Chẩn đoán đột biến di truyền đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (PGT-M) trong loại trừ gen bệnh thalassemia: Báo cáo loạt ca

Đặt vấn đề: Thiếu máu tán huyết di truyền (thalassemia) là một bệnh

lý huyết học đơn gen. Bệnh nhân cần được điều trị suốt đời và có thể

tử vong nếu không tuân thủ điều trị Tại Việt Nam, ước tính hiện nay

có khoảng 20.000 người bị thalassemia thể nặng, mỗi năm có thêm

khoảng 10 triệu người mang gen bệnh và hàng năm, có thêm trên 2.000

trẻ bị bệnh thalassemia chào đời. Kỹ thuật chẩn đoán đột biến di truyền

đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (Preimplantation Genetic Testing for

Monogenic disorders - PGT-M) ra đời, cho phép các cặp vợ chồng sau

khi có phôi từ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), lựa chọn những phôi

không có đột biến gen gây bệnh để chuyển vào buồng tử cung người vợ

giúp có thể sinh con không mang bệnh

pdf 7 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Chẩn đoán đột biến di truyền đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (PGT-M) trong loại trừ gen bệnh thalassemia: Báo cáo loạt ca", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Chẩn đoán đột biến di truyền đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (PGT-M) trong loại trừ gen bệnh thalassemia: Báo cáo loạt ca

