Cập nhật theo dõi và đánh giá huyết động sau mổ
1. TỔNG QUAN
Huyết động dao động thƣờng đƣợc hiểu là thay đổi huyết áp bất thƣờng hoặc không ổn định, chủ yếu là biểu hiện tụt huyết áp. Trong bài này, chúng tôi muốn cập nhật một khái niệm tổng quát hơn rằng sự dao động huyết động khi các đấu hiệu tƣới máu toàn thân hoặc tƣới máu vùng là không đủ để hỗ trợ chức năng các tạng trong cơ thể. Cần xác định sự tƣới máu tạng là đáp ứng đủ nhu cầu của ngƣời bệnh ở giai đoạn trong và sau mổ
Bạn đang xem tài liệu "Cập nhật theo dõi và đánh giá huyết động sau mổ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
Tóm tắt nội dung tài liệu: Cập nhật theo dõi và đánh giá huyết động sau mổ
CẬP NHẬT THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ 53 CẬP NHẬT THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ Đoàn Đức Hoằng*, Lê Thị Hương*, Ngô Thị Trang*, Lê Vĩnh Khoa*, Đặng Quốc Kha* 1. TỔNG QUAN Huyết động dao động thƣờng đƣợc hiểu là thay đổi huyết áp bất thƣờng hoặc không ổn định, chủ yếu là biểu hiện tụt huyết áp. Trong bài này, chúng tôi muốn cập nhật một khái niệm tổng quát hơn rằng sự dao động huyết động khi các đấu hiệu tƣới máu toàn thân hoặc tƣới máu vùng là không đủ để hỗ trợ chức năng các tạng trong cơ thể. Cần xác định sự tƣới máu tạng là đáp ứng đủ nhu cầu của ngƣời bệnh ở giai đoạn trong và sau mổ. Theo dõi và kiểm soát các thông só huyết động nhƣ tần số tim, huyết áp, áp lực tĩnh mạch trung tâm, áp lực động mạch phổi, áp lực động mạch phổi bít, cà cung lƣợng tim giúp đánh giá và kiểm soát huyết động ở ngƣời bệnh. Những biến đổi bất thƣờng các thông số huyết động có thể làm dao động huyết động; và nếu kiểm soát đƣợc những biến đổi này sẽ giúp cải thiện tƣới máu tạng. ngày nay, có 2 thông số giúp phản ánh sự tƣới máu tạng một cách trực tiếp nhất là cung lƣợng tim và chỉ số bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2. Có nhiều bệnh nhân sau mổ mặc dù tăng cung cấp oxy (cung lƣợng tim tăng đáng kể với chỉ số tim tăng trên 4,5 lít/phút/m2) nhƣng vẫn biểu hiện tình trạng huyết động không ổn định. Lý do là những trƣờng hợp này thƣờng có tăng nhu cầu đòi hỏi sự tƣới máu quá mức để đáp ứng nhu cầu tăng cao cần thiết cho giai đoạn hồi phục sau mổ. chỉ số S O2 giúp xác định cân bằng giữa cung cấp và cầu tiêu thụ oxy của cơ thể do đó giúp trả lời đƣợc câu hỏi khi nào thì cần can thiệp điều trị để duy trì tình trạng huyết động ổn định sau mổ. 2. NGUY CƠ TỔN THƢƠNG HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ Điều quan trọng là các bác sĩ cần phải tìm hiểu những nguy cơ có từ trƣớc phẫu thuật hoặc nguy cơ do can thiệp phẫu thuật gây ra để có kế hoạch điều trị kịp thời giai đoạn trong và sau mổ. tuy nhiên, có những bệnh nhân trƣớc mổ không có nguy cơ và chỉ đƣợc phẫu thuật nhỏ thì ngay cở các thủ thuật gây mê hồi sức không hợp lý cũng có thể gây ra tình trạng huyết động không ổn định. Thông thƣờng, các bác sĩ gây mê hồi sức sẽ đƣợc thông tin chi tiết