Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể (NST) ở thai có tứ chứng

Fallot (Tetralogy of Fallot - TOF).

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 51 thai được

chẩn đoán TOF trên siêu âm, được chọc ối và sử dụng kỹ thuật BoBs

và lập karyotype để phân tích NST thai.

Kết quả: Tổng số 51 thai có TOF: tuổi thai trung bình khi siêu âm là

22,2 tuần, tuổi thai chọc ối là 23,1 tuần. Tỷ lệ thai có TOF đơn thuần là

86,3%, và TOF phối hợp với cơ quan khác ngoài tim là 11,7%. Tỷ lệ thai

có bất thường NST là 29,4% (15/51). Trong đó bất thường về số lượng

NST là 6/15 và bất thường cấu trúc là 9/15. Trong nhóm bất thường về

cấu trúc NST thì hội chứng Digeorge chiếm số lượng lớn 8/9 trường hợp.

Kết luận: Phát hiện bất thường NST ở thai có TOF là cơ sở để bác sĩ

sản khoa thực hiện tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh

pdf 5 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot

Chẩn đoán trước sinh bất thường nhiễm sắc thể ở thai có tứ chứng Fallot
Bùi Hải Nam(1), Trần Danh Cường(2), Nguyễn Thị Hiệp Tuyết(1), Nguyễn Hải Long(3) 
(1) Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên, (2) Trường Đại học Y Hà Nội, (3) Trường Đại học Y Dược Hải Phòng
CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH
BẤT THƯỜNG NHIỄM SẮC THỂ
Ở THAI CÓ TỨ CHỨNG FALLOT
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Bùi Hải Nam, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 03/05/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
20/05/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 20/05/2019
Từ khóa: Siêu âm tim thai, tứ 
chứng Fallot, karyotype, BoBs, 
Bacs – on – Beads.
Keywords: fetal 
echocadiography, tetralogy of 
Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – 
on – Beads.
Tóm tắt
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể (NST) ở thai có tứ chứng 
Fallot (Tetralogy of Fallot - TOF). 
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang 51 thai được 
chẩn đoán TOF trên siêu âm, được chọc ối và sử dụng kỹ thuật BoBs 
và lập karyotype để phân tích NST thai.
Kết quả: Tổng số 51 thai có TOF: tuổi thai trung bình khi siêu âm là 
22,2 tuần, tuổi thai chọc ối là 23,1 tuần. Tỷ lệ thai có TOF đơn thuần là 
86,3%, và TOF phối hợp với cơ quan khác ngoài tim là 11,7%. Tỷ lệ thai 
có bất thường NST là 29,4% (15/51). Trong đó bất thường về số lượng 
NST là 6/15 và bất thường cấu trúc là 9/15. Trong nhóm bất thường về 
cấu trúc NST thì hội chứng Digeorge chiếm số lượng lớn 8/9 trường hợp. 
Kết luận: Phát hiện bất thường NST ở thai có TOF là cơ sở để bác sĩ 
sản khoa thực hiện tư vấn di truyền và chẩn đoán trước sinh. 
Từ khóa: Siêu âm tim thai, tứ chứng Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – 
on – Beads.
Abstract 
PRENATAL DIAGNOSIS CHROMOSOME 
ABNORMALITIES IN FETUSES WITH TETRALOGY 
OF FALLOT
Objective: Describe the chromosomal characteristics fetuses with 
tetralogy of fallot (TOF). 
Material and Methods: Cross – section study 51 fetuses diagnosed 
TOF, all cases were taken amniotic and used the BoBs technique and 
