Chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne

Xuất hiện với tần suất 1/3500 trẻ trai, loạn dưỡng cơ Duchenne

(DMD) là bệnh lý di truyền thần kinh cơ hay gặp nhất trong nhóm bệnh

lý loạn dưỡng cơ. Đây là bệnh lý di truyền liên kết nhiễm sắc thể giới tính

X, do đột biến gen dystrophin.Hiện bệnh DMD chưa có phương pháp

điều trị đặc hiệu, do đó chẩn đoán trước sinh các trường hợp thai phụ là

người mang gen bệnh sẽ giúp phát hiện các trường hợp thai mắc DMD,

giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng.

Mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh DMD bằng các

kỹ thuật di truyền phân tử.

Đối tượng nghiên cứu: 10thai phụ mang thai từ 17 –22 tuần có nguy cơ

cao sinh con mắc DMD.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt bệnh. Sử dụng các

kỹ thuật MLPA, PCR, giải trình tự gen và Microsatellite-DNA chẩn đoán

trước sinh bệnh DMD.

Kết quả: 1/10 thai nhi được chẩn đoán là thai nhi bệnh lý, thai phụ đã

được tư vấn và quyết định đình chỉ thai nghén. 9/10 thai nhi được chẩn

đoán là bình thường, tiếp tục theo dõi thai kỳ.

Kết luận: Ứng dụng thành công các kỹ thuật di truyền phân tử

trongchẩn đoán trước sinh bệnh DMD.