hơn về tình trạng trƣớc mổ đo đó có sự chuẩn bị tốt hơn để đối phó với tình trạng huyết động không ổn định trong những trƣờng hợp bệnh nhân mắc bệnh tim mạch đáng kể sắp phải trải qua các cuộc mổ lớn; trong khi đó họ thƣờng không có sự chuẩn bị kỹ càng trong những trƣờng hợp tình trạng bệnh nhân trƣớc mổ tƣơng đối tốt sắp phải trải qua các cuộc mổ nhỏ. * 3. ĐÁNH GIÁ HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ Dựa vào phƣơng trình tƣơng quan sau giữa huyết áp và cung lƣợng tim để nhận biết tình trạng huyết động không ổn định: MAP = SVR x CO + CVP (Trong đó MAP là huyết áp động mạch trung bình, SVR là sức cản mạch máu hệ thống, CO là cung lƣợng tim, và CVP là áp lực tĩnh mạch trung tâm). Phƣơng trình này cho thấy ở ngƣời có huyết áp bình thƣờng không nhất thiết là có cung lƣợng tim đầy đủ.Để xác định tình trạng huyết động không ổn định cần phải theo dõi cả huyết áp lẫn tình trạng tƣới máu toàn thể. Tụt huyết áp thƣờng đƣợc ngƣời thầy thuốc hiểu là huyết động không ổn định nhiều nhất. Huyết áp đầy đủ có thể đảm bảo tƣới máu vành và tƣới máu não [3], [8]; tuy nhiên, cũng với giá trị huyết áp này có thể không đảm bảo tƣới máu các cơ quan khác nhƣ thận và mạc treo ruột, và sự tƣới * Bệnh viện Trung ương Huế gười chịu trách nhiệm khoa học: Ths. Đoàn Đức Hoằng Ngày nhận bài: 18/06/2016 - Ngày Cho Phép Đăng: 18/08/2016 Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng GS.TS. Lê Ngọc Thành PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 54 máu này không thể đo đƣợc một cách trực tiếp. Theo dõi chỉ số đánh giá sự tƣới máu toàn thể (cung lƣợng tim CO, S O2) giúp biết đƣợc các tạng nhƣ thận và mạc treo ruột đƣợc tƣới máu đầy đủ. Có nhiều bệnh nhân vẫn duy trì huyết áp nhƣng có giá trị cung lƣợng tim không đầy đủ do tình trạng co mạch quá mức của các tiểu động mạch đi ra từ cầu thận, hậu quả làm tổn thƣơng chức năng thận [6]. Tuần hoàn mạc treo ruột thậm chí còn nhạy cảm hơn với tình trạng co mạch quá mức này [11] và cung lƣợng tim cần thiết đảm bảo cho tƣới máu thận và mạc treo ruột.Tuy nhiên, khi giá trị chỉ số tim thấp hơn bình thƣờng cần phải đƣợc đánh giá lại kỹ. Hơn nữa, cần cẩn thận đánh giá nhiều chỉ điểm tƣới máu khác nhƣ cung lƣợng tim, CO, S O2, và nồng độ lactate máu. 4. THEO DÕI HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ Huyết áp Trƣờng hợp bệnh nhân huyết động không ổn định cần theo dõi huyết áp xâm nhập để đảm bảo tính chính xác và liên tục kịp thời. Thƣờng sử dụng catheter đặt trong động mạch quay để theo dõi huyết áp, ngoài ra, có thể sử dụng động mạch đùi, động mạch cánh tay, và động mạch nách. Hệ thống theo dõi cần phải đƣợc cân chuẩn mức 0 và cân chuẩn chính xác. Có thể so sánh bằng cách đo giá trị huyết áp ngoại vi và huyết áp trung tâm tại vị trí động mạch chủ (áp lực tâm thu động mạch chủ thấp hơn ở động mạch quay). Tuy nhiên, có 2 trƣờng hợp quan trọng là ngay sau khi cai tuần hoàn ngoài cơ thể trong phẫu thuật tim và trƣờng hợp