Cắt thùy phổi và nạo hạch qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ: an toàn và khả thi ?

109 trường hợp ung thư phổi: tuổi trung bình 59,18 ± 10,08 (31 – 80), trong đó 59 nam (54,1%), 50 nữ (45,9%). Kích thước u phổi: trung bình 3,23 ± 0,91 (1,2 – 5cm). Tổng cộng 419 vi trí hạch được phẫu thuật, 225 vị trí có hạch, phẫu thuật lấy hết 175 vị trí (77,7%), không hết 30 vị trí (13,3%). Thời gian phẫu thuật 128,8 ± 31,3 (70 – 220 phút), thời gian DLMP 3,1 ± 1,8 (2 – 14 ngày), thời gian nằm viện 5,9 ± 1,9 (4 – 18 ngày). Tai biến phẫu thuật: không tai biến 107 trường hợp (98,2%), 1 trường hợp rách tĩnh mạch đơn (0,9%), 1 trường hợp rách phế quản đối bên (0,9%). Có 3 trường hợp Chuyển mổ nội soi hỗ trợ (2,7%) do khó khăn khi nạo hạch và 1 trường hợp chuyển mở ngực (0,9%) do rách mạch máu lớn. Biến chứng hậu phẫu: 2 trường hợp dò khí kéo dài (1,8%), 1 trường hợp viêm phổi (0,9%), 1 trường hợp suy hô hấp phải thở máy (0,9%). Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch cho thấy nhiều ưu điểm. Tính khả thi và an toàn về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong điều trị ung thư cũng đã được nhiều tác giả chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu của chúng tôi cũng góp phần chứng minh những ưu điểm này

pdf 11 trang phuongnguyen 80
Bạn đang xem tài liệu "Cắt thùy phổi và nạo hạch qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ: an toàn và khả thi ?", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Cắt thùy phổi và nạo hạch qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ: an toàn và khả thi ?

Cắt thùy phổi và nạo hạch qua nội soi lồng ngực trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ: an toàn và khả thi ?
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 86 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ 
UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ: AN TOÀN VÀ KHẢ THI? 
Trần Minh Bảo Luân*, Nguyễn Hoài Nam* 
TÓM TẮT 
109 trường hợp ung thư phổi: tuổi trung 
bình 59,18 ± 10,08 (31 – 80), trong đó 59 nam 
(54,1%), 50 nữ (45,9%). Kích thước u phổi: trung 
bình 3,23 ± 0,91 (1,2 – 5cm). Tổng cộng 419 vi 
trí hạch được phẫu thuật, 225 vị trí có hạch, phẫu 
thuật lấy hết 175 vị trí (77,7%), không hết 30 vị 
trí (13,3%). Thời gian phẫu thuật 128,8 ± 31,3 
(70 – 220 phút), thời gian DLMP 3,1 ± 1,8 (2 – 
14 ngày), thời gian nằm viện 5,9 ± 1,9 (4 – 18 
ngày). Tai biến phẫu thuật: không tai biến 107 
trường hợp (98,2%), 1 trường hợp rách tĩnh mạch 
đơn (0,9%), 1 trường hợp rách phế quản đối bên 
(0,9%). Có 3 trường hợp Chuyển mổ nội soi hỗ 
trợ (2,7%) do khó khăn khi nạo hạch và 1 trường 
hợp chuyển mở ngực (0,9%) do rách mạch máu 
lớn. Biến chứng hậu phẫu: 2 trường hợp dò khí 
kéo dài (1,8%), 1 trường hợp viêm phổi (0,9%), 1 
trường hợp suy hô hấp phải thở máy (0,9%). Phẫu 
thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch 
cho thấy nhiều ưu điểm. Tính khả thi và an toàn 
về mặt kỹ thuật, hiệu quả trong điều trị ung thư 
cũng đã được nhiều tác giả chứng minh qua nhiều 
nghiên cứu. Nghiên cứu của chúng tôi cũng góp 
phần chứng minh những ưu điểm này. 
Từ khóa: phẫu thuật nội soi lồng ngực, cắt 
thùy phổi và nạo hạch, ung thư phổi. 
SUMMARY 
LOBECTOMY AND LYMPHADENECTOMY 
VIA VIDEO-ASSITED THORACOSCOPIC 
SURGERY IN TREATMENT NON- SMALL 
CELL LUNG CANCER: IS SAFE AND 
FEASIBILITY? 
109 cases of lung cancer: the mean age 
59.18 ± 10.08 (31-80), of which 59 male (54.1%), 
50 female (45.9%). The mean size of tumor: 3.23 
± 0.91 (1.2 - 5cm). A total of 419 lymph node 
stations were explored, 225 lymph node stations 
were shown to be there, 175 lympho node 
stations completely removed (77.7%), and 30 
stations not completely removed (13.3%). The 
mean operative time was 128.8 ± 31.3 (70 - 220 
min), the mean duration of chest drainage was 3.1 
± 1.8 (2 - 14 days) and of hospital stay was 5.9 ± 
1.9 (4 - 18 days). Intraoperative complications: 
107 cases no complication (98.2%), 1 case 
laceration of azygos vein (0.9%), 1 case 
laceration of ipsilateral main bronchus (0.9%). 