pdf 6 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne

Chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
31
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 31 - 36, 2018
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Đinh Thuý Linh(1), Trần Vân Khánh(1), Trần Huy Thịnh(2), Nguyễn Đức Hinh(2) 
(1) Đại học Y Hà Nội, (2) Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội
CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
BỆNH LOẠN DƯỠNG CƠ DUCHENNE
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đinh Thuý Linh, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 02/04/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
02/04/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 27/04/2018
Từ khóa: loạn dưỡng cơ 
Duchenne, chẩn đoán trước 
sinh, Microsatellite DNA.
Keywords: Duchenne muscular 
dystrophy, prenatal diagnosis, 
Microsatellite DNA.
Tóm tắt
Xuất hiện với tần suất 1/3500 trẻ trai, loạn dưỡng cơ Duchenne 
(DMD) là bệnh lý di truyền thần kinh cơ hay gặp nhất trong nhóm bệnh 
lý loạn dưỡng cơ. Đây là bệnh lý di truyền liên kết nhiễm sắc thể giới tính 
X, do đột biến gen dystrophin.Hiện bệnh DMD chưa có phương pháp 
điều trị đặc hiệu, do đó chẩn đoán trước sinh các trường hợp thai phụ là 
người mang gen bệnh sẽ giúp phát hiện các trường hợp thai mắc DMD, 
giảm tỷ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. 
Mục tiêu: Mô tả kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh DMD bằng các 
kỹ thuật di truyền phân tử.
Đối tượng nghiên cứu: 10thai phụ mang thai từ 17 –22 tuần có nguy cơ 
cao sinh con mắc DMD. 
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt bệnh. Sử dụng các 
kỹ thuật MLPA, PCR, giải trình tự gen và Microsatellite-DNA chẩn đoán 
trước sinh bệnh DMD. 
Kết quả: 1/10 thai nhi được chẩn đoán là thai nhi bệnh lý, thai phụ đã 
được tư vấn và quyết định đình chỉ thai nghén. 9/10 thai nhi được chẩn 
đoán là bình thường, tiếp tục theo dõi thai kỳ. 
Kết luận: Ứng dụng thành công các kỹ thuật di truyền phân tử 
trongchẩn đoán trước sinh bệnh DMD.
Từ khoá: loạn dưỡng cơ Duchenne, chẩn đoán trước sinh, 
Microsatellite DNA.
Abstract 
 PRENATAL DIAGNOSIS OF DUCHENNE 
MUSCULAR DYSTROPHY 
With the rate of 1/3500, Duchenne Muscular Dystrophy (DMD) is the most 
common genetical neuromuscular dissease among muscular dystrophy 
diseases male children. DMD is resulted from the mutation of dystrophin 
gene on X chromosome. Prenatal diagnosis on pregnant women carrying 
the gene will provide the chance to diagnose DMD case among fetus. 
ĐINH THUÝ LINH, TRẦN VÂN KHÁNH, TRẦN HUY THỊNH, NGUYỄN ĐỨC HINH
32
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
1. Đặt vấn đề
Trong các bệnh lý di truyền thần kinh cơ hiện 
nay, loạn dưỡng cơ Duchenne (DMD) là bệnh lý 
hay gặp nhất với tần suất 1/3500 trẻ trai [1]. 
Bệnh được mô tả lần đầu tiên vào giữa thế kỷ XIX 
nhưng đến cuối thế kỷ XX, nguyên nhân của bệnh 
mới được xác định là do đột biến gen dystrophin 
trên nhiễm sắc thể giới tính X. Đây là bệnh lý di 
truyền gen lặn, kiên kết với NST giới tính X tuy 
nhiên có 30% các trường hợp là đột biến mới phát 
sinh [1],[2]. Trong trường hợp người mẹ mang gen 
bệnh, mặc dù không có biểu hiện lâm sàng nhưng 
lại có khả năng truyền gen bệnh cho con và gây 
biểu hiện bệnh ở con trai với tỉ lệ 50% [2],[3]. 
Đột biến gen dystrophin gây ra sự thiếu hụt 
tổng hợp protein tương ứng, dẫn đến biểu hiện lâm 
sàng ở người bệnh: yếu cơ tiến triển từ gần đến xa, 
