Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể (NST) ở thai có tứ chứng
Fallot (Tetralogy of Fallot - TOF).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 51 thai được
chẩn đoán TOF trên siêu âm, được chọc ối và sử dụng kỹ thuật BoBs
và lập karyotype để phân tích NST thai.
Kết quả: Tổng số 51 thai có TOF: tuổi thai trung bình khi siêu âm là
22,2 tuần, tuổi thai chọc ối là 23,1 tuần. Tỷ lệ thai có TOF đơn thuần là
86,3%, và TOF phối hợp với cơ quan khác ngoài tim là 11,7%. Tỷ lệ thai
có bất thường NST là 29,4% (15/51). Trong đó bất thường về số lượng
NST là 6/15 và bất thường cấu trúc là 9/15. Trong nhóm bất thường về
cấu trúc NST thì hội chứng Digeorge chiếm số lượng lớn 8/9 trường hợp.
Kết luận: Phát hiện bất thường NST ở thai có TOF là cơ sở để bác sĩ
sản khoa thực hiện tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh
Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot
Bùi Hải Nam(1), Trần Danh Cường(2), Nguyễn Thị Hiệp Tuyết(1), Nguyễn Hải Long(3) (1) Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, (2) Trường Đại học Y Hà Nội, (3) Trường Đại học Y Dược Hải Phòng CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ Ở THAI CÓ TỨ CHỨNG FALLOT Tác giả liên hệ (Corresponding author): Bùi Hải Nam, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 03/05/2019 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 20/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 20/05/2019 Từ khóa: Siêu âm tim thai, tứ chứng Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – on – Beads. Keywords: fetal echocadiography, tetralogy of Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – on – Beads. Tóm tắt Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể (NST) ở thai có tứ chứng Fallot (Tetralogy of Fallot - TOF). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 51 thai được chẩn đoán TOF trên siêu âm, được chọc ối và sử dụng kỹ thuật BoBs và lập karyotype để phân tích NST thai. Kết quả: Tổng số 51 thai có TOF: tuổi thai trung bình khi siêu âm là 22,2 tuần, tuổi thai chọc ối là 23,1 tuần. Tỷ lệ thai có TOF đơn thuần là 86,3%, và TOF phối hợp với cơ quan khác ngoài tim là 11,7%. Tỷ lệ thai có bất thường NST là 29,4% (15/51). Trong đó bất thường về số lượng NST là 6/15 và bất thường cấu trúc là 9/15. Trong nhóm bất thường về cấu trúc NST thì hội chứng Digeorge chiếm số lượng lớn 8/9 trường hợp. Kết luận: Phát hiện bất thường NST ở thai có TOF là cơ sở để bác sĩ sản khoa thực hiện tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh. Từ khóa: Siêu âm tim thai, tứ chứng Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – on – Beads. Abstract PRENATAL DIAGNOSIS CHROMOSOME ABNORMALITIES IN FETUSES WITH TETRALOGY OF FALLOT Objective: Describe the chromosomal characteristics fetuses with tetralogy of fallot (TOF). Material and Methods: Cross – section study 51 fetuses diagnosed TOF, all cases were taken amniotic and used the BoBs technique and karyotyping to analyze fetal chromosomes Results: Among the 51 fetuses with TOF: the average gestational age at ultrasound was 22.2 weeks, the age of amniocentesis was 23.1 weeks. The rate of fetuses with only TOF was 86.3%, and TOF with extracardiac anomalies was 11.7%. The rate of chromosomal abnormalities was 29.4% (15/51). In which the abnormal number BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG 06 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 07 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 06 - 10, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 of chromosomes was 6/15 and abnormal structure was 9/15. In abnormal group of chromosome structure, Digeorge syndrome was recorded for a large number of 8/9 cases. Conclusion: Detection of fetal chromosomal abnormalities with TOF is the basis for obstetricians to perform genetic counseling and prenatal diagnosis. Keywords: fetal echocadiography, tetralogy of Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – on – Beads. 