karyotyping to analyze fetal chromosomes 
Results: Among the 51 fetuses with TOF: the average gestational 
age at ultrasound was 22.2 weeks, the age of amniocentesis was 
23.1 weeks. The rate of fetuses with only TOF was 86.3%, and TOF 
with extracardiac anomalies was 11.7%. The rate of chromosomal 
abnormalities was 29.4% (15/51). In which the abnormal number 
BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG
06
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
07
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 06 - 10, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
of chromosomes was 6/15 and abnormal structure was 9/15. In abnormal group of chromosome 
structure, Digeorge syndrome was recorded for a large number of 8/9 cases. 
Conclusion: Detection of fetal chromosomal abnormalities with TOF is the basis for obstetricians 
to perform genetic counseling and prenatal diagnosis.
Keywords: fetal echocadiography, tetralogy of Fallot, karyotype, BoBs, Bacs – on – Beads.
1. Đặt vấn đề
TOF là bệnh tim bẩm sinh gồm sự kết hợp của 
4 bất thường về giải phẫu tim: tắc nghẽn đường 
ra thất phải, thông liên thất, động mạch chủ cưỡi 
ngựa trên vách liên thất và phì đại tâm thất phải. 
Ảnh hưởng đến 2 – 3/10.000 trẻ sống. Trong tử 
cung, phì đại tâm thất phải thường không phát 
triển do còn có lỗ bầu dục và ống động mạch, giải 
phóng tải áp lực ở tâm thất phải. TOF với hẹp động 
mạch phổi, tứ chứng Fallot với bít tắc động mạch 
phổi và tứ chứng Fallot với không có van động 
mạch phổi là 3 tiểu loại chính của TOF. Tỷ lệ lưu 
hành là khoảng 2,78/10.000 ca sinh sống ở TOF 
bị hẹp động mạch phổi, 0,7/10.000 ca sinh sống 
TOF với chứng xơ vữa động mạch phổi và khoảng 
0,2/10.000 ca sinh ra sống ở bệnh nhân bị thiếu 
máu phổi. Kết quả của TOF phụ thuộc vào mức độ 
nghiêm trọng của bệnh, sự phối hợp BTBS khác, 
phối hợp bệnh lý bẩm sinh cơ quan khác và điều 
trị sau sinh [1].
Chẩn đoán trước sinh của TOF được thực hiện 
bằng siêu âm tim thai. Chẩn đoán TOF bao gồm 
mặt cắt 4 buồng, quan sát đường ra của tâm 
thất trái, mặt cắt 3 mạch máu và mặt cắt 3 mạch 
máu và khí quản. Các bất thường liên quan đến 
TOF bao gồm không quan sát thấy tuyến ức 
hoặc tuyến ức giảm âm, vòm động mạch chủ 
phải, động mạch dưới đòn bất thường và không 
quan sát thấy ống động mạch. Tỷ lệ chẩn đoán 
trước sinh được báo cáo gần đây đối với bệnh 
TOF chỉ nằm trong khoảng từ 30% đến 60% [2]. 
Sự khác biệt của TOF thậm chí còn khó khăn 
hơn và đòi hỏi phải có chuyên môn về phôi học 
tim và giải phẫu. TOF cũng liên quan đến hội 
chứng DiGeorge (vi mất đoạn 22q11) và các bất 
thường nhiễm sắc thể khác như Trisomy 21 và 
18. Bất thường NST có ở 12% bệnh nhân bị tứ 
chứng Fallot, 26% ở tứ chứng Fallot / hẹp động 
mạch phổi. Trong những năm gần đây, nhiều 
công trình nghiên cứu đã được thực hiện nhằm 
phát hiện một số mất đoạn nhỏ NST trong chẩn 
đoán trước sinh trên thế giới cũng như ở Việt 
Nam [3]. Với những ứng dụng mới trong chẩn 
đoán NST thai và chúng tôi tiến hành nghiên cứu 