There were 3 cases switched to a-VATS (2.7%) 
due to difficulty in lympho nodal dissections and 
1 case switched to thoracotomy (0.9%) due to 
massive bleeding. Postoperative complications: 2 
cases prolonged air leak (1.8%), 1 case 
pneumonia (0.9%), 1 case respiratory failure 
requiring mechanical ventilation (0.9%). VATS 
lobectomy and lymphadenectomy shows many 
advantages. Technological feasibility and safety, 
and effectiveness in cancer control have also been 
demonstrated by numerous studies. Our research 
also contributes to these advantages.* 
Keywords: Video-Assited Thoracoscopic 
Surgery (VATS), Lobectomy and Lymphadenectomy, 
Lung cancer. 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Ung thư phổi là bệnh lý rất thường gặp 
trong dân số, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại 
* Bộ môn phẫu thuật Lồng Ngực – Tim Mạch, Đại học Y Dược TPHCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hoài Nam 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 87 
ung thư tại Việt Nam. Trước đây, phẫu thuật 
điều trị ung thư phổi được thực hiện bằng phẫu 
thuật mở ngực kinh điển, với vết mổ dài hơn 
15cm và banh các xương sườn để vào lồng ngực 
và các thùy phổi bị ung thư. Với vết mổ dài và 
thao tác banh xương sườn nên bệnh nhân rất đau 
sau phẫu thuật, thậm chí nhiều trường hợp đau 
dai dẳng kéo dài dù đã được phẫu thuật trước đó 
nhiều tháng. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa 
học kỹ thuật, sự ra đời của hệ thống thấu kính, 
camera nội soi và các dụng cụ phẫu thuật, thiết 
bị cắt và khâu phổi tự động đã tạo ra kỹ nguyên 
mới trong phẫu thuật. Đến năm 1992, cắt thùy 
phổi bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực lần đầu 
tiên được thực hiện thành công. Ngày nay, 
nhiều trung tâm trên thế giới đã áp dụng kỹ 
thuật này. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật thì cũng 
còn nhiều vấn đề: có nên nạo hạch triệt để hay 
chỉ lấy mẫu hạch, tính an toàn và khả thi của 
nạo hạch triệt để theo hệ thống,... được bàn cải 
nhiều trong phẫu thuật nội soi lồng ngực điều trị 
ung thư phổi. Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện 
nghiên cứu nhằm đánh giá tính khà thi và an 
toàn của phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy 
phổi và nạo hạch trong điều trị ung thư phổi 
không tế bào nhỏ. 
Mục tiêu nghiên cứu: 
Đánh giá tính khả thi và an toàn của phẫu 
thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi và nạo hạch 
trong điều trị ung thư phổi nguyên phát không tế 
bào nhỏ. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu: tiền cứu mô tả dọc, 
không nhóm chứng. 
Đối tượng nghiên cứu: tất cả bệnh nhân ung 
thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ được điều 
trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy 
phổi kèm nạo hạch tại BV Đại học Y Dược 
TPHCM và BV Phạm Ngọc Thạch từ 01/01/2012 
đến 31/12/2016. 
Chỉ định áp dụng cắt thùy phổi và nạo 
hạch bằng PT NSLN: ung thư phổi giai đoạn I, 
IIA, IIIA (T2a,N2) (Định giai đoạn ung thư phổi: 
phân loại TMN 7th Edition theo UICC hay AJCC 
2009); kích thước u nhỏ hơn 5m nằm ở ngoại 
biên, không xâm lấn mạch máu, thành ngực, rãnh 
liên thùy, cơ hoành và màng ngoài tim; bệnh 
nhân không xạ trị vùng ngực trước đó. 
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Tuổi và giới: 109 trường hợp ung thư phổi: 
tuổi trung bình 59,18 ± 10,08 (31 – 80), trong đó 
59 nam (54,1%), 50 nữ (45,9%). 
Đặc điểm của khối u phổi trên CT scan 
ngực có cản quang 
Vị trí u phổi: Phổi (P): thùy trên 22 trường 
hợp (20,2%), thùy giữa 14 trường hợp (12,8%) và 
thùy dưới 30 trường hợp (27,5%). Phổi (T): thùy 
trên 25 trường hợp (22,9%) và thùy dưới 18 
trường hợp (16,5%). 