1. Đặt vấn đề TOF là bệnh tim bẩm sinh gồm sự kết hợp của 4 bất thường về giải phẫu tim: tắc nghẽn đường ra thất phải, thông liên thất, động mạch chủ cưỡi ngựa trên vách liên thất và phì đại tâm thất phải. Ảnh hưởng đến 2 – 3/10.000 trẻ sống. Trong tử cung, phì đại tâm thất phải thường không phát triển do còn có lỗ bầu dục và ống động mạch, giải phóng tải áp lực ở tâm thất phải. TOF với hẹp động mạch phổi, tứ chứng Fallot với bít tắc động mạch phổi và tứ chứng Fallot với không có van động mạch phổi là 3 tiểu loại chính của TOF. Tỷ lệ lưu hành là khoảng 2,78/10.000 ca sinh sống ở TOF bị hẹp động mạch phổi, 0,7/10.000 ca sinh sống TOF với chứng xơ vữa động mạch phổi và khoảng 0,2/10.000 ca sinh ra sống ở bệnh nhân bị thiếu máu phổi. Kết quả của TOF phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, sự phối hợp BTBS khác, phối hợp bệnh lý bẩm sinh cơ quan khác và điều trị sau sinh [1]. Chẩn đoán trước sinh của TOF được thực hiện bằng siêu âm tim thai. Chẩn đoán TOF bao gồm mặt cắt 4 buồng, quan sát đường ra của tâm thất trái, mặt cắt 3 mạch máu và mặt cắt 3 mạch máu và khí quản. Các bất thường liên quan đến TOF bao gồm không quan sát thấy tuyến ức hoặc tuyến ức giảm âm, vòm động mạch chủ phải, động mạch dưới đòn bất thường và không quan sát thấy ống động mạch. Tỷ lệ chẩn đoán trước sinh được báo cáo gần đây đối với bệnh TOF chỉ nằm trong khoảng từ 30% đến 60% [2]. Sự khác biệt của TOF thậm chí còn khó khăn hơn và đòi hỏi phải có chuyên môn về phôi học tim và giải phẫu. TOF cũng liên quan đến hội chứng DiGeorge (vi mất đoạn 22q11) và các bất thường nhiễm sắc thể khác như Trisomy 21 và 18. Bất thường NST có ở 12% bệnh nhân bị tứ chứng Fallot, 26% ở tứ chứng Fallot / hẹp động mạch phổi. Trong những năm gần đây, nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phát hiện một số mất đoạn nhỏ NST trong chẩn đoán trước sinh trên thế giới cũng như ở Việt Nam [3]. Với những ứng dụng mới trong chẩn đoán NST thai và chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 2.1. Đối tượng nghiên cứu Thai nhi được chẩn đoán TOF phát hiện trên siêu âm và được thực hiên chọc ối đánh giá NST tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh từ 1/2017 đến 3/2019 tại trung tâm chẩn đoán trước sinh – Bệnh viện phụ sản Trung Ương. 2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.3. Các chỉ số nghiên cứu: Tuổi thai nhi, kết quả siêu âm tim có TOF, bất thường khác tại tim và cơ quan ngoài tim, kết quả nhiễm sắc thể thai. 2.4. Các tiêu chuẩn chẩn đoán trong nghiên cứu - Đánh giá BTBS qua siêu âm + Các đặc điểm siêu âm tim trong TOF là: Trục của tim có bất thường trong một số trường hợp. Mặt cắt 4 buồng đa số trường hợp bình thường mặc dù thông liên thất thỉnh thoảng thấy được trên BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG 08 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H mặt cắt này. Trên mặt cắt trục dọc thất trái, thấy hình ảnh động mạch chủ xuất phát từ thất trái, thông liên thất và động mạch chủ cưỡi ngựa lên vách liên thất. Có hình ảnh động mạch chủ nhận máu từ hai tâm thất trên siêu âm Doppler màu. Động mạch phổi xuất phát từ thất trái và thường có kích thước nhỏ [4]. - Đánh giá bộ NST: mẫu dịch ối của thai nhi