này với mục tiêu: Mô tả đặc điểm nhiễm sắc thể 
ở thai có tứ chứng Fallot. 
2. Đối tượng và phương pháp 
nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu 
Thai nhi được chẩn đoán TOF phát hiện trên 
siêu âm và được thực hiên chọc ối đánh giá NST 
tại Trung tâm chẩn đoán trước sinh từ 1/2017 đến 
3/2019 tại trung tâm chẩn đoán trước sinh – Bệnh 
viện phụ sản Trung Ương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên 
cứu mô tả cắt ngang
2.3. Các chỉ số nghiên cứu: Tuổi thai nhi, 
kết quả siêu âm tim có TOF, bất thường khác tại tim 
và cơ quan ngoài tim, kết quả nhiễm sắc thể thai.
2.4. Các tiêu chuẩn chẩn đoán trong 
nghiên cứu
- Đánh giá BTBS qua siêu âm
+ Các đặc điểm siêu âm tim trong TOF là: Trục 
của tim có bất thường trong một số trường hợp. 
Mặt cắt 4 buồng đa số trường hợp bình thường 
mặc dù thông liên thất thỉnh thoảng thấy được trên 
BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG
08
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
mặt cắt này. Trên mặt cắt trục dọc thất trái, thấy 
hình ảnh động mạch chủ xuất phát từ thất trái, 
thông liên thất và động mạch chủ cưỡi ngựa lên 
vách liên thất. Có hình ảnh động mạch chủ nhận 
máu từ hai tâm thất trên siêu âm Doppler màu. 
Động mạch phổi xuất phát từ thất trái và thường có 
kích thước nhỏ [4].
- Đánh giá bộ NST: mẫu dịch ối của thai nhi 
có siêu âm TOF và tuổi thai ≥ 16 tuần. Mẫu dịch 
ối được làm kỹ thuật BoBs và karyotype tại Trung 
tâm chẩn đoán trước sinh Bệnh viện Phụ sản Trung 
Ương. Phân tích NST dựa theo tiêu chuẩn quốc tế 
ISCN 2015. Kết quả của kỹ thuật BoBs được phân 
tích bởi phần mềm chuyên dụng BoBsoft. Sử dụng 
kit prenatal BoB để phát hiện lệch bội liên quan 
đến NST 13, 18, 21, X, Y và 9 hội chứng vi mất 
đoạn NST thường gặp. 
Số liệu được thu thập bằng mẫu bệnh án nghiên 
cứu. Xử lý theo thuật toán thống kê y học
3. Kết quả nghiên cứu
Kết quả thu được số lượng thai có kết quả siêu 
âm TOF và thai phụ đồng ý chọc ối làm NST là 51 
trường hợp (trong đó có 1 trường hợp thai đôi).
3.1. Tuổi thai tại thời điểm chẩn đoán 
- Tuổi thai siêu âm phát hiện TOF là: trung bình 
là 22,2 tuần (16 - 28,6 tuần). 
- Tuổi thai được chọc ối là: trung bình 23,1 tuần 
(17 – 29,5 tuần)
3.2. Đặc điểm TOF và kết quả nhiễm 
sắc thể
Trong tổng số 51 thai có TOF thì thai bất thường 
NST chiếm tỷ lệ 29,4%. Có 44 trường hợp TOF đơn 
thuần chiếm 86,3%, nhóm TOF phối hợp với cơ 
quan khác ngoài tim chiếm tỷ lệ 11,7%.
Trong 15 trường hợp bất thường NST có 6 
trường hợp bất thường số lượng NST và 9 trường 
hợp bất thường cấu trúc NST (8 trường hợp thai 
có hội chứng DiGeogre). Kỹ thuật BoBs phát hiện 
được hội chứng DiGeorge nhưng không phát hiện 
được bất thường thai mang 2 dòng tế bào: 1 dòng 
Trisomy 9 có 50/72 cụm, 1 dòng tế bào mang 1 
NST không rõ nguồn gốc có 22/71 cụm. Phương 
pháp lập karyotype thì ngược lại.
4. Bàn luận
TOF và một số bệnh tim bẩm sinh khác như: 
bệnh cơ tim phì đại, thiểu sản một buồng tim hoặc 
một đại động mạch khi có tắc nghẽn đường ra 
(hẹp/không lỗ van động mạch phổi, hẹp/không lỗ 