Kích thước u phổi: trung bình 3,23 ± 0,91 
(1,2 – 5cm). 7 trường hợp u ≤ 2cm (6,4%), 24 
trường hợp u >2 – 3cm (22%), 78 trường hợp u 
>3 – 5cm (71,6%) 
Tình trạng rãnh liên thùy: 39 trường hợp 
thấy được trên CT scan (64,2%), 70 trường hợp 
không thấy được (35,8%) 
Đặc điểm hạch rốn phổi và trung thất 
trên CT scan: trong 109 bệnh nhân, có 419 vị trí 
hạch được khảo sát CT scan cho thấy 225 
(53,7%) vị trí phát hiện có hạch và 194 vị trí 
không có hạch. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 88 
Bảng 3.1: Vị trí và kích thước hạch trên CT scan 
Vị trí và kích thước 
U phổi phải (n=65) U phổi trái (n=44) 
Số bệnh nhân Tỷ lệ % 
Số bệnh 
nhân 
Tỷ lệ % 
Nhóm 2,4* <1 cm 26 86,7 5 100,0 
 ≥1 cm 4 13,3 0 0,0 
Nhóm 5,6 <1 cm - - 17 73,9 
 ≥1 cm - - 6 26,1 
Nhóm 7 <1 cm 42 84,0 16 84,2 
 ≥1 cm 8 16,0 3 15,8 
Nhóm 8,9 <1 cm 8 88,9 5 100,0 
 ≥1 cm 1 11,1 0 0,0 
Nhóm 10 <1 cm 37 78,7 31 83,8 
 ≥1 cm 10 21,3 6 16,2 
 *: bên trái chỉ có nhóm 4 
Phẫu thuật 
Bảng 3.2: Các yếu tố liên quan trong phẫu thuật 
Đặc điểm Số bệnh nhân Tỷ lệ % 
Dính phổi 
 Không 72 66,1 
 Dính ít 28 25,7 
 Dính nhiều 9 8,3 
Rãnh liên thùy 
 Hoàn toàn 53 48,6 
 Không hoàn toàn 42 38,5 
 Dính rãnh liên thuỳ 14 12,8 
Phương pháp phẫu thuật 
 Nội soi hoàn toàn 105 96,4 
 Chuyển NSLN hỗ trợ 1 3 2,7 
 Chuyển mổ mở 2 1 0,9 
Chiều dài vết mổ 3 
 <4 cm 15 14,3 
 4 - 6 cm 90 85,8 
Tai biến phẫu thuật 
 Không 107 98,2 
 Rách TM đơn 1 0,9 
 Rách phế quản đối bên4 1 0,9 
1: 1 trường hợp hạch 4L, 1 trường hợp 7R, 1 trường hợp 10R 
2: chảy máu do rách tĩnh mạch đơn khi nạo hạch 2R,4R 
3:Tính trên tổng 105 trường hợp mổ nội soi hoàn toàn 
4:xử lý được qua nội soi lồng ngực 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 89 
Bảng 3.3: Thời gian phẫu thuật, lượng máu mất, thời gian DLMP và nằm viện 
Đặc điểm Trung bình ĐLC Nhỏ nhất Lớn nhất 
Thời gian phẫu thuật (phút) 128,8 31,3 70 220 
Máu mất (mL) 165,1 95,6 50 600 
Thời gian DLMP (ngày) 3,1 1,8 2 14 
Thời gian nằm viện (ngày) 5,9 1,9 4 18 
Bảng 3.4: Biến chứng hậu phẫu 
Biến chứng hậu phẫu Số bệnh nhân Tỷ lệ % 
 Không 105 96.3 
 Dò khí kéo dài 2 1.8 
 Viêm phổi 1 0.9 
 Suy hô hấp, thở máy 1 0.9 
Bảng 3.5: Giai đoạn ung thư phổi trước và sau phẫu thuật 
Giai đoạn trên CT scan 
Giai đoạn sau mổ Độ chính xác 
của CT scan (%) IA IB IIA IIIA 
IA 19 5 0 0 
71,6% 
IB 6 28 4 4 
IIA 0 1 13 10 
IIIA 0 0 1 18 
Tổng số (109) 25 34 18 32 
Khả năng phẫu thuật lấy hết hạch: trong 109 trường hợp được phẫu thuật, có tổng cộng 419 
nhóm hạch về phương diện phẫu thuật được khảo sát: 110 vị trí không có hạch trong mổ, 279/309 vị trí 
lấy được hết hạch (90,3%), 30/309 không lấy được hết hạch (9,7%). 
Bảng 3.6: Khả năng phẫu thuật lấy hết các nhóm hạch trong mổ và trên CT scan 
Vị trí hạch 
Hạch thấy trên CT scan 
(N=225) 
Hạch thấy trong mổ (N =309) 
Phẫu thuật lấy hết Phẫu thuật lấy hết 
Không Có Không Có 
Bên phải 
 Nhóm 2,4 2 (6,7) 28 (93,3) 2 (5,1) 37 (94,9) 
 Nhóm 7 5 (10,0) 45 (90,0) 5 (8,8) 52 (91,2) 
 Nhóm 8,9 0 (0,0) 9 (100,0) 0 (0,0) 23 (100,0) 
 Nhóm 10 10 (21,3) 37 (78,7) 10 (15,6) 54 (84,4) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 90 
Bên trái 
 Nhóm 4 4 (80,0) 1 (20,0) 4 (40,0) 6 (60,0) 
 Nhóm 5,6 2 (8,7) 21 (91,3) 2 (6,5) 29 (93,5) 
 Nhóm 7 2 (10,5) 17 (89,5) 2 (7,1) 26 (92,9) 
 Nhóm 8,9 0 (0,0) 5 (100,0) 0 (0,0) 13 (100,0) 
 Nhóm 10 5 (13,5) 32 (86,5) 5 (11,4) 39 (88,6) 
Tổng số 30 (13,3) 175 (77,7) 30 (9,7) 279 (90,3) 
*Phép kiểm chính xác Fisher P = 0,017* P = 0,049* 
Nhận xét: trong 109 trường hợp, có 419 nhóm hạch được phẫu thuật nạo vét, khả năng phẫu thuật 
lấy hết hạch cao nhất tại hạch nhóm 8,9 cho cả hai bên (100%), kế đến là hạch nhóm 2,4 bên phải 
(94,9%) và hạch nhóm 7 hai bên (91,2% và 92,9%); khả năng phẫu thuật lấy hết hạch thấp nhất tại vị 
trí 4 bên trái (60%) và hạch nhóm 10 cả hai bên (84,4% và 88,6%). (P = 0,049). 
