sàng lọc bằng xét nghiệm công thức máu, điện di 
huyết sắc tố. Với tỉ lệ phát hiện đột biến trong nhóm 
có nguy cơ là tương đối lớn như vậy, việc sàng lọc 
cho tất cả các thai phụ là cần thiết. Vì đây là cơ sở 
để tiến hành chẩn đoán cho thai nhi.
Trong nhóm phát hiện đột biến, chúng tôi thấy tỉ 
lệ của các loại đột biến bao gồm: α – thalassemia, 
β – thalassemia và hỗn hợp cả hai thể lần lượt là 
79,7%, 12,5% và 7,8% (Hình 1). Sự chênh lệch tỉ lệ 
giữa loại đột biến α – thalassemia và loại đột biến 
β – thalassemia trong nghiên cứu của chúng tôi cao 
hơn so với các kết quả trong nghiên cứu của Nguyễn 
Khắc Hân Hoan (2011) và Đặng Thị Hồng Vân 
(2016). Điều này có thể được giải thích là do đa số 
những cặp vợ chồng tham gia thực hiện xét nghiệm 
được chẩn đoán mang gen đột biến của bệnh α – 
thalassemia, phù hợp với mô hình dịch tễ khu vực 
Đông Nam Á có tỉ lệ mắc α – thalassemia khá cao 
[5],[6]. Mặt khác, đột biến gen β – thalassemia 
có tỉ lệ cao là kiểu hình người lành mang bệnh và 
không có dấu hiệu bất thường trên siêu âm nên có 
thể bị bỏ sót trong việc gợi ý và tư vấn đến thực 
hiện chọc ối xét nghiệm. Ngược lại, đột biến gen 
α – thalassemia thường có tỉ lệ người mang gen có 
triệu chứng hoặc tiền sử phù thai/ sảy thai cao hơn, 
cơ hội được tham gia vào chương trình chẩn đoán 
của các đối tượng cũng lớn hơn. Kết quả phát hiện 
đột biến α – thalassemia của nghiên cứu cũng tương 
đồng với nghiên cứu Karnpean R và cộng sự tại Thái 
Lan năm 2009 [7]. Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ của 
nhóm mang đồng thời 2 đột biến là 5/64 (7,8%). 
Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn 
Khắc Hân Hoan (2011) thực hiện trên 290 thai nhi 
với tỉ lệ 6,9% mang đồng thời 2 loại đột biến. Các 
trường hợp này xảy ra là do người cha và/hoặc mẹ 
là người mang cả hai đột biến và di truyền cho con, 
các đối tượng cha mẹ này thường chiếm tỉ lệ ít, tuy 
nhiên chủ yếu gen đột biến của những người này 
thường mang thể nhẹ của hai bệnh.
Cụ thể hơn, trong nhóm mang đột biến α – 
thalassemia, kết quả 100% các mẫu dịch ối được 
chẩn đoán bệnh α – thalassemia đều mang đột 
biến dạng (--SEA), bao gồm cả đồng hợp và dị hợp. 
Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Diễm 
Ngọc và cộng sự (2015) là 84,2% [4]. Điều này có 
thể lý giải do nghiên cứu của Ngô Diễm Ngọc được 
tiến hành trên cỡ mẫu lớn hơn, do đó xác suất gặp 
được các loại allen đột biến khác cao hơn. Và trong 
nghiên cứu của chúng tôi, những thai phụ và/hoặc 
chồng được chẩn đoán mang gen α- thalassemia, 
hầu hết mang đoạn gen đột biến dạng (--SEA). Tuy 
nhiên, 2 nghiên cứu đều chỉ ra rằng tỷ lệ đột biến 
dạng (--SEA) là rất cao. Giải thích dựa trên các 
nghiên cứu trước đây đã thống kê được rằng có đến 
60 triệu người trên thê giới mang kiểu gen đồng 
hợp của (--SEA) tập trung chủ yếu tại khu vực Đông 
Nam Á, và cũng tại đây 90% kiểu gen thường gặp 
là có chứa đoạn gen (--SEA) [1],[5],[8]. Nghiên cứu 
cũng phát hiện trong 54 mẫu cho kết quả đột biến 
α- Thalassemia có gần một nửa là kiểu gen của 
bệnh α – thalassemia ở thể đồng hợp tử (--SEA/--SEA) 
(47%). Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của 
Ko T.M và cộng sự với tỷ lệ 39% thể đồng hợp tử 
thực hiện tại Đài Loan (1992). Sự khác biệt này có 
thể giải thích do sự khác nhau giữa đặc điểm dịch 
tễ của nhóm đối tượng trong nghiên cứu và phương 
pháp chẩn đoán ở hai nghiên cứu [8]. Đột biến 3 
gen (HbH) dẫn đến trẻ có biểu hiện thiếu máu ở 
mức độ từ trung bình đến nặng và trường hợp đột 
biến 4 gen (Hb Bart’s) gây thai lưu hoặc trẻ tử vong 
HOÀNG THỊ NGỌC LAN, NGUYỄN THỊ VÂN ANH, LÊ PHƯƠNG THẢO, NGÔ THỊ TUYẾT NHUNG, ĐOÀN THỊ HUYỀN
46
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
TỔ
N
G
 Q
U
A
N
ngay sau sinh. Sản phụ cũng có thể bị cao huyết áp 
và có nhiều nguy cơ mắc các tai biến sản khoa khi 
sinh. Với tỉ lệ phát hiện thể bệnh nặng và trung bình 
cao, điều này càng củng cố ý nghĩa của phương 
pháp trong chẩn đoán trước sinh, giúp đưa ra lời 
khuyên di truyền sớm nhất cho bệnh nhân, đặc biệt 
trong những trường hợp thai lớn, khi mà ở Việt Nam 
chỉ được phép đình chỉ thai nghén ở tuổi thai muộn 
nhất là 28 tuần.