van động mạch chủ, hẹp eo động mạch chủ) hoặc 
dãn động mạch chủ trong TOF chỉ có thể thấy rõ 
ở 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối. Tuổi thai trung 
bình được phát hiện có TOF trong nghiên cứu này 
22,2 tuần, tuổi thai nhỏ nhất là 16 tuần và lớn nhất 
là 28,6 tuần. Tiếp theo đó tuổi thai được chọc ối 
là: trung bình 23,1 tuần, nhỏ nhất là 17 tuần và 
lớn nhất là 29,5 tuần. Tương tự với nghiên cứu của 
Mademont Soler (2013) về nghiên cứu bệnh tim 
bẩm sinh và bất thường NST, tuổi thai trung bình 
Hình ảnh siêu âm thai có tứ chứng Fallot
Đặc điểm NST
Đặc điểm siêu âm NST bình thường NST bất thường Tổng
TOF đơn thuần 34 10 43 (86,3%)
TOF + bất thường khác tại tim 1 0 1 (2%)
TOF + cơ quan ngoài tim 1 5 6 (11,7%)
Tổng 36 (70,6%) 15 (29,4%) 51
Bảng 1. Tỷ lệ nhiễm sắc thể bất thường ở thai tứ chứng Fallot
Đặc điểm NST
Kỹ thuật NST Số 
lượng Đặc điểm siêu âmBoBs Karyotype 
Bất thường số lượng NST: 6/15
Trisomy 13 + + 1 TOF + khe hở môi một bên
Trisomy 18 + + 2 TOF + tăng KSSGTOF + nang đám rối mạch mạc
Trisomy 21 + + 2 TOF đơn thuầnTOF + tắc tá tràng bẩm sinh
Hội chứng Turner + + 1 TOF đơn thuần
Bất thường số lượng NST: 9/15
Hội chứng DiGeogre + - 8 (7) TOF đơn thuần(1) TOF + giãn bể thận 2 bên
47,XY, + 9[50]/47,XY, + 
mar[22] - + 1 TOF đơn thuần
Tổng 15
(+): Phát hiện, (-): Không phát hiện
Bảng 2. Đặc điểm nhiễm sắc thể bất thường ở thai tứ chứng Fallot
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
09
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(04), 06 - 10, 2019
Tập 16, số 04
Tháng 06-2019
được chọc ối là 23 tuần 2 ngày (15- 38 tuần) [5]. 
Một số trường hợp đến Trung tâm chẩn đoán trước 
sinh muộn là từ tuyến dưới gửi lên, với những trường 
hợp phát hiện có TOF muộn kèm theo có bất thường 
NST thì việc tư vấn đình chỉ thai rất nặng nề. Tại 
trung tâm Chẩn đoán trước sinh số lượng thai có 
phát hiện TOF tương đối nhiều, tuy nhiên chỉ một 
nửa số thai phụ đồng ý chọc ối làm NST, những 
trường hợp còn lại 1 là chọn đình chỉ thai luôn hoặc 
giữ lại theo dõi thai kỳ tiếp. TOF là một bất thường 
bẩm sinh tim được chẩn đoán xác định bằng siêu 
tim thai và có thể được phẫu thuật điều trị sau sinh, 
các trường hợp chẩn đoán có TOF ở thai kỳ so sánh 
với kết quả siêu âm tim của trẻ sơ sinh cho thấy kết 
quả trùng khớp về bất thường này [6]. Trong nghiên 
cứu này chúng tôi chưa thống kê được đầy đủ các 
trường hợp chẩn đoán TOF thời kỳ sơ sinh ở những 
trường hợp giữ thai, tuy nhiên một số trường hợp 
xác nhận được kết quả trùng khớp. 
TOF là dạng bệnh tim bẩm sinh không đồng nhất 
về di truyền. Hội chứng vi mất đoạn 22q11.2 (hội 
chứng DiGeorge) và trisomy 21 chiếm khoảng 15% 
và 7% của tất cả các trường hợp TOF. TOF cũng là 
một phát hiện đặc trưng trong nhiều hội chứng (ví 
dụ: hội chứng Alagille, CHARGE và VATER), hiện 
có từ 15 đến 20% TOF bị hẹp động mạch phổi 
và gần 50% trường hợp mắc chứng xơ vữa động 
mạch phổi và các động mạch chủ động mạch chủ 
lớn. Hội chứng DiGeorge là một rối loạn đa hệ 
thống bởi bệnh tim bẩm sinh, dị tật vòm miệng, hạ 