Chẩn đoán đột biến di truyền đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (PGT-M) trong loại trừ gen bệnh thalassemia: Báo cáo loạt ca
ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN MINH TUẤN, LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, TRẦN TÚ CẦM, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
90
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
Đặng Quang Vinh(1,2), Nguyễn Minh Tuấn(3), Lưu Thị Minh Tâm(1), Phạm Thiếu Quân(2), Trần Tú Cầm(1), Huỳnh Gia Bảo(1), Hồ Mạnh Tường(1,2) 
(1)(2) HOPE Research Center, Bệnh viện Mỹ Đức, (3) Bệnh viện Nhi Đồng 1
CHẨN ĐOÁN ĐỘT BIẾN DI TRUYỀN ĐƠN GEN
GIAI ĐOẠN PHÔI TIỀN LÀM TỔ (PGT-M)
TRONG LOẠI TRỪ GEN BỆNH THALASSEMIA: 
BÁO CÁO LOẠT CA
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đặng Quang Vinh,
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 10/07/2019
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
15/08/2019
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 01/09/2019
Từ khóa: Thalaasemia, PGT-M, 
thụ tinh trong ống nghiệm
Keywords: Thalassemia, 
PGT-M, in vitro fertilization.
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Thiếu máu tán huyết di truyền (thalassemia) là một bệnh 
lý huyết học đơn gen. Bệnh nhân cần được điều trị suốt đời và có thể 
tử vong nếu không tuân thủ điều trị Tại Việt Nam, ước tính hiện nay 
có khoảng 20.000 người bị thalassemia thể nặng, mỗi năm có thêm 
khoảng 10 triệu người mang gen bệnh và hàng năm, có thêm trên 2.000 
trẻ bị bệnh thalassemia chào đời. Kỹ thuật chẩn đoán đột biến di truyền 
đơn gen giai đoạn phôi tiền làm tổ (Preimplantation Genetic Testing for 
Monogenic disorders - PGT-M) ra đời, cho phép các cặp vợ chồng sau 
khi có phôi từ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), lựa chọn những phôi 
không có đột biến gen gây bệnh để chuyển vào buồng tử cung người vợ 
giúp có thể sinh con không mang bệnh.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của chuyển phôi sau PGT-M trên bệnh 
nhân vô sinh mang gen bệnh thalassemia. 
Phương pháp: Đây là một báo cáo loạt ca, thực hiện trong thời gian 
từ tháng 02/2017 đến tháng 05/2018 tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức 
(IVFMD), bệnh viện Mỹ Đức. Đối tượng bệnh nhân là những cặp vợ 
chồng có chỉ định làm TTTON và quá trình sàng lọc cho thấy cả hai có 
mang gen bệnh. Phôi ngày 5, hình thành sau TTTON, được tiến hành 
sinh thiết để lấy khoảng 5 tế bào lá nuôi. Các tế bào được gửi phân 
tích di truyền bằng công nghệ giải trình tự thế hệ mới (Next Generation 
Sequencing – NGS) qua hai giai đoạn, (1) xác định tình trạng lệch bội 
và (2) chẩn đoán bất thường đơn gen trên các phôi không lệch bội. Phôi 
được đông lạnh sau khi sinh thiết và những phôi nào không mang gen 
bệnh hay ở dạng dị hợp tử mới được sử dụng để chuyển vào buồng tử 
cung của người vợ. Yếu tố đánh giá kết quả chính là tỷ lệ sinh sống sau 
một chu kỳ chuyển phôi.
Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, có 17 cặp bệnh nhân thỏa tiêu 
chuẩn nhận loại. Số noãn chọc hút trung bình là 16,7 ± 8,5, với số phôi 
ngày 5 trung bình là 6,8 ± 4,6. Trong số 79 phôi được sinh thiết, có 50 
(63,3%) phôi không bị lệch bội. Trong 50 phôi này, tỷ lệ phôi không 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
91
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 90 - 96, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
mang gen đột biến hay ở dạng dị hợp tử lần lượt là 36% và 56%. Hiện có 7 trường hợp sinh sống được 
ghi nhận và 1 trường hợp có thai đang ở tuổi thai 33 4/7 tuần.
Kết luận: PGT-M có thể được áp dụng thường quy trên các cặp vợ chồng có mang gen gây bệnh 
thalassemia nhằm giúp có thể sinh con từ những phôi không mang gen bệnh, hạn chế các gánh nặng 
về kinh tế, tâm lý cho gia đình và xã hội.
Từ khóa: Thalaasemia, PGT-M, thụ tinh trong ống nghiệm.