Bảng 3.7: Khả năng phẫu thuật lấy hết hạch và kích thước hạch trong mổ, trên CT scan 
Kích thước hạch 
Phẫu thuật lấy hết 
Giá trị p 
Không Có 
Phẫu thuật 
<0,001* <1 cm 8 (3,3) 236 (96,7) 
 ≥1 cm 22 (33,9) 43 (66,2) 
CT scan ngực 
 <1 cm 15 (8,0) 172 (92,0) 
<0,001* 
 ≥1 cm 15 (39,5) 23 (60,5) 
*Phép kiểm Chi bình phương 
Nhận xét: kích thước hạch đo được trên CT scan ngực hay trong mổ càng lớn thì khả phẫu thuật 
lấy được hết hạch càng thấp (P = 0,001). 
Bảng 3.8: Các yếu tố liên quan biến chứng sau mổ 
Yếu tố 
Số biến chứng 
(tỷ lệ %) 
OR (KTC 95%) Giá trị p 
Tuổi 
 ≤ 60 1 (1,8) 1 
 > 60 3 (5,8) 3,429 (0,345 – 34,041) 0,293 
Thời gian phẫu thuật (phút) 1,017 (0,988 - 1,047) 0,259 
Tình trạng phổi dính 
 Không 2 (2,8) 1 
 Dính ít 1 (3,6) 1,296 (0,113 - 14,89) 0,835 
 Dính nhiều 1 (11,1) 4,375 (0,336 - 53,8) 0,249 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 91 
Tình trạng rãnh liên thuỳ 
 Không hoàn toàn 3 (5,7) 1 
 Hoàn toàn 0 (0,0) - - 
 Dính rãnh liên thuỳ 1 (7,1) 1,282 (0,123 - 13,362) 0,835 
Lượng máu mất (mL) 1,003 (0,995 - 1,012) 0,46 
Tai biến trong mổ 
 Không 4 (3,7) 1 
 Có 0 (0,0) - - 
Chuyển NS hỗ trợ , mổ mở 
 Không 4 (3,8) 1 
 Có 0 (0,0) - - 
Bệnh kèm theo 
 Không 2 (2,7) 1 
 Có 2 (5,7) 2,182 (0,294 - 16,167) 0,445 
Hút thuốc lá 
 Không 3 (4,7) 1 
 Có 1 (2,2) 0,462 (0,047 - 4,591) 0,51 
Nhận xét: tuổi cao, phổi dính nhiều, rãnh liên thùy không hoàn toàn, thời gian phẫu thuật kéo dài, 
lượng máu mất hay chuyển mổ mở và có bệnh kèm theo không liên quan đến biến chứng hậu phẫu. 
IV. BÀN LUẬN 
4.1. Khả năng phẫu thuật lấy hết các 
nhóm hạch theo vi trí hạch 
Trong 109 trường hợp, có 419 nhóm hạch 
được phẫu thuật nạo vét, chúng tôi nhận thấy: khả 
năng phẫu thuật lấy hết hạch (thấy được trên CT 
scan ngực và trong mổ) cao nhất tại hạch nhóm 
8,9 cho cả hai bên (100%), kế đến là hạch nhóm 
2,4 bên phải (94,9%) và hạch nhóm 7 hai bên 
(91,2% và 92,9%); khả năng phẫu thuật lấy hết 
hạch thấp nhất tại vị trí 4 bên trái (60%) và hạch 
nhóm 10 cả hai bên (84,4% và 88,6%). (P = 
0,049). Các vị trí 2R, 4R, 8 và 9 là các vị trí dễ 
tiếp cận và xung quanh là khí quản, thực quản có 
thành dày, cứng chắc hơn so với các vị trí hạch 
nằm cạnh mạch máu nên khả năng lấy hết được 
hạch cao hơn so với các vị trí khác nằm sâu hơn 
như hạch nhóm 7; hay dễ tổn thương mạch máu 
lớn khi bóc tách như hạch nhóm 10; Khó khăn 
nhất là hạch nhóm 4 bên trái, để tiếp cận được 
nhóm hạch này cần phải cắt dây chằng động 
mạch ngay cửa sổ phế - chủ, nên khả năng phẫu 
thuật hạn chế nhất. Tuy nhiên, theo một số tác giả 
thì không nhất thiết phải tiếp cận và nạo triệt căn 
hạch nhóm này vì chỉ có 2-4% tìm thấy hạch di 
căn tại vị trí này khi khối u nằm thùy trên phổi 
trái, tỷ lệ này còn ít hơn nữa khi khối u nằm ở 
thùy dưới. Nghiên cứu của Manser R và CS 
(2005) với 1910 BN UTP, cho thấy khả năng nạo 
hạch triệt để là 97% của phổi phải và 95% của 
phổi trái. Theo Miller Y.E (2006) các khối u phổi 
phải tỷ lệ nạo hạch triệt để ở chặng hạch N2 là 
96%, nhưng khối u phổi trái tỷ lệ này giảm còn 
88%. Nghiên cứu của Turna A. và cs (2007) cho 
biết: phổi phải, khi có u thùy trên, tỷ lệ lấy được 
hạch vị trí số 2 và 4 lên tới 96,5%; khi u ở thùy 
dưới, tỷ lệ lấy được hạch số 7 là 88,1%. Bên phổi 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 92 
trái, khi khối u ở thùy trên, tỷ lệ lấy được hạch số 
5 và 6 là 92,5%; khi u thùy dưới, tỷ lệ lấy được 
hạch là 96,0%. 