canxi máu, suy giảm miễn dịch, khuyết tật về khả 
năng nói và học tập, rối loạn hành vi và tâm thần 
và các đặc điểm trên khuôn mặt [7]. Nghiên cứu 
của Gurleen Sharland: TOF kèm theo bất thường 
NST chiếm 21%; trong đó 32% là trisomy 21, 
23% là hội chứng DiGeorge, 19% là trisomy 18, 
6% là trisomy 13 và 13% là các dạng bất thường 
khác bao gồm chuyển đoạn không cân bằng, mất 
đoạn, 1 trường hợp 47XXY, 1 trường hợp 69XXX 
và 1 trường hợp 92XXYY. Hơn 14% có bất thường 
ngoài tim (có NST bình thường) bao gồm: không 
có nhãn cầu, sứt môi hở hàm ếch, nang bạch 
huyết, dị dạng Dany Walker, thoát vị bẹn, teo tát 
tràng, thoát vị rốn, đốt sống một nửa, đầu nhỏ, bất 
thường thận, vẹo cột sống, teo khí thực quản. Trong 
nghiên cứu cộng gộp của Zhao Y (2016), tổng số 
622 trường hợp TOF có số lượng bất thường NST 
như sau: 4% trisomy 21; 3,2% trisomy 18; 3,7% 
trisomy 13; 13,5% hội chứng Digeorge và các 
bất thường NST khác chiếm 5%; như vậy tỷ lệ bất 
thường NST ở những trường hợp TOF chiếm 29,4% 
[1]. Phân tích nhiễm NST và biến thể số lượng bản 
sao trên toàn bộ bộ gen ở những bệnh nhân TOF, 
cho thấy có rất nhiều loại bất thường NST. Nghiêu 
cứu trên 86 bệnh nhân TOF, phát hiện 11 trường 
hợp có các bất thường như vi mất đoạn, nhân đôi 
đoạn ở những vùng nhiễm sắc thể như 22q11,21; 
12p12.3p12.2; 14q23.2q23.3; 1q21.1q21.2; 
1q42.13.[8]. Những phát hiện bất thường NST 
ở bệnh nhân TOF giúp ích cho tư vấn di truyền và 
chẩn đoán trước sinh cho TOF và cung cấp cơ sở lý 
thuyết để khám phá cơ chế bệnh sinh của bệnh tim 
bẩm sinh. Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
ghi nhận trong số 51 trường hợp TOF có tỷ lệ bất 
thường NST là 15/51 (29,4%). Nghiên cứu này 
với số lượng cỡ mẫu thu được còn nhỏ nên chúng 
tôi không đánh giá tỷ lệ của từng loại bất thường 
NST ở những trường hợp TOF. Tuy nhiên, nhận 
thấy rằng có một số lượng đáng kể (8/14) thai 
bất thường NST là hội chứng Digeorge. Qua các 
nghiên cứu thì thấy rằng hội chứng Dieorge xuất 
hiện nhiều ở những trường hợp thai có di tật tim 
bẩm sinh nói chung và TOF nói riêng.
Kết quả của chúng tôi ghi nhận trong số 43 
trường hợp TOF đơn thuần có 10 trường hợp bất 
thường NST. Bên cạnh đó, những trường hợp bất 
thường phối hợp TOF và các dị tật cơ quan khác 
thấy rằng có 5/6 trường hợp là bất thường NST. 
Như vậy, với những trường hợp thai có chẩn đoán 
TOF trên siêu âm thì cần lưu ý có bất thường NST, 
đặc biệt ở những thai có bất thường phối hợp TOF 
và cơ quan khác. Những bất thường tại cơ quan 
khác đều là những đặc điểm đặc trưng hay gặp 
của bất thường NST như trisomy 21, 13, 18. Trong 
qua trình nghiên cứu chúng tôi thu nhận được 
trường hợp đặc biệt là song thai đều có TOF ở cả 
hai thai. Tư vấn di truyền thai phụ đồng ý chọc ối 
làm NST thì kết thể hiện đây là song thai chung hợp 
tử và cả 2 thai có hội chứng Digeorge. 
Hầu hết các hội chứng vi mất đoạn nhỏ NST 
đều gây ra chậm phát triển trí tuệ, vì vậy việc phát 
hiện trước sinh những dạng đột biến này là rất cần 
thiết. sử dụng Prenatal BoBs cho chẩn đoán trước 