có siêu âm TOF và tuổi thai ≥ 16 tuần. Mẫu dịch ối được làm kỹ thuật BoBs và karyotype tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ sản Trung Ương. Phân tích NST dựa theo tiêu chuẩn quốc tế ISCN 2015. Kết quả của kỹ thuật BoBs được phân tích bởi phần mềm chuyên dụng BoBsoft. Sử dụng kit prenatal BoB để phát hiện lệch bội liên quan đến NST 13, 18, 21, X, Y và 9 hội chứng vi mất đoạn NST thường gặp. Số liệu được thu thập bằng mẫu bệnh án nghiên cứu. Xử lý theo thuật toán thống kê y học 3. Kết quả nghiên cứu Kết quả thu được số lượng thai có kết quả siêu âm TOF và thai phụ đồng ý chọc ối làm NST là 51 trường hợp (trong đó có 1 trường hợp thai đôi). 3.1. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán - Tuổi thai siêu âm phát hiện TOF là: trung bình là 22,2 tuần (16 - 28,6 tuần). - Tuổi thai được chọc ối là: trung bình 23,1 tuần (17 – 29,5 tuần) 3.2. Đặc điểm TOF và kết quả nhiễm sắc thể Trong tổng số 51 thai có TOF thì thai bất thường NST chiếm tỷ lệ 29,4%. Có 44 trường hợp TOF đơn thuần chiếm 86,3%, nhóm TOF phối hợp với cơ quan khác ngoài tim chiếm tỷ lệ 11,7%. Trong 15 trường hợp bất thường NST có 6 trường hợp bất thường số lượng NST và 9 trường hợp bất thường cấu trúc NST (8 trường hợp thai có hội chứng DiGeogre). Kỹ thuật BoBs phát hiện được hội chứng DiGeorge nhưng không phát hiện được bất thường thai mang 2 dòng tế bào: 1 dòng Trisomy 9 có 50/72 cụm, 1 dòng tế bào mang 1 NST không rõ nguồn gốc có 22/71 cụm. Phương pháp lập karyotype thì ngược lại. 4. Bàn luận TOF và một số bệnh tim bẩm sinh khác như: bệnh cơ tim phì đại, thiểu sản một buồng tim hoặc một đại động mạch khi có tắc nghẽn đường ra (hẹp/không lỗ van động mạch phổi, hẹp/không lỗ van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ) hoặc dãn động mạch chủ trong TOF chỉ có thể thấy rõ ở 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối. Tuổi thai trung bình được phát hiện có TOF trong nghiên cứu này 22,2 tuần, tuổi thai nhỏ nhất là 16 tuần và lớn nhất là 28,6 tuần. Tiếp theo đó tuổi thai được chọc ối là: trung bình 23,1 tuần, nhỏ nhất là 17 tuần và lớn nhất là 29,5 tuần. Tương tự với nghiên cứu của Mademont Soler (2013) về nghiên cứu bệnh tim bẩm sinh và bất thường NST, tuổi thai trung bình Hình ảnh siêu âm thai có tứ chứng Fallot Đặc điểm NST Đặc điểm siêu âm NST bình thường NST bất thường Tổng TOF đơn thuần 34 10 43 (86,3%) TOF + bất thường khác tại tim 1 0 1 (2%) TOF + cơ quan ngoài tim 1 5 6 (11,7%) Tổng 36 (70,6%) 15 (29,4%) 51 Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm sắc thể bất thường ở thai tứ chứng Fallot Đặc điểm NST Kỹ thuật NST Số lượng Đặc điểm siêu âmBoBs Karyotype Bất thường số lượng NST: 6/15 Trisomy 13 + + 1 TOF + khe hở môi một bên Trisomy 18 + + 2 TOF + tăng KSSGTOF + nang đám rối mạch mạc Trisomy 21 + + 2 TOF đơn thuầnTOF + tắc tá tràng bẩm sinh Hội chứng Turner + + 1 TOF đơn thuần Bất thường số lượng NST: 9/15 Hội chứng DiGeogre + - 8 (7) TOF đơn thuần(1) TOF + giãn bể thận 2 bên 47,XY, + 9[50]/47,XY, + mar[22] - + 1 TOF đơn thuần Tổng 15 (+): Phát hiện, (-): Không phát hiện Bảng 2. Đặc điểm nhiễm sắc thể bất thường ở thai tứ chứng Fallot TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 09 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 16(04), 06 - 10, 2019 Tập 16, số 04 Tháng 06-2019 được chọc ối là 23 tuần 2 ngày (15- 38 tuần) [5]. Một số trường hợp đến Trung tâm chẩn đoán trước sinh muộn là từ tuyến dưới gửi lên, với những trường hợp phát hiện có TOF muộn kèm theo có bất thường NST thì việc tư vấn đình chỉ thai rất nặng nề. Tại trung tâm Chẩn đoán trước sinh