Ngoài tỷ lệ phẫu thuật nạo vét triệt để thành 
công cho từng vị trí hạch, một số tác giả còn báo 
cáo về số vị trí nhóm hạch nạo vét triệt để được 
trong mổ. Theo Scott W. J. và cs (2010), tổng số vị 
trí hạch vét được trong mổ là 4,3. Tác giả Marty - 
Ane Ch. H. và cs (2013) cho biết số lượng hạch N2 
vét được là 14,6 (từ 5 đến 44 hạch). Tác giả Lee P. 
C. và cs (2013) báo cáo kết quả phẫu thuật nạo triệt 
căn các nhóm hạch cho bệnh nhân ung thư phổi 
không tế bào nhỏ, với giai đoạn trước mổ từ I đến 
III, cho thấy, số vị trí vét được hạch N1 là 1,4 ± 0,5, 
hạch N2 là 1,9 ± 0,7. 
4.2. Khả năng phẫu thuật lấy hết hạch 
theo kích thước hạch trong mổ 
Kết quả của chúng tôi cho thấy, trong 109 
bệnh nhân, có 225 vị trí hạch thấy được trên CT 
scan, 187 vị trí có hạch ≤ 1cm, phẫu thuật lấy hết 
đạt 92%, và 38 vị trí có hạch ≥ 1cm, khả năng 
phẫu thuật lấy hết chỉ 60,5%. So với hạch được 
tìm thấy trong mổ, có 309 vị trí có hạch được 
phẫu thuật nạo vét, 244 vị trí có hạch ≤ 1cm, tỷ lệ 
phẫu thuật lấy hết 96,7%, và 65 vị trí có hạch ≥ 
1cm, tỷ lệ lấy hết chỉ 66,2%. Qua đó, chúng tôi 
nhận thấy kích thước hạch trên CT scan hay trong 
mổ càng lớn thì khả phẫu thuật lấy được hết hạch 
càng thấp. (P = 0,001). Tác giả Nguyễn Khắc Kiểm 
(2016) với 282 BN, khả năng nạo hạch triệt để giảm 
dần theo kích thước, kích thước hạch càng lớn khả 
năng xâm lấn nhiều nên nạo triệt để càng khó, đặc 
biệt những hạch xâm lấn mạch máu. Khả năng nạo 
triệt để cao đạt 97,9% ở nhóm hạch có kích thước ≤ 
10 mm; hạch >10 -20 mm tỷ lệ này giảm còn 
91,4% và khi hạch lớn > 20 mm thì chỉ còn 80,0% 
được nạo vét triệt để (P = 0,000). 
Hiện tại, chúng tôi không tìm thấy nhiều 
thông tin của các tác giả nước ngoài báo cáo về 
vấn đề này, đa số các tác giả xoay quanh vấn đề 
có nên phẫu thuật nạo hạch triệt để theo bản đồ 
hạch hay chỉ cần lấy bỏ từng hạch; và dựa vào tỷ 
lệ sống còn làm thước đo cho hiệu quả của hai 
phương án trên, mà không thấy đề cập đến khả 
năng phẫu thuật lấy được hết và không hết hạch 
có liên quan đến các tính chất của hạch hay 
không. Theo tác giả Zongren G (2009), với 403 
trường hợp, ghi nhận phẫu thuật nạo hạch đạt triệt 
để 93,1%; không triệt để là 6,9%; tỷ lệ tai biến ở 
mức chấp nhận được 5% và khả năng nạo hạch 
triệt để phụ thuộc vào vị trí của từng nhóm hạch. 
Tác giả Zhi X.Y (2010) trong một báo cáo phẫu 
thuật cắt thùy phổi kèm nạo hạch một cách hệ 
thống tại các vị trị hạch cho thấy tỷ lệ triệt để cao 
95,7%; không triệt để 4,3%. 
Ngoài ra, có tác giả còn cho rằng chỉ cần 
lấy bỏ những hạch (+), còn những hạch nhỏ được 
coi là (−) thì không cần phải nạo vét để tránh 
nguy cơ tai biến. Tuy nhiên, các tác giả Nhật Bản 
với quan điểm tích cực, chủ động nạo hạch dự 
phòng một cách hệ thống tại tất cả các vị trí hạch 
theo bản đồ, đã chứng minh trên thực tế những 
hạch có kích thước 5 - 10mm được cho là (−) sau 
khi được phẫu thuật vẫn thấy 12 - 20% là những 
hạch (+). 
4.3. Tai biến trong mổ, chuyển PTNS hỗ 
trợ hay mổ mở 
Tai biến nguy hiểm nhất trong mổ thường 
là chảy máu lượng lớn do tổn thương mạch máu 
phổi. Trong PTNS, đường mổ nhỏ nên sẽ gây khó 
khăn cho phẫu thuật viên kiểm soát chảy máu. 