Abstract 
PREIMPLANTATION GENETIC TESTING FOR MONOGENIC DISORDERS 
(PGT-M) IN INFERTILE COUPLES WHO ARE CARRIERS FOR THALASSEMIA
Background: Thalassemia is an inherited disorder, resulting in a long-life treatment and may lead to 
death if left untreated. It has been reported that more than 10 million Vietnamese people are carriers, 
resulted in more than 2.000 neonates affected by the disease born each year. Preimplantation 
Genetic Testing for Monogenic disorders (PGT-M) aims to characterize the genetic status of embryos 
resulting from in vitro fertilization (IVF) cycles. Embryos identified as unaffected for the thalassemia 
can be transferred to the uterus.
Objectives: To evaluate the effectiveness of transferring embryos after PGT-M in infertile couples 
who are carriers for thalassemia. 
Methods: This case-series study was conducted at My Duc IVF clinic (IVFMD), My Duc Hospital, 
Ho Chi Minh City, Viet Nam. Infertile couples undergoing IVF treatment, diagnosed as carriers for 
thalassemia, were included. Embryo biopsy was performed on day 5 after egg retrieval. Biopsied 
cells were first screened for aneuploidy. Only euploidy samples were then undergone PGT-M. Next 
generation sequencing (NGS) was used in both steps. Biopsied embryos were then frozen. Only 
unaffected embryos were then transferred. Primary outcome was live birth after the first embryo transfer.
Results: Between February 2017 and May 2018, there were 17 infertile couples included in this 
trial. The wife’s mean age was 33.4 ± 5.9, with infertility duration of 4.3 ± 4.0 years. Mean number 
of oocytes retrieved was 16.7 ± 8.5 and mean number of day-5 embryos was 6.8 ± 4.6. Out of 79 
biopised embryos, 50 (63.3%) were euploid. Among these eupolid embryos, the rate of unaffected 
and heterozygous embryos were 36% and 56%, respectively. Currently, there are 7 live birth reported 
and 1 case at her 33 4/7 gestational age.
Conclusion: PGT-M could be used for couples who are carriers for thalassemia to reduce the 
burdens of economy on patients, family and on society.
Keywords: Thalassemia, PGT-M, in vitro fertilization.
1. Đặt vấn đề
Thiếu máu tán huyết di truyền (thalassemia) 
là một bệnh lý di truyền, liên quan đến các rối 
loạn trong tổng hợp hemoglobin, dẫn đến sự 
thiếu hụt hay vắng mặt các chuỗi globin (12). 
Vì liên quan đến gen lặn nằm trên nhiễm sắc 
thể thường nên sẽ có những người không có biểu 
hiện bệnh lý nhưng mang gen bệnh trong cơ 
thể ở dạng dị hợp tử. Báo cáo năm 2008 của 
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy ước tính 
có khoảng 5,2% dân số trên thế giới mang gen 
ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN MINH TUẤN, LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, TRẦN TÚ CẦM, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
92
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
bệnh và khoảng 1% dân số có nguy cơ mắc bệnh 
thalassemia (13). Việt Nam, nằm trong khu vực 
Đông Nam Á, nên cũng thuộc vùng dịch tễ của 
bệnh lý này. Tỷ lệ người Việt Nam mang gen 
bệnh thay đổi tùy theo từng nghiên cứu, do sự 
khác biệt về quần thể nghiên cứu cũng như nơi 
tiến hành, tại bệnh viện hay cộng đồng (7). Tuy 
nhiên, báo cáo năm 2019 của Viện Huyết học 
Truyền máu Trung ương cho thấy hiện nay, ước 
tính có 12 triệu người Việt Nam đang mang gen 
bệnh, trong khi đó, con số này 5 năm trước đó 
chỉ ở khoảng 5 triệu người (1). 
Điều cần lưu ý là trẻ sinh ra từ những cặp vợ 
chồng cùng mang gen gây bệnh dưới dạng dị hợp 
tử sẽ có nguy cơ khoảng 25% mắc bệnh thalassemia 
(12). Đây là một bệnh lý gây ảnh hưởng nghiêm 
trọng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển lâu 
dài của trẻ, để lại nhiều gánh nặng cho gia đình 
và xã hội. Quản lý bệnh thalassemia bao gồm việc 
phòng ngừa các trường hợp bệnh mới, điều trị và 