số lượng thai có phát hiện TOF tương đối nhiều, tuy nhiên chỉ một nửa số thai phụ đồng ý chọc ối làm NST, những trường hợp còn lại 1 là chọn đình chỉ thai luôn hoặc giữ lại theo dõi thai kỳ tiếp. TOF là một bất thường bẩm sinh tim được chẩn đoán xác định bằng siêu tim thai và có thể được phẫu thuật điều trị sau sinh, các trường hợp chẩn đoán có TOF ở thai kỳ so sánh với kết quả siêu âm tim của trẻ sơ sinh cho thấy kết quả trùng khớp về bất thường này [6]. Trong nghiên cứu này chúng tôi chưa thống kê được đầy đủ các trường hợp chẩn đoán TOF thời kỳ sơ sinh ở những trường hợp giữ thai, tuy nhiên một số trường hợp xác nhận được kết quả trùng khớp. TOF là dạng bệnh tim bẩm sinh không đồng nhất về di truyền. Hội chứng vi mất đoạn 22q11.2 (hội chứng DiGeorge) và trisomy 21 chiếm khoảng 15% và 7% của tất cả các trường hợp TOF. TOF cũng là một phát hiện đặc trưng trong nhiều hội chứng (ví dụ: hội chứng Alagille, CHARGE và VATER), hiện có từ 15 đến 20% TOF bị hẹp động mạch phổi và gần 50% trường hợp mắc chứng xơ vữa động mạch phổi và các động mạch chủ động mạch chủ lớn. Hội chứng DiGeorge là một rối loạn đa hệ thống bởi bệnh tim bẩm sinh, dị tật vòm miệng, hạ canxi máu, suy giảm miễn dịch, khuyết tật về khả năng nói và học tập, rối loạn hành vi và tâm thần và các đặc điểm trên khuôn mặt [7]. Nghiên cứu của Gurleen Sharland: TOF kèm theo bất thường NST chiếm 21%; trong đó 32% là trisomy 21, 23% là hội chứng DiGeorge, 19% là trisomy 18, 6% là trisomy 13 và 13% là các dạng bất thường khác bao gồm chuyển đoạn không cân bằng, mất đoạn, 1 trường hợp 47XXY, 1 trường hợp 69XXX và 1 trường hợp 92XXYY. Hơn 14% có bất thường ngoài tim (có NST bình thường) bao gồm: không có nhãn cầu, sứt môi hở hàm ếch, nang bạch huyết, dị dạng Dany Walker, thoát vị bẹn, teo tát tràng, thoát vị rốn, đốt sống một nửa, đầu nhỏ, bất thường thận, vẹo cột sống, teo khí thực quản. Trong nghiên cứu cộng gộp của Zhao Y (2016), tổng số 622 trường hợp TOF có số lượng bất thường NST như sau: 4% trisomy 21; 3,2% trisomy 18; 3,7% trisomy 13; 13,5% hội chứng Digeorge và các bất thường NST khác chiếm 5%; như vậy tỷ lệ bất thường NST ở những trường hợp TOF chiếm 29,4% [1]. Phân tích nhiễm NST và biến thể số lượng bản sao trên toàn bộ bộ gen ở những bệnh nhân TOF, cho thấy có rất nhiều loại bất thường NST. Nghiêu cứu trên 86 bệnh nhân TOF, phát hiện 11 trường hợp có các bất thường như vi mất đoạn, nhân đôi đoạn ở những vùng nhiễm sắc thể như 22q11,21; 12p12.3p12.2; 14q23.2q23.3; 1q21.1q21.2; 1q42.13.[8]. Những phát hiện bất thường NST ở bệnh nhân TOF giúp ích cho tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh cho TOF và cung cấp cơ sở lý thuyết để khám phá cơ chế bệnh sinh của bệnh tim bẩm sinh. Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận trong số 51 trường hợp TOF có tỷ lệ bất thường NST là 15/51 (29,4%). Nghiên cứu này với số lượng cỡ mẫu thu được còn nhỏ nên chúng tôi không đánh giá tỷ lệ của từng loại bất thường NST ở những trường hợp TOF. Tuy nhiên, nhận thấy rằng có một số lượng đáng kể (8/14) thai bất thường NST là hội chứng Digeorge. Qua các nghiên cứu thì thấy rằng hội chứng Dieorge xuất hiện nhiều ở những trường hợp thai có di tật tim bẩm sinh nói chung và TOF nói riêng. Kết quả của chúng tôi ghi nhận trong số 43 trường hợp TOF đơn thuần có 10 trường hợp bất thường NST. Bên cạnh đó, những trường hợp bất thường phối hợp TOF và các dị tật cơ quan khác thấy rằng có 5/6 trường hợp là bất thường NST. Như vậy, với những trường hợp thai có chẩn đoán TOF trên siêu âm thì cần lưu ý có bất thường NST, đặc biệt ở những thai có bất thường