phì đại bắp chân, tăng sinh các tổ chức trong cơ và 
chậm phát triển trí tuệ. Triệu chứng yếu cơ bắt đầu 
biểu hiện khi trẻ ở tuổi tập đi. Bệnh nhân mất khả 
năng đi lại và phụ thuộc xe lăn ở lứa tuổi 11-12 và 
thường tử vong ở lứa tuổi 20 do suy hô hấp và các 
biến chứng tim mạch [1],[3].
Hiện nay vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc 
hiệu bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne, vì vậy sàng 
lọc người mang gen bệnh và chẩn đoán trước sinh 
vẫn đóng một vai trò quan trọng giúp giảm tỷ lệ 
mắc bệnh. Có rất nhiều kỹ thuật sinh học phân 
tử được áp dụng để phát hiện các đột biến gen 
dystrophin với những ưu, nhược điểm riêng và phù 
Objective: Describe results of DMD prenatal diagnosis by using molecular biology techniques. 
Subject: 10pregnant women during 17 – 22 weeks of gestation, whom fetus is high risk of DMD. 
Method: Serial cases report. Implementing sequencing, MLPA, Microsatellite-DNA technique in 
DMD prenatal diagnosis. 
Result:1/10fetus was diagnosed with the disease, the mother decided to determine pregnancy. 
9/10 fetus were diagnosed to be normal and continued with. 
Conclusion: Successful in using molecular biology techniques in DMD prenatal diagnosis.
Keywords: Duchenne muscular dystrophy, prenatal diagnosis, Microsatellite DNA.
hợp với đặc điểm đột biến của từng bệnh nhân. Kỹ 
thuật MLPA với khả năng khảo sát toàn bộ 79 exon 
của gen dystrophin đã phát hiện được cả đột biến 
xóa đoạn và lặp đoạn, chiếm khoảng 60-65% đột 
biến [4],[5]. 35-40% các trường hợp là đột biến 
điểm cần phải sử dụng kỹ thuật giải trình tự gen để 
xác định, mặc dù kỹ thuật này thường cần nhiều 
thời gian với giá thành cao [6],[7]. Trong chẩn 
đoán trước sinh thường thực hiện các kỹ thuật phát 
hiện đột biến trực tiếp trên gen dystrophin dựa vào 
đột biến chỉ điểm của bệnh nhân như giải trình tự 
gen, MLPA, PCR [6],[8]. Tuy nhiên một số trường 
hợp không xác định được đột biến gen dystrophin 
trên bệnh nhân và thai phụ là người mang gen do 
cấu trúc gen lớn thì kỹ thuật phân tích gián tiếp 
Microsatellite DNA có thể xác định được allele đột 
biến mà không cần có đột biến chỉ điểm. Hơn nữa, 
kỹ thuật Microsatellite DNA cũng đáp ứng được 
yêu cầu của chẩn đoán trước sinh với thời gian trả 
lời kết quả nhanh sau 48 – 72h và giá thành xét 
nghiệm thấp hơn các kỹ thuật khác, giảm gánh 
nặng kinh tế cho bệnh nhân [6],[9],[10].
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả kết quả chẩn đoán 
trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne bằng các 
kỹ thuật di truyền phân tử.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
10 thai phụ mang thai từ 17 tuần – 22 tuần đã 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 31 - 36, 2018
33
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
được xác định là người mang gen bệnh loạn dưỡng 
cơ Duchenne hoặc có tiền sử sinh con mắc bệnh 
loạn dưỡng cơ Duchenne.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả loạt ca bệnh.
2.2.1. Chọc hút nước ối
Kỹ thuật chọc hút nước ối được thực hiện ở tuổi thai 
17-22 tuần dưới hướng dẫn của siêu âm, tại Bệnh viện 
Phụ Sản Trung ương và Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội.
Lượng dịch ối được lấy ra ở mỗi thai phụ là 
15ml: 05 ml sử dụng để thực hiện chẩn đoán trước 
sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne, 10 ml được sử 
dụng để xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ của thai nhi.