quản lý lâu dài bệnh nhân đã có. Tuy nhiên, cải 
thiện kết quả điều trị và quản lý lâu dài đòi hỏi rất 
nhiều nguồn lực. Ngoài ra, tầm soát toàn bộ quẩn 
thể là một việc khó khả thi. Do đó, các chương 
trình kiểm soát thường được tiến hành ở mức độ 
dự phòng cấp II, nghĩa là tầm soát và chẩn đoán 
trước sinh, từ đó, khống chế tỷ lệ hiện mắc thông 
qua giảm số ca mắc bệnh mới (5). Tuy nhiên, chiến 
lược dự phòng này thường dẫn đến việc chấm dứt 
thai kỳ khi thai nhi được chẩn đoán xác định. Điều 
này có thể để lại một số sang chấn về tâm lý, ảnh 
hưởng đến tương lai sản khoa của người phụ nữ 
cũng như có thể gây ra một số tranh cãi về mặt 
tôn giáo. 
Các vấn đề nêu trên có thể được khắc phục 
bằng kỹ thuật chẩn đoán đột biến di truyền đơn gen 
giai đoạn phôi tiền làm tổ (PGT-M). Về bản chất, 
đây là một kỹ thuật được phát triển từ những năm 
đầu của thập niên 1990 (2). Trong đó, phôi được 
tạo thành từ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) sẽ 
được sinh thiết lấy ra vài tế bào để gửi đi làm chẩn 
đoán di truyền các bệnh lý đã biết trước. Những 
phôi không chứa các gen đột biến đã được kiểm 
tra sẽ được sử dụng để chuyển vào buồng tử cung 
(BTC) người vợ. Kết quả là trẻ sinh ra sẽ không bị 
mắc bệnh hay thậm chí có thể không chứa gen 
bệnh đã được kiểm tra. Báo cáo của Liên đoàn Vô 
sinh Thế giới vào năm 2016 cho thấy ước tính có 
khoảng trên 25.000 chu kỳ PGT-M được thực hiện, 
tăng cao hơn so với báo cáo năm 2013 (4). Tại 
Đơn vị Hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức (IVFMD), bệnh viện 
Mỹ Đức, chúng tôi đã triển khai kỹ thuật PGT-M 
từ năm 2016. Bài nghiên cứu này nhằm mục đích 
đánh giá hiệu quả bước đầu của ứng dụng kỹ thuật 
PGT-M trong loại trừ bệnh thalassemia trên những 
cặp vợ chồng có chỉ định làm TTTON và có mang 
gen bệnh. 
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
Đây là một báo cáo loạt ca, được thực hiện 
trong thời gian từ tháng 02 năm 2017 đến tháng 
05 năm 2018 tại Đơn vị Hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức 
(IVFMD), bệnh viện Mỹ Đức, thành phố Hồ Chí 
Minh. Đối tượng nghiên cứu là những cặp vợ chồng 
hiếm muộn có (1) chỉ định điều trị bằng kỹ thuật 
TTTON, (2) quá trình sàng lọc cho thấy cả hai vợ 
chồng mang gen bệnh và (3) đồng ý thực hiện kỹ 
thuật PGT-M. 
Tất cả các cặp vợ chồng có chỉ định TTTON 
sẽ được sàng lọc thường quy nguy cơ bệnh 
thalassemia thông qua huyết đồ. Nếu có nghi ngờ, 
hai vợ chồng sẽ được xác định bằng phương pháp 
giải trình tự gen và đồng thời tạo đoạn mồi tại labo 
di truyền. Nếu kết quả phân tích di truyền cho thấy 
cả hai vợ chồng đều mang gen bệnh, cặp vợ chồng 
được tư vấn về các nguy cơ và lợi ích của kỹ thuật. 
Nếu đồng ý tham gia, hai vợ chồng được mời ký 
bản đồng thuận và bắt đầu quá trình điều trị.
Vào ngày 2 hay ngày 3 của chu kỳ kinh, 
người vợ được kích thích buồng trứng (KTBT) với 
phác đồ ngắn (phác đồ GnRH đối vận), sử dụng 
FSH tái tổ hợp. Khi có ít nhất 3 nang noãn với 
kích thước 17 mm trở lên, 6.500 IU hCG hay 0,2 
mg GnRH đồng vận được sử dụng để khởi động 
trưởng thành noãn. Chọc hút noãn được tiến hành 
tại thời điểm 36 giờ sau đó. Noãn sau chọc hút 
được thụ tinh với tinh trùng bằng kỹ thuật tiêm tinh 
trùng vào bào tương noãn. Phôi được nuôi trong 
môi trường đơn bước đến ngày 5 (sau khi chọc 
hút noãn), giai đoạn phôi nang. Vào ngày 5 sau 
chọc hút, khoảng 5 tế bào lá nuôi (trophectoderm 
cell – TE) trong mỗi phôi được lấy ra ngoài bằng 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
93
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 90 - 96, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
kỹ thuật sinh thiết, sử dụng hệ thống laser. Phôi 
sau sinh thiết được đông lạnh và lưu trữ riêng biệt 
từng phôi. Các tế bào lá nuôi được chuyển qua 
labo di truyền. Tại đây, chúng được tầm soát lệch 
bội bộ NST và sau đó, chỉ những mẫu có bộ NST 