Có 87,5% mẫu dịch ối được chẩn đoán mang 
đột biến bệnh β – thalassemia ở dạng dị hợp tử (thể 
nhẹ), trong khi đó chỉ có 12,5% mang đột biến dị 
hợp tử kép (thể nặng). Lý do bởi gen đột biến của 
bệnh được di truyền theo quy luật của alen lặn trên 
NST thường, theo đúng lý thuyết, tỉ lệ những trường 
hợp kiểu gen dị hợp tử thường chiếm tỉ lệ cao [1]. 
Kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với những 
kết quả của các nghiên cứu cùng lĩnh vực như của 
Nguyễn Khắc Hân Hoan (2011) và Đặng Thị Hồng 
Vân (2016) [5],[6]. Tuy nhiên, trong thực tế, những 
cặp vợ chồng là người mang gen dị hợp tử lại 
thường là những người không có triệu chứng biểu 
hiện lâm sàng, việc họ phát hiện ra gen bệnh phần 
lớn do có con mắc bệnh hoặc tình cờ đến khám, 
được thực hiện xét nghiệm và phát hiện đột biến. 
Do đó, cần tiến hành sàng lọc bệnh thalassemia 
cho các thai phụ, lấy đó làm cơ sở cho chỉ định 
chẩn đoán tìm đột biến ở bố và mẹ, cuối cùng là 
phát hiện đột biến ở thai, từ đó đưa ra tư vấn hợp 
lý cho thai phụ và gia đình để họ có những hướng 
sử lý phù hợp nhất.
Với những trường hợp thai mang 2 loại đột biến 
dị hợp trên cả α (--SEA) và β thalassemia hoặc α (--
SEA) kết hợp CD 26 thì những trường hợp này thai 
được tư vấn vẫn tiếp tục thai kỳ (thường không có 
biểu hiện của bệnh tan máu) nhưng các trường hợp 
này khi xây dựng gia đình không nên lấy những 
người mang gen trên α hoặc β thalassemia để có 
thể cho những đứa con bị bệnh thalassemia.
5. Kết luận
Áp dụng kỹ thuật lai phân tử ngược trong chẩn 
đoán trước sinh bệnh thalassemia ở 88 trường hợp 
thai nhi có nguy cơ cao mắc bệnh, nhận thấy tỉ lệ 
phát hiện đột biến gen liên quan đến bệnh đạt mức 
cao là 72,7%, trong đó có 79,7% là đột biến α – 
thalassemia, 12,5% là β – thalassemia và 7,8% ở thể 
hỗn hợp hai thể. Đột biến - -SEA trên gen α globulin 
chiếm tỉ lệ 100% thai bị đột biến α – thalassemia. 
Đa số thể bệnh β – thalassemia có kiểu hình gen dị 
hợp tử - người lành mang gen bệnh (87,5%). Sàng 
lọc trước sinh bệnh thalassemia có ý nghĩa to lớn 
trong việc phát hiện những trường hợp thai mang 
gen bệnh nhưng trong tương lai sẽ không có biểu 
hiện lâm sàng, để từ đó người bác sĩ di truyền có thể 
đưa ra lời khuyên tiền hôn nhân sớm cho tương lai 
đứa trẻ và cả những thế hệ sau này.
Tài liệu tham khảo
1. Cappellini M.-D., Cohen A., Eleftheriou A. và cộng sự. Genetic Basis 
and Pathophysiology, Thalassaemia International Federation; 2008.
2. Nguyễn Anh Trí. Thalassemia tại Việt Nam, hiện tại và tương lai, 
Hội nghị khoa học về Thalassemia toàn quốc và khu vực Châu Á - Thái 
Bình Dương. 2015.
3. Old J., Harteveld C.L., Traeger-Synodinos J. và cộng sự. Prevention of 
Thalassaemias and Other Haemoglobin Disorders: Volume 2: Laboratory 
Protocols. Thalassaemia International Federation, Nicosia, Cyprus; 2012.
4. Ngô Diễm Ngọc, Lý Thị Thanh Hà, Ngô Thị Tuyết Nhung và cộng 
sự. Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh bệnh Alpha và Beta Thalassemia 
trên các thai phụ nguy cơ cao tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Tạp Chí Y 
Học Việt Nam; 2015. 434, 83–92.
5. Đặng Thị Vân Hồng, Lê Xuân Hải, và Dương Quốc Chính. Nghiên 
cứu chẩn đoán trước sinh bệnh THLASSEMIA và mức độ phù hợp HLA 
của thai nhi với anh/chị ruột bị bệnh. Đại học Y Hà Nội; 2016.
6. Nguyễn Khắc Hân Hoan, Phạm Việt Thanh, Trương Đình Kiệt và 
cộng sự. Chẩn đoán trước sinh bệnh Thalassemia trên 290 trường hợp 
thai. Tạp Chí Nghiên Cứu Y Học; 2011. 74(3), 1–7.
7. Karnpean R., Fucharoen G., Fucharoen S. và cộng sự. Accurate 
prenatal diagnosis of Hb Bart’s hydrops fetalis in daily practice with a 
double-check PCR system. Acta Haematol; 2009. 121(4), 227–233.
8. Ko T.M., Tseng L.H., Hsieh F.J. và cộng sự. Carrier detection and 
prenatal diagnosis of alpha-thalassemia of Southeast Asian deletion by 
polymerase chain reaction. Hum Genet; 1992. 88(3), 245–248.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_truoc_sinh_benh_thalassemia_bang_ky_thuat_lai_phan.pdf