2.2.2. Kỹ thuật di truyền phân tử chẩn đoán 
trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne từ dịch ối
2.2.2.1. Kỹ thuật Microsatellite DNA
Kỹ thuật microsatellite DNA sử dụng các cặp 
mồi có gắn huỳnh quang để khuếch đại các STR 
này và phân tích kích thước của chúng thông qua 
điện di mao quản trên máy máy giải trình tự gen. 
Đối với gia đình loạn dưỡng cơ Duchenne cần 
khuếch đại 20 vùng STR đặc hiệu để xác định ít 
nhất 2-3 marker dị hợp tử trên mẫu mẹ. Sử dụng 
các cặp mồi đã xác định marker dị hợp tử từ đó 
xác định kiểu gen và kiểu hình thai nhi.
Sản phẩm khuếch đại PCR được điện di trên 
hệ thống sequencing - Beckman coulter. Kết quả 
được phân tích bằng phần mềm GeneMapper 
v3.2 software.
2.2.2.2. Kỹ thuật MLPA
Kỹ thuật MLPA sử dụng 79 đoạn dò gen 
dystrophin. Mỗi DNA lai (probe) gồm hai chuỗi 
oligonucleotid lai đặc hiệu với 79 exon. Kết quả 
điện di cho 79 đỉnh có kích thước tương ứng 79 
probe đặc hiệu với 79 exon:
- Với đột biến xoá đoạn, exon bị xoá đoạn khi 
đỉnh exon không phát hiện được.
- Với đột biến lặp đoạn, kết quả được tính toán 
dựa vào tỉ lệ RPA (Relative Peak Area) tương ứng với 
từng exon so với mẫu chứng của người bình thường, 
exon lặp đoạn khi mà tỉ lệ RPA lớn hơn 1,5.
2.2.2.3. Kỹ thuật Multiplex PCR
PCR cho phép tổng hợp một số lượng lớn các 
gen trong thời gian ngắn. Phản ứng PCR bao gồm 
ba bước được lặp đi lặp lại nhiều lần. Kỹ thuật 
multiplex PCR sử dụng nhiều cặp mồi phát hiện các 
đột biến mất đoạn gen dystrophin ở 25 exon tập 
trung tại hai vùng “hot spot” hay xảy ra đột biến.
Các exon bị mất đoạn được thể hiện bằng sự 
vắng mặt của các band tương ứng trên gel agarose. 
2.2.2.4. Kỹ thuật giải trình tự gen
Máy giải trình tự gen tự động sử dụng 4 màu 
huỳnh quang khác nhau để đánh dấu 4 loại ddNTP, 
sử dụng hệ thống điện di mao quản. Mỗi khi có 
một vạch điện di đi qua, phân tử ddNTP cuối cùng 
ở đầu 3’ của đoạn DNA sẽ phát ra màu huỳnh 
quang tương ứng, máy sẽ ghi nhận màu sắc và 
chuyển về máy tính phân tích. Dựa vào màu huỳnh 
quang, máy sẽ nhận diện được các nucleotid, từ 
đó biết được trình tự của DNA đích, xác định chính 
xác các đột biến gen.
2.2.3. Kỹ thuật nuôi cấy tế bào ối xác định 
nhiễm sắc thể đồ thai nhi
Nuôi cấy theo phương pháp hở tủ ấm 37°C với 
5% CO2 và 95% không khí cùng nguồn ẩm. Thời 
gian trung bình nuôi cấy là từ 7-15 ngày. Các tế 
bào ối thai nhi thu được với số lượng tương đối sau 
khi nuôi cấy được tách DNA theo phương pháp 
phenol-chloroform và phân tích gen. Tế bào ối 
cũng được sử dụng để nhuộm băng G và phân tích 
karyotype của thai.
2.3. Đạo đức trong nghiên cứu
Gia đình và bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện 
tham gia nghiên cứu, được tư vấn và giải thích cụ 
thể về mục đích, qui trình nghiên cứu, quyền được 
tự do rút khỏi nghiên cứu, được đảm bảo bí mật 
cá nhân cũng như kết quả nghiên cứu. Các thông 
tin về bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và kết quả 
chẩn đoán hoàn toàn được giữ bí mật, đặc biệt đối 
với thông tin về giới tính của thai nhi.
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh 
loạn dưỡng cơ Duchenne cho thai nhi
Trong 10 thai phụ được chẩn đoán trước 
sinh, có 9 thai phụ được xác định có mang gen 
Dạng đột biến Số lượng Tỷ lệ %
Xoá đoạn 6 60
Lặp đoạn 1 10
Đột biến điểm 2 20
Không xác định được đột biến 1 10
Tổng 10 100
Bảng 1. Các dạng đột biến gen dystrophin gây bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne ở 10 thai phụ