nguyên bội mới được tiến hành xác định sự hiện 
diện của gen bệnh bằng công nghệ giải trình tự 
thế hệ mới (NGS). 
Trong chu kỳ kinh tiếp theo, bệnh nhân được 
chuẩn bị niêm mạc tử cung để chuyển phôi trữ 
bằng nội tiết ngoại sinh (estradiol valerate kết hợp 
micronized progesterone). Vào ngày chuyển phôi, 
một phôi không chứa gen bệnh được rã đông và 
chuyển vào buồng tử cung dưới hướng dẫn siêu 
âm. Hai tuần sau chuyển phôi, bệnh nhân được thử 
thai. Nếu kết quả dương tính, bệnh nhân được hẹn 
siêu âm sau 3 tuần. Hỗ trợ hoàng thể được duy trì 
đến tuần thứ 7 của thai kỳ. Sau đó, thai phụ được 
theo dõi thường quy tại phòng khám Sản, bệnh 
viện Mỹ Đức cho đến khi sinh. 
Kết cục chính của nghiên cứu là tỷ lệ sinh sống 
sau chu kỳ chuyển phôi đầu tiên. Các kết cục phụ 
bao gồm tỷ lệ phôi lệch bội, tỷ lệ phôi không mang 
gen bệnh, tỷ lệ phôi mang gen bệnh thể dị hợp tử, 
tỷ lệ beta hCG dương tính, tỷ lệ thai lâm sàng, tỷ 
lệ đa thai, tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ sảy thai, tỷ lệ thai dị 
tật bẩm sinh.
3. Kết quả 
Trong thời gian từ tháng 02/2017 đến 
05/2018, có 18 cặp vợ chồng thỏa tiêu chuẩn 
và đồng ý tham gia nghiên cứu. Đặc điểm bệnh 
nhân được trình bày trong Bảng 1. Người vợ 
trong các trường hợp này thuộc nhóm tiên lượng 
tốt, tuổi < 35 tuổi và có dự trữ buồng trứng bình 
thường. Có tất cả 79 phôi ngày 5 (phôi nang) 
được tạo thành, với số phôi nang trung bình là 
6,8 ± 4,6 phôi, tỷ lệ tạo phôi nang là 53,1%. 
Các kết quả TTTON được trình bày trong Bảng 
2. Tất cả các phôi nang đều được tiến hành sinh 
thiết. Tỷ lệ phôi có bộ NST nguyên bội là 63,3% 
(bảng 3). Ba bệnh nhân có 100% phôi có bộ 
NST lệch bội nên không được tiến hành phân 
tích gen bệnh tiếp theo và không được chuyển 
phôi. Trong số 50 phôi có bộ NST nguyên bội 
(của 15 bệnh nhân còn lại), kết quả phân tích di 
truyền cho thấy có 18 (36%) phôi không mang 
gen bệnh và 28 (56%) phôi mang gen bệnh ở 
dạng dị hợp tử (Biểu đồ 1). 
Kết quả chuyển phôi trữ được trình bày trong 
Bảng 4. Trong số 15 bệnh nhân quay lại chuyển 
phôi lần đầu tiên, có 8 trường hợp thai diễn tiến 
(đến 12 tuần) và đã có 7 trường hợp có kết quả 
sinh. Một trường hợp còn lại đang ở tuổi thai 33 
4/7 tuần tại thời điểm viết bài. Các kết cục sản 
khoa của 7 trường hợp đã sinh được trình bày 
trong Bảng 5. Trong số 7 trường hợp thất bại với 
chu kỳ chuyển phôi đầu tiên, có 4 bệnh nhân vẫn 
còn ít nhất 1 phôi trữ.
AMH: Anti Mullerian Hormone. Số liệu được 
trình bày dưới dạng số trung bình ± ĐLC hay số 
tuyệt đối (%).
Số liệu được trình bày dưới dạng số trung bình 
± ĐLC hay số tuyệt đối (%)
Số liệu được trình bày dưới dạng số tuyệt đối (%)
Đặc điểm Giá trị
Tuổi vợ trung bình (năm) 33,4 ± 5,9
Chỉ số khối cơ thể (BMI, kg/m2) 20,7 ± 2,4
Thời gian vô sinh trung bình (năm) 4,3 ± 4,0
Nồng độ AMH (ng/ml) 4,1 ± 3,6
Loại vô sinh 
 Nguyên phát 2 (11,1)
 Thứ phát 16 (88,9)
Chỉ định TTTON 
 Ống dẫn trứng 5 (27,8)
 Bất thường tinh trùng 7 (38,9)
 Giảm dự trữ buồng trứng 1 (5,5)
 Khác 5 (27,8)
Loại thalassemia 
 Alpha 8 (44,4)
 Beta 10 (55,6)
Bảng 1. Đặc điểm nền của bệnh nhân
Kết quả Giá trị
Số noãn chọc hút trung bình 16,7 ± 8,5
Số noãn ICSI 14,1 ± 8,5
Tỷ lệ thụ tinh 87,5
Số phôi nang trung bình 6,8 ± 4,6
Số phôi nang loại 1 + 2 2,9 ± 2,1
Bảng 2. Kết quả thụ tinh trong ống nghiệm
Kết quả di truyền Giá trị (n = 79 phôi)
Nguyên bội 50 (63,3)
Lệch bội 20 (25,3)
Thể khảm 3 (3,8)
Bất thường cấu trúc 6 (7,6)
Bảng 3. Kết quả phân tích nhiễm sắc thể 
ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN MINH TUẤN, LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, TRẦN TÚ CẦM, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
94
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
4. Bàn luận
Thalassemia là một bệnh lý di truyền và theo 
NST lặn và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. 