sinh nên được sử dụng rộng rãi vì có khả năng 
BÙI HẢI NAM, TRẦN DANH CƯỜNG, NGUYỄN THỊ HIỆP TUYẾT, NGUYỄN HẢI LONG
10
Tậ
p 
16
, s
ố 
04
Th
án
g 
06
-2
01
9
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
phát hiện được những lệch bội NST thông thường 
hay gặp với tần số cao. Ngoài ra, kỹ thuật này 
phát hiện được những trường hợp vi mất đoạn với 
9 hội chứng đã chọn mà xét nghiệm NST thông 
thường không phát hiện được. Tuy nhiên, trong 
một số những bất thường cấu trúc hiếm gặp thì cần 
phối hợp karyotype chẩn đoán. Vì vậy, việc phối 
hợp các phương pháp di truyền tế bào và kỹ thuật 
BoBs trong chẩn đoán trước sinh giúp chẩn đoán 
nhanh, chính xác và tránh bỏ sót nhiều trường hợp 
bất thường, đặc biệt các dị tật bẩm sinh tim có bất 
thường NST [9]. 
5. Kết luận
Trong tổng số 51 thai có TOF được chỉ định 
chọc ối làm NST thì tỷ lệ bất thường NST ở thai có 
TOF là 29,4% (15/51). Số lượng thai có TOF bất 
thường về số lượng NST là 6/15 trường hợp. Số 
lượng thai có TOF bất thường về cấu trúc NST là 
9/15 trường hợp, trong đó có 8 trường hợp thai 
hội chứng DiGeorge. Cần phối hợp cả 2 kỹ thuật 
lập karyotype và BoBs vào trong chẩn đoán trước 
sinh những trường hợp thai TOF nói riêng và thai 
có bệnh tim bẩm sinh nói chung.
Tài liệu tham khảo
1. Zhao Y, Abuhamad A, Fleenor J et al (2016). Prenatal and Postnatal 
Survival of Fetal Tetralogy of Fallot: A Meta-analysis of Perinatal Outcomes 
and Associated Genetic Disorders. J Ultrasound Med, 35 (5), 905-915.
2. Hill G.D, Block J.R, Tanem J.B et al (2015). Disparities in the 
prenatal detection of critical congenital heart disease. Prenat Diagn, 35 
(9), 859-863.
3. Dai W, Jiang Y, Gulinazi M et al (2018). [Application for prenatal 
diagnosis using both chromosomal karyotype analysis and BACs-on-
Beads assay]. Zhonghua Yi Xue Yi Chuan Xue Za Zhi, 35 (3), 357-360.
4. Gurleen Sharland (2018). Bệnh học tim thai giản yếu (sổ tay thực 
hành)/ Đặng Ngọc Tuyên (Biên dịch), Nhà xuất bản Y học.
5. Mademont-Soler, C Morales, A Soler et al (2013). Prenatal diagnosis 
of chromosomal abnormalities in fetuses with abnormal cardiac ultrasound 
findings: evaluation of chromosomal microarray-based analysis. 
Ultrasound Obstet Gynecol, 41 (4), 375-382.
6. Lê Kim Tuyến (2014). Vai trò của siêu âm trong chẩn đoán bệnh 
tim bẩm sinh, Luận án tiến sỹ Y hoc, Đại học Y Dược Thành phố Hồ 
Chí Minh.
7. Mercer-Rosa L, Paridon SM, Fogel MA et al (2015). 22q11.2 deletion 
status and disease burden in children and adolescents with tetralogy of 
Fallot. Circ Cardiovasc Gene, 8 (1), 74-81.
8. Liu L, Wang H.D, Cui C.Y et al (2016). Application of array-comparative 
genomic hybridization in tetralogy of Fallot. Medicine (Baltimore), 95 (49).
9. Hoàng Thị Ngọc Lan, Phan Thị Thu Giang, Trần Danh Cường et al 
(2018). Giá trị của kỹ thuật BoBs để phát hiện lệch bội và vi mất đoạn 
nhiễm sắc thể ở thai có hình ảnh siêu âm thai bất thường. Tạp chí Y 
học Việt Nam, 469, 438 - 445. 

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_truoc_sinh_bat_thuong_nhiem_sac_the_o_thai_co_tu_c.pdf