Tuy nhiên, nếu phẫu thuật được tiến hành bởi 
phẫu thuật viên nhiều kinh nghiệm, nguy cơ chảy 
máu lượng lớn ít xảy ra hơn, nhờ khả năng xử lý 
chảy máu của họ trong lúc phẫu thuật. Khi bóc 
tách mạch máu hay nạo các nhóm hạch gần mạch 
máu lớn, nếu có biến chứng chảy máu do tổn 
thương các nhánh mạch máu phổi, có thể kiểm 
soát bằng cách dùng kẹp gạc đè ép nơi chảy máu 
tạm thời và sau đó cố gắng cầm máu qua PTNS. 
Tuy nhiên, nếu chảy máu nhiều và lượng lớn, 
theo tác giả Todd Demmy, không nên do dự mà 
phải chuyển mổ mở ngay. 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 93 
 Bảng 4.1: Tỷ lệ chuyển mổ mở của một số tác giả 
Tác giả 
Số bệnh nhân 
Chuyển mổ mở 
Chảy máu nặng (%) Nguyên nhân khác (%) 
Kim R. H. và cs (2010) 595 0 0 
Kwhanmien Kim (2010) 740 1,4 3,5 
Liang C. và cs (2013) 382 1,6 4,9 
Walker W. S. và cs (2003) 179 3,3 7,9 
Gonzalez (2011) 200 5 9,5 
Amer K. và cs (2011) 156 8,3 6,4 
Chúng tôi 109 0,9 2,7 
Theo Shigeki Sawada, nguyên nhân của 
chuyển mổ mở được chia làm hai nhóm: 
- Nhóm 1: các nguyên nhân liên quan khó 
khăn kỹ thuật như: chảy máu khi bóc tách, chảy 
máu do staplers bị lỗi khi cắt mạch máu 
- Nhóm 2: các nguyên nhân khác không 
liên quan đến kỹ thuật: hạch dính, rãnh liên thùy 
không hoàn toàn, phổi dính. 
Trong 109 trường hợp của chúng tôi: 
1. Chỉ 1 trường hợp chảy máu lượng lớn 
do rách TM đơn khi phẫu tích nạo hạch nhóm 2R, 
4R đòi hỏi phải mở ngực và 1 trường hợp rách 
phế quản gốc đối bên xữ lý được qua nội soi. 
2. Có 3 trường chuyển nội soi hổ trợ trong đó: 
1 trường hợp xảy ra khi nạo hạch nhóm 4L 
do vị trí giải phẫu nằm sâu, cần nhiều dụng cụ 
banh vén và nhìn trực tiếp để thao tác; khi phẫu 
thuật trường hợp này chúng tôi nhận thấy, dùng 
nhiều dụng cụ nội soi cùng lúc gây khó khăn cho 
góc quan sát của camera vì bị che khuất bởi các 
dụng cụ dùng để banh vén cùng lúc. 
1 trường hợp nạo hạch nhóm 7R do hạch 
dính sát phần màng của phế quản và trường hợp 
này được phẫu thuật chỉ vài ngày sau trường hợp 
rách phế quản đối bên trước đó, được chúng tôi 
xử lý tốt qua nội soi, tâm lý lo ngại vẫn còn nên 
phẫu thuật viên chuyển nội soi hỗ trợ cho an toàn 
1 trường hợp 10R do hạch dính chặt mạch 
máu lớn rốn phổi. Theo chúng tôi, khái niệm nội 
soi hỗ trợ hay chuyển mổ mở chỉ mang tính chất 
tương đối, vì nếu vẫn không thể thực hiện được 
qua nội soi hỗ trợ, sẽ tiếp tục mở rộng thêm vết 
mổ nhỏ cho đến khi thực hiện được. Lúc đó độ 
dài của vết mổ gần như được gọi là mở ngực kinh 
điển nhằm đảm bảo hiệu quả điều trị tối đa cho 
bệnh nhân. 