Đây là bệnh lý đơn gen phổ biến nhất trên thế 
giới, đặc biệt lưu hành với tần suất cao tại khu 
vực Đông Nam Á, Địa Trung Hải. Thalassemia 
cũng đã được Tổ chức Y tế thế giới xác định là 
vấn đề sức khỏe nghiêm trọng và khuyến cáo các 
nước thuộc khu vực Đông Nam Á nên chọn là một 
trong các vấn đề ưu tiên sức khỏe di truyền người 
(13). Tại Việt Nam, kết quả bước đầu khảo sát 
tình trạng mang gen bệnh thalassemia trên toàn 
quốc năm 2017, cho thấy có khoảng trên 12 
Biểu đồ 1. Kết quả phân tích gen bệnh (n = 50 phôi nguyên bội)
Biểu đồ 1. Kết quả phân tích gen bệnh (n = 50 phôi nguyên bội) 
Bảng 4. Kết quả chuyển phôi trữ 
Số phôi chuyển 1 
Tỷ lệ thai lâm sàng 9 (60) 
Tỷ lệ đa thai 0 
Tỷ lệ làm tổ 9 (60) 
Tỷ lệ thai diễn tiến 8 (53,3) 
Tỷ lệ sinh sống* 7 (46,7) 
* 1 trường hợp đang mang thai ở tuần thứ 33 4/7 của thai kỳ 
Bảng 5. Kết cục sản khoa 
STT Bệnh nhân Tuổi 
thai 
khi 
sinh 
Phương 
pháp 
sinh 
Giới 
tính 
Cân 
nặng 
Apgar Bất 
thường 
ghi 
nhận 
1. 	 L.T.H.Y., 
1989 
38 5/7 
tuần 
Mổ lấy 
thai 
Trai 3300g 8/9 - 
2. 	 B.T.P.H., 
1988 
38 0/7 
tuần 
Sinh ngả 
âm đạo 
Gái 3000g 8/9 - 
3. 	 N.T.M.T., 
1988 
37 6/7 
tuần 
Mổ lấy 
thai 
Gái 2800g 7/9 - 
4. 	 P.T.H., 
1981 
38 5/7 
tuần 
Mổ lấy 
thai 
Trai 3200g 8/9 - 
5. 	 T.T.M., 
1989 
37 6/7 
tuần 
Sinh ngả 
âm đạo 
Gái 2900g 8/9 - 
6. 	 N.V.T.L., 
1995 
36 4/7 
tuần 
Mổ lấy 
thai 
Gái 2700g 8/9 - 
7. 	 Đ.T.T., 
1987 
38 6/7 
tuần 
Mổ lấy 
thai 
Gái 3000g 8/9 - 
36
56
8
Không	mang	gen	bệnh
Mang	gen	bệnh	dạng	dị	
hợp	tử
Mang	gen	bệnh	đồng	hợp	
tử	
Số phôi chuyển 1 
Tỷ lệ thai lâm sàng 9 (60)
Tỷ lệ đa thai 0 
Tỷ lệ làm tổ 9 (60) 
Tỷ lệ thai diễn tiến 8 (53,3)
Tỷ lệ sinh sống* 7 (46,7)
* 1 trường hợp đa g mang thai ở tuần thứ 33 4/7 của thai kỳ
Bảng 4. Kết quả chuyển phôi trữ
STT Bệnh nhân
Tuổi thai 
khi sinh
Phương 
pháp sinh Giới tính Cân nặng Apgar
Bất thường 
ghi nhận
1. L.T.H.Y., 1989
38 5/7 
tuần Mổ lấy thai Trai 3300g 8/9 -
2. B.T.P.H., 1988
38 0/7 
tuần
Sinh ngả 
âm đạo Gái 3000g 8/9 -
3. N.T.M.T., 1988
37 6/7 
tuần Mổ lấy thai Gái 2800g 7/9 -
4. P.T.H., 1981
38 5/7 
tuần Mổ lấy thai Trai 3200g 8/9 -
5. T.T.M., 1989
37 6/7 
tuần
Sinh ngả 
âm đạo Gái 2900g 8/9 -
6. N.V.T.L., 1995
36 4/7 
tuần Mổ lấy thai Gái 2700g 8/9 -
7. Đ.T.T., 1987
38 6/7 
tuần Mổ lấy thai Gái 3000g 8/9 -
Bảng 5. Kết cục sản khoa
triệu người mang gen bệnh. Hiện nay, có trên 
20.000 người bị thalassemia cần phải điều trị 
cả đời và mỗi năm có thêm khoảng 8.000 trẻ em 
sinh ra bị bệnh thalassemia, trong đó có khoảng 
2.000 trẻ bị bệnh mức độ nặng và khoảng 800 
trẻ không thể ra đời do phù thai. Chi phí điều trị 
trung bình cho một bệnh nhân thể nặng từ khi 
sinh ra tới 30 tuổi hết khoảng 3 tỷ đồng. Số liệu 
ước tính mỗi năm, ngân sách y tế cần chi 2.000 
tỷ đồng để cho tất cả bệnh nhân có thể được 
điều trị duy trì ở mức tối thiểu (1). Do đó, công 
tác dự phòng và quản lý bệnh thalassemia hiện 
đang được quan tâm trong những năm gần đây. 
Các chiến lược dự phòng hiện nay tại các 
quốc gia đa số tập trung vào dự phòng cấp II, 
nghĩa là khi thai phụ có thai thì sẽ tiến hành 
đánh giá nguy cơ của hai vợ chồng qua huyết 
đồ. Nếu thai nhi thuộc dạng nguy cơ cao thì có 
thể tiến hành chẩn đoán trước sinh và sẽ chấm 
dứt thai kỳ nếu trẻ được xác định là mắc bệnh 
thalassemia. Từ đó, có thể khống chế tỷ lệ hiện 
mắc thông qua giảm số ca mắc bệnh mới. Trong 
một nghiên cứu trên 44.439 thai phụ đến khám 
thai và tầm soát bằng xét nghiệm huyết đồ tại 
Từ Dũ, tỷ lệ thalassemia được xác định là 1,7% 
(7). Một điểm cần lưu ý là trong nghiên cứu này, 
có đến 95% cặp vợ chồng là thuộc dân tộc Kinh. 
Trong khi đó, một khảo sát trên đối tượng phụ nữ 
Cơ Tu trong độ tuổi sinh sản tại Huế, cho thấy có 
đến 56,1% người mang gen bệnh (8). Như vậy, 
với chiến lược dự phòng như hiện nay, nếu triển 
khai một cách hiệu quả và đồng bộ, số trường 