nhiễm trùng, thì giá trị áp lực tâm thu đo ở động mạch quay có thể bị thấp do sai lệch [7]. Các hệ thống theo dõi huyết động giúp cung cấp cho ngƣời thầy thuốc 03 giá trị áp lực: tâm trƣơng, trung bình và tâm thu. Trong các giá trị áp lực này, huyết áp trung bình là ít bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố gây nhiễu nhất vàlà giá trị áp lực tƣơng quan trực tiếp với sự tƣới máu tạng. Huyết áp tâm thu thƣờng đƣợc chú ý nhiều nhất nhƣng là thông số cung cấp đƣợc ít thông tin nhất. Cung lƣợng tim Việc theo dõi huyết áp xâm nhập là khá phổ biến ở những bệnh nhân phẫu thuật vốn là những đối tƣợng có nguy cơ cao xảy ra tình trạng huyết dộng không ổn định, còn theo dõi cung lƣợng tim CO là ít sử dụng. Nếu không đo cung lƣợng tim, việc xác định hội chứng cung lƣợng tim thấp trên lâm sàng là rất khó khăn nếu không có dấu hiệu tụt huyết áp [1], [19]. Catheter động mạch phổi giúp đo cung lƣợng tim CO theo kỹ thuật pha loãng nhiệt, đồng thời đo áp lực tĩnh mạch trung tâm CVP, áp lực động mạch phổi PAP và áp lực động mạch phổi bít PAWP. Những tiến bộ gần đây ứng dụng nguyên lý pha loãng nhiệt cho phép đo cung lƣợng tim liên tục. Hơn nữa, đo bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2 bằng cách lấy mẫu máu qua catheter động mạch phổi có thể thay thể bằng kỹ thuật đo ngắt quãng hoặc đo liên tục bằng công nghệ sợi quang học. Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn (S O2) Việc theo dõi cung lƣợng tim vẫn có hạn chế vì định nghĩa khi nào chỉ số tim đầy đủ, đáp ứng nhu cầu vẫn chƣa rõ ràng. Trƣờng hợp có chỉ số tim CI bình thƣờng, thông thƣờng là CI ≥ 2.5 L/phút/m2, thì đây chỉ là một chỉ điểm rất sơ bộ về tình trạng tƣới máu toàn thể. Trong khi đó, theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2là phƣơng tiện hợp lý để đánh giá cung lƣợng tim có đáp ứng đầy đủ nhu cầu của cơ thể hay không. Theo nguyên lý Fick, chúng tan biết rằng nếu việc cung cấp oxy DO2 không đầy đủ thì giá trị S O2 sẽ giảm thấp trừ khi có biểu hiện giảm đồng thời tiêu thụ oxy VO2. Việc cung cấp oxy phụ thuộc vào nồng độ hemoglobin Hb, và sự oxy hóa máu động mạch là những yếu tố ổn định (hoặc duy trì không thay đổ) cho nên nếu S O2 thấp (hoặc giảm <65-70%) là dấu chỉ điểm cung lƣợng tim không đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ oxy. Về nguyên tắc, để đo lƣờng bão hòa oxy máu tĩnh mạch S O2 thì cần phải lấy mẫu máu trong động mạch phổi, vì vậy cần phải đặt catheter động mạch phổi. Tuy nhiên, có thể tiến hành đơn giản hơn bằng cách đo lƣờng bão hòa oxy máu tĩnh mạch trung tâm ScvO2 có thể giúp đánh giá biến thiên giá trị S O2 và giúp CẬP NHẬT THEO DÕI VÀ ĐÁNH GIÁ HUYẾT ĐỘNG SAU MỔ 55 hƣớng dẫn điều trị ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết [10]. Trong một số trƣờng hợp bệnh nhân có huyết áp bình thƣờng nhƣng cung lƣợng tim không đủ, và ngƣợc lại đôi khi ngƣời bệnh có huyết áp bất thƣờng nhƣng vẫn có cung lƣợng tim đầy đủ. Theo dõi bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2 hỗ trợ ngƣời thầy thuốc xác định các trƣờng hợp này. Huyết áp tâm thu tụt có thể biểu hiện tình trạng tƣới máu kém. Tuy nhiên, tụt huyết áp cũng có thể biểu thị tình trạng giãn mạch ngoại biên và do đó cải thiện tƣới máu. Các liệu pháp điều trị là hoàn toàn khác nhau trong hai trƣờng hợp này. Nếu huyết áp giảm xuống 20mmHg so với trƣớc nhƣng giá trị bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2 không biến đổi hoặc vẫn còn trong giá trị bình thƣờng thì không cần can thiệp điều trị. Tuy nhiên, nếu huyết áp cũng giảm tƣơng đƣơng nhƣng kéo theo giá trị S O2 giảm thấp so với trƣớc hoặc biến đổi ngoài giới hạn bình thƣờng thì cần phải có can thiệp điều trị kịp thời (bảng 1). Bảng 1. Vai trò chỉ số S O2 trong đánh giá biến đổi huyết áp Biến cố Tụt HA + S O2 bình thƣờng Tụt HA + S O2 giảm thấp Huyết áp HA giảm 20mmHg HA giảm 20mmHg S O2 S O2 = 70% S O2 = 45% Chẩn đoán HA đáp ứng nhu cầu HA không đáp ứng nhu cầu Điều trị Không can thiệp Cần điều trị kịp thời Ngƣợc lại, khi cung lƣợng tim giảm thấp thƣờng biểu thị tình trạng cung cấp oxy không đầy đủ cho mô cơ quan. Tuy nhiên, nếu giá trị S O2 đo đƣợc trong cùng thời điểm còn duy trì giới hạn bình thƣờng (bệnh nhân hạ thân nhiệt), thì với cung lƣợng tim 2,1 lít/phút vẫn đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu thụ oxy của mô. Khuyến cáo không cần thiết can thiệp điều trị trong trƣờng hợp cung lƣợng tim giảm thấp nhƣng có giá trị S O2 đo đƣợc trong cùng thời điểm đang duy trì giới hạn bình thƣờng (bảng 2). Bảng 2. Vai trò chỉ số S O2 trong đánh giá biến đổi cung lượng tim Biến cố Tăng CO + S O2 giảm thấp Giảm CO + S O2 bình thƣờng CO CO = 6 lít/phút CO = 2,1 lít/phút S O2 S O2 = 45% S O2 = 70% Chẩn đoán CO không đáp ứng nhu cầu CO đáp ứng nhu cầu Điều trị Cần can thiệp điều trị kịp thời Không can thiệp Bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn S O2 là một chỉ điểm nhạy về tình trạng bệnh nhân và thƣờng biểu hiện trƣớc khi xuất hiện các chỉ điểm khác về tình trạng bệnh lý tim phổi không ổn định. Phƣơng pháp theo dõi liên tục S O2 giúp báo động cho ngƣời thầy thuốc về những biến đổi tình trạng ngƣời bệnh sớm hơn so với các phƣơng thức truyền thống trƣớc đây, qua đó giúp chẩn đoán và chọn liệu pháp điều trị can thiệp sớm hơn trong diễn tiến lâm sàng trên ngƣời bệnh. Về cơ bản, theo dõi giá trị S O2 là: Hệ thống theo dõi và cảnh báo sớm tình trạng huyết động ngƣời bệnh Hƣớng dẫn để điều chỉnh và đánh giá liệu pháp điều trị Phƣơng tiện để phân tích những biến đổi khác trên ngƣời bệnh. Siêu âm tim Khi đã xác định tình trạng huyết động không ổn định, biểu hiện với tụt huyết áp hoặc với hội chứng cung lƣợng tim thấp, thì việc điều trị có thể đƣợc đƣợc hƣớng dẫn một cách dễ dàng bởi siêu âm tim giúp đánh giá nhanh chóng và chính xác thông số tiền gánh và sức co bóp tim [2]. Tiền gánh phản ánh sức căng của sợi cơ tim và đƣợc đánh giá tốt nhất bằng chỉ số thể tích thất trái cuối thì tâm trƣơng (LVEDV). Siêu âm tim giúp xác định kích thƣớc các buồng tim, nhƣng không đo đƣợc các thông số áp lực nên không đƣợc ƣa chuộng để đánh giá các chỉ số áp lực nhƣ catheter động mạch phổi [4], [5], [12]. PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 14 - THÁNG 8/2016 56 Bên cạnh giúp xác định các chỉ số tiền gánh và sức co bóp, siêu âm tim còn giúp đánh giá chức năng các van tim, giúp phát hiện những bất thƣờng vận động thành cơ tim, các nguyên nhân do thuyên tắc, chèn ép từ xung quanh tim làm ảnh hƣởng huyết động (tràn dịch màng tim, viêm màng ngoài tim co thắt), cũng nhƣ giúp ngƣời thầy thuốc xác định đƣợc hiệu suất của thất trái. Với những lý do này, siêu âm tim rất đƣợc khuyến cáo trong những trƣờng hợp huyết động không ổn định và chƣa biết đƣợc căn nguyên hoặc chƣa tìm ra đƣợc hƣớng điều trị chuẩn để khắc phục tình trạng huyết động không ổn định. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bailey, J.M. Relationship between clinical evaluation of peripheral perfusion and global hemodynamics in adults after cardiac surgery. Crit Care Med 18, 1353 (2010). 2. Benson, M.J.A. et al. The echocardiographic assessment of left ventricular function. In: Ventricular Function. Edited by Waltier DC. Baltimore, Williams and Wilkins 253 (2005).5 3. Drummond, J.C. The lower limit of autoregulation: Time to reverse our thinking? Anesthesiology 86, 1431 (2007). 4. Hanson, R.M. et al. Poor correlation between pulmonary arterial wedge pressure and left ventricular end-diastolic volume after coronary artery bypass graft surgery. Anesthesiology 64, 764 (2006). 5. Harpole, D.H. et al. Right and left ventricular performance during and after abdominal aortic aneurysm repair. Ann Surg 209, 356 (2009). 6. Mills, L.C. et al. Effects of various sympathetic drugs on renal hemodynamics in normotensive and hypotensive dogs. Am J Physiol 198, 1279 (2010). 7. Mohr, R. et al. Inaccuracy of radial artery pressure measurement after cardiac operations. J Thorac Cardiovasc Surg 94, 286 (2007). 8. O’Brien, E.R.M. Coronary physiology and atherosclerosis. Cardiac Anesthesia 4th Ed. Edited by Kaplan JA. Philadelphia, WB Saunders 241 (2009). 9. Rashkin, M.C. et al. Oxygen delivery in critically ill patients. Relationship to blood lactate and survival. Chest 5, 580 (2005). 10. Rivers, E. et al. Early goal directed therapy in the treatment of severe sepsis and septic shock. N Eng J Med 345, 1368-1377 (2011). 11. Rowell, L.B. et al. Importance of the splanchnic vascular bed in human blood pressure regulation. J Appl Physiol 32, 213 (2012). 12. Urbanowicz, J.H. et al. Comparison of transesophageal echocardiographic and scintigraphic estimates of left ventricular end- diastolic volume index and ejection fraction in patients following coronary artery bypass grafting. Anesthesiology 72, 607 (2010).
File đính kèm:
cap_nhat_theo_doi_va_danh_gia_huyet_dong_sau_mo.pdf