4.4. Các yếu tố liên quan biến chứng 
sau mổ: 
Biến chứng sau mổ của phẫu thuật nội soi 
cắt thùy phổi và nạo hạch là một vấn đề được 
nhiều tác giả quan tâm, được xem thước đo để 
đánh giá tính an toàn của phẫu thuật nội soi 
trong điều trị ung thư phổi. Dù có nhiều bước 
tiến về phương tiện và kỹ thuật trong gây mê, 
phẫu thuật và hồi sức, chăm sóc người bệnh 
nhưng tỷ lệ biến chứng sau mổ vẫn chưa khả 
quan. Theo Hiệp hội phẫu thuật lồng ngực Hoa 
Kỳ, từ 1999 đến 2006, với 49.029 bệnh nhân 
được phẫu thuật lồng ngực, trong đó 67,0% cắt 
thùy phổi và nạo hạch, tỷ lệ biến chứng sau mổ 
32%, trong đó xì khí kéo dài trên 5 ngày 8,0%, 
viêm phổi 3,8%, xẹp phổi 3,6%. Kết quả của 
chúng tôi, có 4 trường hợp (3,6%), trong đó 2 
trường hợp xì khí kéo dài chỉ cần điều trị nội 
khoa, 1 trường hợp viêm phổi đáp ứng với điều 
trị kháng sinh, 1 trường hợp suy hô hấp phải 
thở máy kéo dài sau mổ, không có trường hợp 
nào tử vong trong hay sau mổ. Khi phân tích 
biến chứng, chúng tôi nhận thấy không có mối 
liên quan có ý nghĩa thống kê với các yếu tố 
như: tuổi cao, tình trạng dính phổi nhiều, rãnh 
liên thùy không hoàn toàn, thời gian phẫu thuật 
kéo dài, lượng máu mất hay chuyển mổ mở và 
có bệnh kèm theo. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 94 
Trong nghiên cứu của Cù Xuân Thanh 
(2002) n = 246 BN chia ra 2 nhóm BN > 60T và 
nhóm ≤ 60T cho thấy tỷ lệ tai biến và tử vong của 
hai nhóm không khác biệt nhiều. Nghiên cứu của 
Nguyễn Hoàng Bình, bệnh nhân có rãnh liên thùy 
không hoàn toàn có tỷ lệ biến chứng cao hơn so 
nhóm bệnh nhân có rãnh liên thùy hoàn toàn 
(11.9% so với 6.1%; và tỷ lệ biến chứng ở bệnh 
nhân phổi không dính thấp hơn so với nhóm bệnh 
nhân có phổi dính (10.7% so với 8.3%). Tuy 
nhiên, cả hai đều khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê. Hiroaki Nomori và cs nghiên cứu kết 
quả PTNS cắt thùy phổi và nạo hạch ở hai nhóm 
bệnh nhân có rãnh liên thùy hoàn toàn và không 
hoàn toàn. Ông nhận thấy không có sự khác biệt 
về thời gian phẫu thuật, lượng máu mất trong 
phẫu thuật, tỷ lệ biến chứng và tử vong giữa hai 
nhóm, đặc biệt là biến chứng dò khí. Báo cáo của 
Yamatoma K. và cs (2010), phẫu thuật cắt phổi 
và nạo hạch cho 502 bệnh nhân, ghi nhận biến 
chứng sau mổ như sau: biến chứng chung 28%, 
trong đó biến chứng hô hấp chiếm tỷ lệ 22,9%, 
nhiều nhất là xì khí kéo dài trên 7 ngày 16,9%, 
viêm phổi 1,8%, suy hô hấp 0,3%. 
Qua kết quả của các tác giả trên, biến chứng 
thường gặp và nhiều nhất là xì khí kéo dài, điều 
này cũng phù hợp với kết quả của chúng tôi. 
Theo tác giả Elseyed H. và cs (2012) cho rằng: 
biến chứng xì khí kéo dài là nguyên nhân kéo dài 
thời gian nằm viện sau mổ (13 ngày so với 7 
ngày, p < 0,0001), có bệnh phổi tắc nghẽn mạn 
tính kèm theo và phổi dính là yếu tố làm tăng tỷ 
lệ biến chứng này. 
V. KẾT LUẬN 
Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi 
và nạo hạch cho thấy nhiều ưu điểm: vết mổ nhỏ, 
thẫm mỹ cao, không banh kéo xương sườn nên ít 
đau sau mổ, thời gian phục hồi và nằm viện 
ngắn Hiện nay, kỹ thuật này đang được áp 
dụng rộng rãi và tính khả thi và an toàn về mặt kỹ 
thuật, hiệu quả trong điều trị ung thư cũng đã 
được nhiều tác giả chứng minh qua nhiều nghiên 
cứu. Nghiên cứu của chúng tôi cũng góp phần 
chứng minh những ưu điểm này. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Alper T (2016). Lymph Node 
Dissection in Surgery for Lung Cancer: 
Comparison of Open vs. Video-Assisted vs. 
Robotic-Assisted Approaches. Ann Thorac 
Cardiovasc Surg; 22: 284–290. 
2. Amer K, Khan A Z, Vohra H A 
(2011), Video - assisted thoracic surgery of major 
pulmonary resections for lung cancer: the 
Southampton experience, European Journal of 
Cardio–thoracic Surgery, 39, p. 173 - 179. 
3. Boffa D J, Allen M S, Grab J D, et al. 
(2008). Data from The Society of Thoracic 
Surgeons General Thoracic Surgery database: 
The surgical management of primary lung 
tumors, The Journal of Thoracic and 
Cardiovascular Surgery, 135(2), p. 247 - 254. 
4. Cù Xuân Thanh (2002). Nghiên cứu 
đặc điểm lâm sàng, X-quang phổi qui ước, các 
type mô bệnh học và điều trị phẫu thuật ung thư 
phổi ở người trên 60 tuổi, Luận án tiến sĩ y học, 
Học viện Quân y. 
5. Davis C J and Filipi C J (1997). A 
history of Endoscopy Surgery. Princles of 
Laparoscopic Surgery. Springer – Verlag. 
1997: 3-20. 
6. Demmy T L & Jackie J C (1999). 
Minimally Invasive Lobectomy Directed Toward 
Frail and High-Risk Patients: A Case-Control 
Study, Ann Thorac Surg, 68, pp 194 –200. 
7. Gonzalez D, de la Torre M, Paradela M, 
Ricardo F, Delgado M, Garcia J et al (2011). Video-
assisted thoracic surgery lobectomy: 3-year initial 
experience with 200 cases, European Journal of 
Cardio-thoracic Surgery, 40, pp 21—28. 