hợp phải chấm dứt thai kỳ ở tuổi thai 16 – 17 
tuần là không nhỏ, với nhiều nguy cơ tiềm ẩn 
trước mắt và lâu dài. 
Sự phát triển của TTTON và các công nghệ 
phân tích di truyền, mà gần đây là giải trình tự 
thế hệ mới đã góp phần thúc đẩy các kỹ thuật 
chẩn đoán di truyền phôi tiền làm tổ, được gọi 
tắt là PGT (Preimplantation Genetic Testing), 
trong đó, có chẩn đoán đột biến di truyền đơn 
gen, PGT-M. Được báo cáo lần đầu tiên vào 
năm 1990 (2), đến nay kỹ thuật PGT nói chung 
và PGT-M nói riêng đã trở nên một phần không 
thể thiếu của các trung tâm TTTON. Với PGT-M, 
các trở ngại với chương trình dự phòng cấp II 
cho bệnh lý thalassemia có thể được giải quyết 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
95
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 17(01), 90 - 96, 2019
Tập 17, số 01
Tháng 09-2019
một cách triệt để, khi chỉ những phôi nào được 
tạo ra sau TTTON và không chứa gen bệnh hay 
ở dạng dị hợp tử mới được sử dụng để chuyển 
vào BTC. Tại Việt Nam, báo cáo đầu tiên về ứng 
dụng PGT-M trên bệnh lý thalassemia được ghi 
nhận vào năm 2016. Trong số 9 trường hợp bố 
mẹ có gen thalassemia được điều trị TTTON kết 
hợp PGT-M, các tác giả ghi nhận có 2 trường 
hợp đã sinh bé (6). 
Tuy nhiên, khi triển khai PGT-M, một số vấn 
đề về kỹ thuật cần lưu ý. Trong khi hiện nay, 
công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới đã giúp 
nâng cao tính chính xác của kết quả phân tích 
cũng như rút ngắn thời gian phân tích, công 
việc nuôi phôi đến ngày 5 và sinh thiết phôi 
vẫn đóng một vai trò quan trọng. Ngày càng 
có nhiều bằng chứng ủng hộ cho việc sinh thiết 
phôi vào giai đoạn ngày 5, thay vì ngày 3 như 
trước đây (9,10). Tuy nhiên, việc sinh thiết phôi 
vào giai đoạn ngày 5 đòi hỏi trung tâm TTTON 
phải có một quy trình nuôi cấy phôi hiệu quả và 
ổn định để đảm bảo có phôi phát triển vào ngày 
5. Hiện nay, tỷ lệ phát triển thành phôi nang tại 
IVFMD là khoảng 50%. Ngoài ra, vì sinh thiết 
ngày 5, nên phôi sau khi sinh thiết cần được 
đông lạnh trong thời gian chờ kết quả phân tích 
di truyền. Do đó, chương trình trữ lạnh-rã đông 
cũng phải ổn định để không ảnh hưởng đến khả 
năng làm tổ của phôi sau rã đông. 
Ngoài ra, tính an toàn của kỹ thuật cũng cần 
được quan tâm, bên cạnh ưu điểm là có khả 
năng loại trừ bệnh thalassemia cho trẻ hay thậm 
chí, góp phần loại trừ gen bệnh lưu hành trong 
cộng đồng. Một điều may mắn là các dữ liệu 
hiện nay bước đầu chưa ghi nhận tác động có 
hại của kỹ thuật trên trẻ chào đời. Trong một 
nghiên cứu trên 88.010 trẻ sinh ra từ TTTON 
đơn thuần và trẻ sinh ra từ PGT-M tại Anh, số 
liệu cho thấy nguy cơ (đã hiệu chỉnh với các 
yếu tố gây nhiễu) sinh non và nhẹ cân ở nhóm 
PGT-M thấp hơn so với nhóm TTTON đơn thuần, 
lần lượt là aOR 0,66 KTC 95% 0,45-0,98 và 
aOR 0,58 KTC 95% 0,38-0,88 (11). Một báo 
cáo gần đây nhất khi so sánh sự phát triển về thể 
chất, tâm thần và vận động của trẻ đến 5 tuổi ở 
3 nhóm, PGT-M, TTTON đơn thuần và trẻ sinh ra 
từ các chu kỳ tự nhiên cho thấy tỷ lệ dị tật bẩm 
sinh, phát triển thể chất và thần kinh ở 3 nhóm 
là tương đương nhau. Riêng nhóm trẻ TTTON 
đơn thuần bắt đầu ngồi được sớm hơn so với 2 
nhóm còn lại (3). 
Một vấn đề ngoài kỹ thuật cần lưu ý khi áp 
dụng PGT-M đó là nguy cơ không có phôi chuyển. 
Sự tiến bộ của kỹ thuật chẩn đoán di truyền ngày 
nay đã cho phép kết hợp giữa tầm soát lệch bội 
(PGT-A) và chẩn đoán bệnh lý di truyền đơn gen 
(PGT-M) trên cùng một mẫu sinh thiết. Điều này có 
thể làm tăng hiệu quả của một chu kỳ chuyển phôi 
(9). Tuy nhiên, việc kết hợp này cũng dẫn đến 
nguy cơ bệnh nhân không có phôi bình thường 
nào để chuyển. Trong số 15 bệnh nhân trong báo 
cáo này, có đến 3 trường hợp không có phôi bình 
thường để chuyển sau khi phân tích di truyền. Đây 
là một vấn đề cần được tư vấn, giải thích rõ ràng, 
thấu đáo cho bệnh nhân, nhất là trong bối cảnh 