ĐINH THUÝ LINH, TRẦN VÂN KHÁNH, TRẦN HUY THỊNH, NGUYỄN ĐỨC HINH
34
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
đột biến gây bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne 
trong đấy đột biến xoá đoạn chiếm tỷ lệ cao 
nhất với 6/10 thai phụ (chiếm 60%). Đột biến 
điểm phát hiện ở 2 thai phụ, 1 thai phụ được 
xác định mang đột biến lặp đoạn. 1 trường 
hợp thai phụ chưa tìm thấy đột biến, tuy nhiên 
thai phụ này đã sinh 2 con trai mắc bệnh loạn 
dưỡng cơ Duchenne, vì vậy vẫn được đưa vào 
nghiên cứu.
1/10 thai nhi được được chẩn đoán là thai nhi 
mắc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne, 9/10 thai nhi 
được chẩn đoán là bình thường. 
Trường hợp thai được chẩn đoán là mắc bệnh 
loạn dưỡng cơ Duchenne, bệnh nhân và gia đình 
quyết định đình chỉ thai nghén. 9 trường hợp thai 
bình thường được tư vấn giữ thai.
Kết quả chẩn đoán trước sinh thai phụ DMD 
22 (ứng dụng kỹ thuật Microsatellite DNA): 
Phả hệ gia đình bệnh nhân mã số DMD22: thai 
phụ có 2 con trai bị bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne, 
cho thấy thai phụ là người mang gen dị hợp tử bắt 
buộc. Thai phụ và 2 con trai đã được xét nghiệm 
tìm đột biến gen dystrophin, tuy nhiên chưa xác 
định được đột biến.
STT Mã số Dạng đột biến phát hiện ở thai phụ
Kết quả chẩn đoán trước sinh 
bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne 
của thai nhi
1 DMD10 Xóa đoạn exon 46-50 Thai nhi không mắc bệnh
2 DMD11 Xóa đoạn exon 49-50 Thai nhi không mắc bệnh
3 DMD12 Xóa đoạn exon 51 Thai nhi không mắc bệnh
4 DMD13 Đột biến điểm: c.3022A>T (p.Cys1008Stop) Thai nhi không mắc bệnh
5 DMD15 Xóa đoạn exon 35-43 Thai nhi không mắc bệnh
6 DMD 17 Xóa đoạn exon 19-47 Thai nhi không mắc bệnh
7 DMD 18 Lặp đoạn 19-43 Thai nhi mắc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne
8 DMD20 Xóa đoạn exon 49-52 Thai nhi không mắc bệnh
9 DMD 22 Không phát hiện đột biến Thai nhi không mắc bệnh
10 DMD33 Đột biến điểmc.6640C>A (p.S2214X) Thai nhi không mắc bệnh
Bảng 2. Kết quả chẩn đoán trước sinh 10 thai phụ có nguy cơ cao sinh con mắc bệnh DMD
Hình 1. Phả hệ gia đình thai phụ mã số DMD22
Hình 2. Kỹ thuật Microsatellite trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne của 
thai phụ DMD22
Kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh loạn 
dưỡng cơ Duchenne của thai phụ DMD22 tìm 
thấy 3 marker dị hợp tử là DXS9907, DSTR 49 
và DSTR50. 
Với marker DSTR50, ở thai phụ xuất hiện 2 
đỉnh có kích thước 241bp và 246bp (hình A), 
tương ứng với 2 alen nằm trên 2 nhiễm sắc 
thể X (XBXb). Ở con trai mắc loạn dưỡng cơ 
Duchennechỉ xuất hiện 1 đỉnh kích thước 241bp 
tương ứng với 1 alen trên nhiễm sắc thể X (XbY), 
trùng khớp với kích thước 1 đỉnh ở mẫu của thai 
phụ. Từ kết quả trêncho thấy đỉnh kích thước 
241bp là đỉnh alen bệnh, đỉnh kích thước 246bp 
là đỉnh alen bình thường. 
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(01), 31 - 36, 2018
35
Tập 16, số 01
Tháng 05-2018
Với marker DSTR49 (hình B), đỉnh mang kích 
thước 251bp là đỉnh alen bệnh, đỉnh kích thước 
236bp là đỉnh alen bình thường.
Với marker D DXS9907 (hình C), đỉnh mang 
kích thước 211bp là đỉnh alen bệnh, đỉnh kích 
thước 202bp là đỉnh alen bình thường
Phân tích kết quả mẫu ối của thai nhi: mỗi 
marker DSTR50, DSTR 49 và DXS9907 đều chỉ 
xuất hiện 1 đỉnh có kích thước tương ứng lần lượt là 
202bp, 236bp, 246bp là các alen bình thường. Kết 
quả này có thể khẳng định đây là trường hợp thai 
nam không mắc bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne.
Kết quả chẩn đoán trước sinh thai phụ DMD33 
(ứng dụng kỹ thuật giải trình tự gen):
Giải trình tự gen phát hiện đột biến thay thế 
nucleotide C thành A tại vị trí c.6640 trên exon 
46 của gen dystrophin. Đây là dạng đột biến tạo 
mã kết thúc sớm (S2214X), từ đó tạo nên protein 
dystrophin không hoàn chỉnh.
Mẹ bệnh nhân cũng phát hiện thấy đột biến 
trên ở trạng thái dị hợp tử. Thai nhi không phát 
hiện thấy đột biến, được chẩn đoán không mắc 
bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne.
Kết quả chẩn đoán trước sinh thai phụ DMD12 
(ứng dụng kỹ thuật PCR):
Thai phụ được xác định là người mang gen đột 
biến xoá đoạn exon 51 của gen dystrophin. Thai 
Hình 3. Kỹ thuật giải trình tự gen trong chẩn đoán trước sinh bệnh DMD của thai phụ DMD33
Hình 4. Kết quả chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne của thai phụ DMD12
nhi được chẩn đoán trước sinh bằng kỹ thuật PCR, 
xác đinh là không mang đột biến xoá đoạn giống 
mẹ (không mắc loạn dưỡng cơ Duchenne).
3.2. Kết quả xét nghiệm nhiễm sắc thể 
đồ của thai nhi
Trong 10 trường hợp thai nhi được xét nghiệm 
nhiễm sắc thể đồ, không phát hiện trường hợp nào 
có bất thường NST qua nuôi cấy tế bào ối.
4. Bàn luận
Loạn dưỡng cơ Duchennelà một bệnh di truyền 
thần kinh cơ hay gặp nhất trong nhóm các bệnh lý 
di truyền thần kinh cơ với bệnh cảnh lâm sàng nặng 
nề và chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Hiện 
nay có rất nhiều kỹ thuật sinh học phân tử được áp 
dụng để xác định các đột biến gen dystrophin. Các 
kỹ thuật phát hiện đột biến gen trực tiếp được ứng 
dụng trong chấn đoán trước sinh với các trường 
hợp có đột biến chỉ điểm ở thai phụ. Kỹ thuật PCR 
có khả năng khảo sát 25 exon, phát hiện các đột 
biến xoá đoạn nằm trong 2 vùng “hot spot”, trong 
khi kỹ thuật MLPA lại có khả năng khảo sát cả 79 
exon, phát hiện cả đột biến xoá đoạn và lặp đoạn. 
Tuy nhiên với các đột biến điểm, việc xác định hiện 
chỉ có thể dựa vào kỹ thuật giải trình tự gen.
Với các trường hợp không thể phát hiện đột 
biến do kích thước gen quá lớn hay bệnh nhân 
không đủ điều kiện kinh tế để thực hiện các xét 
nghiệm giải trình tự gen, kỹ thuật chẩn đoán gián 
tiếp Microsatellite DNA có thể được ứng dụng. 
Không những có khả năng phát hiện cả những 
trường hợp thai nhi mang đột biến từ mẹ mà kỹ 
thuật Microsatellite DNA còn đáp ứng được những 
yêu cầu của chẩn đoán trước sinh với thời gian trả 
lời kết quả nhanh và chính xác (chỉ sau 48 – 72h) 
so với kỹ thuật giải trình tự gen phải mất đến hàng 
tuần. Đồng thời chi phí cho xét nghiệm thấp giúp 
giảm gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân. Mỗi bệnh 
nhân sẽ được lựa chọn ít nhất 2-3 marker dị hợp tử.
Tuỳ vào đặc điểm của từng gia đình bệnh 
nhân loạn dưỡng cơ Duchenne có thể ứng dụng 
Số lượng Tỷ lệ %
Bất thường NST 0 0
Không bất thường NST 10 100
Tổng 10 100
Bảng 3. Kết quả nhiễm sắc thể đồ từ dịch ối
ĐINH THUÝ LINH, TRẦN VÂN KHÁNH, TRẦN HUY THỊNH, NGUYỄN ĐỨC HINH
36
Tậ
p 
16
, s
ố 
01
Th
án
g 
05
-2
01
8
các kỹ thuật di truyền phân tử khác nhau trong 
chẩn đoán trước sinh. Việc lựa chọn kỹ thuật di 
truyền phân tử để chẩn đoán trước sinh bệnh 
loạn dưỡng cơ Duchenne cần dựa vào từng loại 
đột biến chỉ điểm cụ thể cũng như từng phả hệ 
của gia đình bệnh nhân. Với các trường hợp 
xác định được đột biến của người mẹ, có thể sử 
dụng kỹ thuật xác định đột biến trực tiếp trong 
chẩn đoán trước sinh như: kỹ thuật PCR trong 