CẮT THÙY PHỔI VÀ NẠO HẠCH QUA NỘI SOI LỒNG NGỰC TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 95 
8. Kim R H, Takabe K, Lockhart C G 
(2010). Outcomes of a hybrid technique for video 
- assisted thoracoscopic surgery (VATS) 
pulmonary resection in a community setting, J 
Thorac Dis, 2, p. 210 - 214. 
9. Kim K, Kim H K, Park J S, Chang S 
W, Choi Y S, Kim J et al (2010). Video-Assisted 
Thoracic Surgery Lobectomy: Single Institutional 
Experience With 704 Cases, Ann Thorac Surg, 
89, pp 2118 –2122. 
10. Kohno T, Sakamaki Y, Kido T, 
Yasukawa M (2012). Lobectomy with extended 
lymph node dissection by video assisted thoracic 
surgery for lung cancer. Surg. Endosc., 11, pp. 
354-58. 
11. Lee P C, Nasar A, Port J L, et al 
(2013). Long - Term Survival After Lobectomy 
for Non - Small Cell Lung Cancer by Video - 
Assisted Thoracic Surgery Versus Thoracotomy, 
Ann Thorac Surg, 96, p. 951 - 961. 
12. Liang C, Wen H, Guo Y, et al (2013). 
Severe intraoperative complications during 
VATS Lobectomy compared with thoracotomy 
lobectomy for early stage non - small cell lung 
cancer, J Thorac Dis, 5(4), p. 513 - 517. 
13. Manser R, Graham, Wright G, Hart D, 
et al (2005). Surgery for early stage non-small 
cell lung cancer. Cochrane Database of 
Systematic Reviews, (1): CD004699. 
14. Marty A C H, Canaud L, Solovei L, et 
al (2013). Video - assisted thoracoscopic 
lobectomy: an unavoidable trend? A retrospective 
single-institution series of 410 cases, 
Interactiveweighting, Annals of Surgical 
Innovation and Research, 4(1), p. 1 - 6. 
15. Miller Y E (2006). Pulmonary 
Neoplasms. Cecil Textbook of Medicine, Eds by 
Bennett J.C., Plum F, 20th ed, W.B. Saunders 
Company, Philadelphia, pp. 436-41. 
16. Nguyễn Hoàng Bình (2015). Đánh giá 
tính khả thi và hiệu quả phẫu thuật nội soi cắt 
thùy phổi trong bệnh lý phổi. Luận án tiến sĩ y 
học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. 
17. Nguyễn Khắc Kiểm (2016). Nghiên 
cứu nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều 
trị ung thư phổi nguyên phát giai đoạn I, II, IIIA. 
Luận án tiến sĩ y học, trường Đại học Y Hà Nội. 
18. Nomori H, Ohtsuka T, Horio H, 
Naruke T & i Suemasu K (2003). Thoracoscopic 
Lobectomy for Lung Cancer With a Largely 
Fused Fissure, Chest, 123, pp 619–622. 
19. Sawada S, Komori E & Yamashita 
M (2009). Evaluation of video-assisted 
thoracoscopic surgery lobectomy requiring 
emergency conversion to thoracotomy, 
European Journal of Cardio-thoracic Surgery, 
36, pp 487- 490. 
20. Scott W J, Matteotti R S, Egleston B 
L, et al (2010). A comparison of perioperative 
outcomes of Video - Assisted Thoracic Surgical 
(VATS) Lobectomy with open thoracotomy and 
lobectomy: Results of an analysis using 
propensity score based. 
21. Takizava T, et al (2007). Mediastinal 
lymph node metastasis in patient with clinical 
stage I - II peripheral non-small-cell lung cancer. 
J. Thorac Cardiovase Surg, vol 133, No 2, pp. 
248-52. 
22. Turna A, Solak O, Kilicgun A, et al 
(2007). Is lobe-specific lymph node dissection 
appropriate in lung cancer patients undergoing 
routine mediastinoscopy?, Thorac Cardiovasc 
Surg, 55(2), p. 112 - 119. 
23. Walker W S, Codispoti M, Soon S Y, 
et al (2003). Long – term outcomes following 
VATS lobectomy for non - small cell 
bronchogenic carcinoma, European Journal of 
Cardio – thoracic Surgery, 23, p. 397 - 402. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 96 
24. Yamamoto K, Ohsumi A, Kojima F, 
et al (2010). Long – Term Survival After Video 
- Assisted Thoracic Surgery Lobectomy for 
Primary Lung Cancer, Ann Thorac Surg, 89, p. 
353 - 359. 
25. Zhi X Y (2010). Surgical treatment of 
lung cancer in patients over 70 years of age. Lung 
cancer: Journal of the international association 
for the study of lung cancer 9th world conference 
on lung cancer, Tokyo, Japan, pp. 145. 
26. Zongren G, Mingyao C, Shen W 
(2009). Surgical treatment of lung cancer for 
elderly patients. Lung cancer: Journal of the 
international association for the study of lung 
cancer 9th world conference on lung cancer, 
Tokyo, Japan, pp. 145. 

File đính kèm:

  • pdfcat_thuy_phoi_va_nao_hach_qua_noi_soi_long_nguc_trong_dieu_t.pdf