chi phí cho một chu kỳ TTTON có kết hợp PGT-M 
hiện nay là khá tốn kém và tại Việt Nam, bệnh 
nhân phải chi trả hoàn toàn. Ngoài ra, vấn đề xử 
lý các phôi không được sử dụng cũng cần được 
bàn luận và có sự đồng thuận của gia đình từ 
trước khi điều trị. 
5. Kết luận
Chẩn đoán di truyền đột biến đơn gen giai 
đoạn phôi tiền làm tổ là một kỹ thuật tiềm năng, 
có thể được áp dụng trong việc loại trừ triệt 
để nguy cơ bệnh lý thalassemia trên các cặp 
vợ chồng mang gen bệnh, ngay trước khi thai 
nhi được hình thành. Do đó, góp phần giảm bớt 
các gánh nặng về tinh thần, thể chất cũng như 
các sang chấn sản khoa liên quan đến việc phải 
chấm dứt thai kỳ. Tuy nhiên, trước khi tiến hành, 
cần có sự tư vấn đầy đủ, rõ ràng về các nguy 
cơ và lợi ích của kỹ thuật cho bệnh nhân. Các 
dữ liệu hiện nay cho thấy đây là một kỹ thuật an 
toàn, tuy nhiên, cần nhiều bằng chứng hơn nữa, 
với một thời gian đánh giá và theo dõi kéo dài.
ĐẶNG QUANG VINH, NGUYỄN MINH TUẤN, LƯU THỊ MINH TÂM, PHẠM THIẾU QUÂN, TRẦN TÚ CẦM, HUỲNH GIA BẢO, HỒ MẠNH TƯỜNG
96
Tậ
p 
17
, s
ố 
01
Th
án
g 
09
-2
01
9
B
Á
O
 C
Á
O
 T
R
Ư
Ờ
N
G
 H
Ợ
P
Tài liệu tham khảo
1. Bạch Quốc Khánh (2019). Kiểm soát thalassemia tại Việt Nam:
hiện trạng – giải pháp. Hội nghị khoa học toàn quốc về thalassemia 
lần III, Viện Truyền máu huyết học trung ương, Hà Nội, 24-25/4/2019. 
2. Handyside AH, Kontogianni EH, Hardy K and Winston RML (1990). 
Pregnancies from biopsied human preimplantation embryos sexed by 
Y-specific DNA amplification. Nature 344:768-770. 
3. Heijligers M, Peeters A, van Montfoort A et al (2019). Growth, health, 
and motor development of 5-year-old children born after preimplantation 
genetic diagnosis. Fertil Steril. 111:1151-1158. 
4. International Federation of Fertility Societies (2016). IFFS 
Surveillance 2016. Global Reproductive Health 1:e1.
5. Joint SOGC-CCMG Clinical Practice Guideline (2008). Carrier 
Screening for Thalassemia and Hemoglobinopathies in Canada. J 
Obstet Gynaecol Can 30:950–959
6. Ngô Trường Giang (2016). Kết quả ứng dụng quy trình chẩn 
đoán bệnh di truyền trước chuyển phôi bệnh Thalassemia tại Học 
viện Quân y. Báo cáo tại Hội nghị Hội nghị khoa học toàn quốc về 
Thalassemia lần II, Hòa Bình 25-26/11/2016.
7. Nguyễn Khắc Hân Hoan (2013). Nghiên cứu tầm soát và chẩn 
đoán trước sinh bệnh alpha và beta thalassemia, Luận án tiến sỹ y 
học, Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
8. Nguyen NT, Sanchaisuriya K, Sanchaisuriya P, et al (2017). 
Thalassemia and hemoglobinopathies in an ethnic minority group in 
Central Vietnam: implications to health burden and relationship between 
two ethnic minority groups. J Community Genet. 8:221–228. 
9. Practice Committee of the American Society for Reproductive 
Medicine and the Society for Assisted Reproductive Technology (2018). 
The use of Preimplantation Genetic Testing for aneuploidy (PGT-A): a 
committee opinion. Fertil Steril 109:429-36.
10. Scott RT, Upham KM, Forman EJ, Zhao T and Treff NR (2013). 
Cleavage-stage biopsy significantly impairs human embryonic 
implantation potential while blastocyst biopsy does not: a randomized 
and paired clinical trial. Fertil Steril. 100:624-30. 
11. Sunkara SK, Antonisamy B, Selliah HY and Kamas MS (2017). 
Pre-term birth and low birth weight following preimplantation genetic 
diagnosis: analysis of 88 010 singleton live births following PGD and 
IVF cycles. Hum Reprod. 32:432-438. 
12. Weatherall DJ, Clegg JB (2001). Inherited hemoglobin disorders: an 
increasing global health problem. Bulletin World Health Organ 79:704–712
13. World Health Organization (2008). Worldwide prevalence of 
anaemia 1993–2005: WHO global database on anaemia, 
who.int/vmnis/anaemia/prevalence/en.

File đính kèm:

  • pdfchan_doan_dot_bien_di_truyen_don_gen_giai_doan_phoi_tien_lam.pdf