phối hợp TOF và cơ quan khác. Những bất thường tại cơ quan khác đều là những đặc điểm đặc trưng hay gặp của bất thường NST như trisomy 21, 13, 18. Trong qua trình nghiên cứu chúng tôi thu nhận được trường hợp đặc biệt là song thai đều có TOF ở cả hai thai. Tư vấn di truyền thai phụ đồng ý chọc ối làm NST thì kết thể hiện đây là song thai chung hợp tử và cả 2 thai có hội chứng Digeorge. Hầu hết các hội chứng vi mất đoạn nhỏ NST đều gây ra chậm phát triển trí tuệ, vì vậy việc phát hiện trước sinh những dạng đột biến này là rất cần thiết. sử dụng Prenatal BoBs cho chẩn đoán trước sinh nên được sử dụng rộng rãi vì có khả năng BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG 10 Tậ p 16 , s ố 04 Th án g 06 -2 01 9 SẢ N K H O A – S Ơ S IN H phát hiện được những lệch bội NST thông thường hay gặp với tần số cao. Ngoài ra, kỹ thuật này phát hiện được những trường hợp vi mất đoạn với 9 hội chứng đã chọn mà xét nghiệm NST thông thường không phát hiện được. Tuy nhiên, trong một số những bất thường cấu trúc hiếm gặp thì cần phối hợp karyotype chẩn đoán. Vì vậy, việc phối hợp các phương pháp di truyền tế bào và kỹ thuật BoBs trong chẩn đoán trước sinh giúp chẩn đoán nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường hợp bất thường, đặc biệt các dị tật bẩm sinh tim có bất thường NST [9]. 5. Kết luận Trong tổng số 51 thai có TOF được chỉ định chọc ối làm NST thì tỷ lệ bất thường NST ở thai có TOF là 29,4% (15/51). Số lượng thai có TOF bất thường về số lượng NST là 6/15 trường hợp. Số lượng thai có TOF bất thường về cấu trúc NST là 9/15 trường hợp, trong đó có 8 trường hợp thai hội chứng DiGeorge. Cần phối hợp cả 2 kỹ thuật lập karyotype và BoBs vào trong chẩn đoán trước sinh những trường hợp thai TOF nói riêng và thai có bệnh tim bẩm sinh nói chung. Tài liệu tham khảo 1. Zhao Y, Abuhamad A, Fleenor J et al (2016). Prenatal and Postnatal Survival of Fetal Tetralogy of Fallot: A Meta-analysis of Perinatal Outcomes and Associated Genetic Disorders. J Ultrasound Med, 35 (5), 905-915. 2. Hill G.D, Block J.R, Tanem J.B et al (2015). Disparities in the prenatal detection of critical congenital heart disease. Prenat Diagn, 35 (9), 859-863. 3. Dai W, Jiang Y, Gulinazi M et al (2018). [Application for prenatal diagnosis using both chromosomal karyotype analysis and BACs-on- Beads assay]. Zhonghua Yi Xue Yi Chuan Xue Za Zhi, 35 (3), 357-360. 4. Gurleen Sharland (2018). Bệnh học tim thai giản yếu (sổ tay thực hành)/ Đặng Ngọc Tuyên (Biên dịch), Nhà xuất bản Y học. 5. Mademont-Soler, C Morales, A Soler et al (2013). Prenatal diagnosis of chromosomal abnormalities in fetuses with abnormal cardiac ultrasound findings: evaluation of chromosomal microarray-based analysis. Ultrasound Obstet Gynecol, 41 (4), 375-382. 6. Lê Kim Tuyến (2014). Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh tim bẩm sinh, Luận án tiến sỹ Y hoc, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Mercer-Rosa L, Paridon SM, Fogel MA et al (2015). 22q11.2 deletion status and disease burden in children and adolescents with tetralogy of Fallot. Circ Cardiovasc Gene, 8 (1), 74-81. 8. Liu L, Wang H.D, Cui C.Y et al (2016). Application of array-comparative genomic hybridization in tetralogy of Fallot. Medicine (Baltimore), 95 (49). 9. Hoàng Thị Ngọc Lan, Phan Thị Thu Giang, Trần Danh Cường et al (2018). Giá trị của kỹ thuật BoBs để phát hiện lệch bội và vi mất đoạn nhiễm sắc thể ở thai có hình ảnh siêu âm thai bất thường. Tạp chí Y học Việt Nam, 469, 438 - 445.
File đính kèm:
chan_doan_truoc_sinh_bat_thuong_nhiem_sac_the_o_thai_co_tu_c.pdf