xác định đột biến xoá đoạn, kỹ thuật MLPA trong 
xác dịnh đột biến xoá đoạn hoặc lặp đoạn, kỹ 
thuật giải trình tự gen trong xác định đột biến 
điểm. Trong trường hợp không xác định được đột 
biến của người mẹ, chẩn đoán trước sinh cần áp 
dụng phương pháp phát hiện đột biến gián tiếp 
Microsatellite DNA.
Việc xây dựng quy trình chẩn đoán trước sinh 
bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne là rất cần thiết để 
phát hiện chính xác các trường hợp thai nhi mắc 
bệnh trong thời gian ngắn nhất.
Hiện nay các chương trình sàng lọc, chẩn đoán 
trước sinh đang tập trung vào phát hiện các rối 
loạn NST thường gặp như: hội chứng Down (3 
nhiễm sắc thể 21), hội chứng Edwards (3 nhiễm 
sắc thể 18) hay hội chứng Patau (3 nhiễm sắc thể 
13). Các hội chứng này gây ra tình trạng đa dị tật 
về hình thái và hiện không có biện pháp điều trị 
đặc hiệu. Chính vì vậy, khi chọc hút nước ối, song 
song với lấy dịch ối để chẩn đoán thai nhi mắc 
loạn dưỡng cơ Duchenne cũng cần lấy nước ối để 
chẩn đoán các bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi.
5. Kết luận
Ứng dụng thành công các kỹ thuật di truyền 
phân tử trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn 
dưỡng cơ Duchenne: 1/10 thai nhi được chẩn 
đoán là thai nhi bệnh lý, thai phụ quyết định đình 
chỉ thai nghén, 9/10 thai nhi được chẩn đoán là 
bình thường, tiếp tục theo dõi và quản lý thai.
Tài liệu tham khảo
1. Bushby, K., et al.. Diagnosis and management of Duchenne muscular 
dystrophy, part 2: implementation of multidisciplinary care. Lancet Neurol, 
9(2); 2010. 177-189.
2. Kneppers, A. L., Ginjaar, I. B., and Bakker, E. Duchenne and Becker 
muscular dystrophy. Methods Mol Med, 92; 2004. 311-41.
3. Hallwirth Pillay K.D., Bill P.L., Madurai S., Mubaiwa L., Rapiti P. 
Molecular deletion patterns in Duchenne and Becker muscular dystrophy 
patients from KwaZulu Natal. J Neurol Sci 252(1); 2007. 1 – 3. 
4. Hwa H.L., Chang Y.Y., Chen C.H. et al. Multiplex Ligation-dependent 
Probe Amplification identification of deletions and duplications of the 
Duchenne muscular dystrophy gene in Taiwanese subjects. J Formos 
Med Assoc, 106; 2007. pp. 339-46.
5. Gatta V, Scarciolla O, Gaspari AR et al. Identification of deletions and 
duplications of the DMD gene in affected males and carrier females by multiple 
ligation probe amplification (MLPA). Hum Genet, 117; 2005. pp.92-8.
6. Prior TW, Bridgeman SJ. Experience and Strategy for the Molecular 
Testing of Duchenne Muscular Dystrophin. JMD, 7(3); 2005. 317-25.
7. Ta MH, Tran TH, Do NH, Pham le AT, Bui TH, Ta VT, Tran VK. Rapid 
method for targeted prenatal diagnosis of Duchenne muscular dystrophy 
in Vietnam.Taiwan J Obstet Gynecol, 52(4); 2013. 534-539. 
8. Matsuo M. Duchenne and Becker muscular dystrophy: from molecular 
diagnosis to gene therapy. IUBMB Life, 53; 2002. pp. 147-52. 
9. Hussey N.D., Donggui H., Froiland D.A., Hussey D.J., Haan E.A., 
Matthew C.D., Craig J.E. Analysis of five Duchenne muscular dystrophy 
exons and gender determination using conventional duplex polymerase 
chain reaction on single cells. Mol Hum Reprod, 5(11); 1999. pp. 1089-94.
10. Schouten JP, McElgunn CJ, Waaijer R, Zwijnenburg D, Diepvens F, Pals 
G. Relative quantification of 40 nucleic acid sequences by multiplex ligation-
dependent probe amplification. Nucleic Acids Res, 30(12); 2002. e57.
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_truoc_sinh_benh_loan_duong_co_duchenne.pdf