Cập nhật điều trị tranexamic acid trong băng huyết sau sinh
Băng huyết sau sinh (BHSS) là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng
đầu trên toàn thế giới, chiếm đến 1/4 tổng số trường hợp tử vong. Để
làm giảm tỷ lệ BHSS cũng như giảm bệnh suất và tử suất liên quan đến
BHSS, nhiều nghiên cứu và tổ chức đưa ra các khuyến cáo giúp tìm
được giải pháp an toàn, kinh tế và dễ áp dụng trong điều kiện thực hành
lâm sàng, đặc biệt là ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Tranexamic
acid (TXA) là một thuốc chống ly giải fibrin, trước đây được sử dụng giúp
làm giảm lượng máu mất trong phẫu thuật được phát hiện vào những
năm 1950 bởi Utako Okamoto - một bác sĩ sản phụ khoa người Nhật,
sau đó, trải qua nhiều năm nghiên cứu và vẫn chưa được khuyến cáo
mạnh trong điều trị BHSS. Nghiên cứu WOMAN - một thử nghiệm lâm
sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng, được tiến hành
từ tháng 03/2010 đến tháng 04/2016 trên gần 200 bệnh viện ở 21 quốc
gia, thu nhận tổng cộng 20.060 sản phụ với chẩn đoán BHSS đã được
công bố trên tạp chí Lancet vào tháng 04/2017 cho thấy vai trò của TXA
khi được sử dụng sớm trong 3 giờ đầu sau khi xảy ra BHSS. Từ nghiên
cứu này, vào ngày 01/11/2017, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến
cáo mạnh việc sử dụng sớm TXA – tiêm tĩnh mạch, trong vòng 3 giờ đầu
trong thực hành chăm sóc chuẩn cho sản phụ được chẩn đoán BHSS
cho sinh ngả âm đạo hay mổ lấy thai và đã được cập nhật vào khuyến
cáo trong điều trị BHSS 2017 dành riêng cho TXA.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Cập nhật điều trị tranexamic acid trong băng huyết sau sinh
TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 13 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 13 - 16, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 Nguyễn Mai An, Phạm Thị Minh Trang Bệnh viện Đa khoa Mỹ Đức CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ TRANEXAMIC ACID TRONG BĂNG HUYẾT SAU SINH Tác giả liên hệ (Corresponding author): Nguyễn Mai An, email: [email protected] Ngày nhận bài (received): 19/03/2018 Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 10/05/2019 Ngày bài báo được chấp nhận đăng (accepted): 01/09/2019 Từ khóa: nghiên cứu WOMAN, tranexamic acid, ly giải fibrin, chăm sóc chuẩn. Keywords: WOMAN trial, Tranexamic acid, antifibrinolytic, standard care Tóm tắt Băng huyết sau sinh (BHSS) là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu trên toàn thế giới, chiếm đến 1/4 tổng số trường hợp tử vong. Để làm giảm tỷ lệ BHSS cũng như giảm bệnh suất và tử suất liên quan đến BHSS, nhiều nghiên cứu và tổ chức đưa ra các khuyến cáo giúp tìm được giải pháp an toàn, kinh tế và dễ áp dụng trong điều kiện thực hành lâm sàng, đặc biệt là ở những nơi có nguồn lực hạn chế. Tranexamic acid (TXA) là một thuốc chống ly giải fibrin, trước đây được sử dụng giúp làm giảm lượng máu mất trong phẫu thuật được phát hiện vào những năm 1950 bởi Utako Okamoto - một bác sĩ sản phụ khoa người Nhật, sau đó, trải qua nhiều năm nghiên cứu và vẫn chưa được khuyến cáo mạnh trong điều trị BHSS. Nghiên cứu WOMAN - một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng, được tiến hành từ tháng 03/2010 đến tháng 04/2016 trên gần 200 bệnh viện ở 21 quốc gia, thu nhận tổng cộng 20.060 sản phụ với chẩn đoán BHSS đã được công bố trên tạp chí Lancet vào tháng 04/2017 cho thấy vai trò của TXA khi được sử dụng sớm trong 3 giờ đầu sau khi xảy ra BHSS. Từ nghiên cứu này, vào ngày 01/11/2017, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo mạnh việc sử dụng sớm TXA – tiêm tĩnh mạch, trong vòng 3 giờ đầu trong thực hành chăm sóc chuẩn cho sản phụ được chẩn đoán BHSS cho sinh ngả âm đạo hay mổ lấy thai và đã được cập nhật vào khuyến cáo trong điều trị BHSS 2017 dành riêng cho TXA. Từ khóa: nghiên cứu WOMAN, tranexamic acid, ly giải fibrin, chăm sóc chuẩn. Abstract Postpartum haemorrhage (PPH) is the leading cause of maternal mortality globally, accounting for one quarter of all deaths. In order to reduce the rates of PPH as well as to reduce mortality and morbidity related to PPH, many studies and organizations have made recommendations to find safe, economic and easy-to-use solutions in 1. Mở đầu Theo thống kê của WHO, mỗi năm có khoảng 530.000 phụ nữ tử vong do các nguyên nhân liên quan đến thai kỳ, trong đó hầu hết (99%) xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình[1]. BHSS là nguyên nhân gây tử vong mẹ hàng đầu, chiếm đến 1/4 tổng số ca tử vong trên toàn thế giới[2]. Ngay cả ở các nước có thu nhập cao với nền y học phát triển, tỷ lệ tử vong do BHSS vẫn lên đến 13%[3]. BHSS, theo định nghĩa được đồng thuận nhiều nhất, là tình trạng mất máu từ đường sinh dục xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau sinh, với lượng ≥ 500 mL đối với sinh ngả âm đạo và ≥ 1000 mL đối với mổ lấy thai. Tuy nhiên, ngưỡng mất máu này có thể không phù hợp đối với những thai phụ đã có sẵn bệnh lý nền trước đó, chẳng hạn trên các phụ nữ thiếu máu nặng hoặc có kèm bệnh lý tim mạch, lượng máu mất chỉ cần 200 mL cũng có thể đe dọa tính mạng. Với mục tiêu giảm tỷ lệ BHSS cũng như giảm bệnh suất và tử suất liên quan đến BHSS, nhiều nghiên cứu tiếp tục được tiến hành nhằm tìm ra giải pháp an toàn, kinh tế và dễ sử dụng, đặc biệt có thể áp dụng ở những cơ sở có nguồn lực thấp. TXA - một chất chống ly giải fibrin được sử dụng rộng rãi trong phẫu thuật và chấn thương giúp giảm lượng máu mất, có thể là một chọn lựa thay thế hoặc bổ sung vào các biện pháp dự phòng và điều trị BHSS. Do đó, một số nghiên cứu gần đây tập trung vào việc làm rõ vai trò của các chất chống ly giải fibrin nói chung và TXA nói riêng trong BHSS. 2. Cơ chế tác dụng của Tranexamic Acid TXA là một hoạt chất tổng hợp có cấu trúc tương tự acid amine lysine, hoạt động bằng cách gắn với các thụ thể của lysine trên bề mặt plasminogen, ức chế quá trình kích hoạt plasminogen thành plasmin, từ đó ngăn chặn quá trình ly giải fibrin. Như vậy, khi sử dụng TXA, tiến trình ly giải các cục máu đông bị ức chế, giúp giảm lượng máu mất. NGUYỄN MAI AN, PHẠM THỊ MINH TRANG 14 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 TỔ N G Q U A N the context of the practice, especially in under-resourced settings. Tranexamic acid (TXA) is in the antifibrinolytic family of medications and used to treat or prevent excessive blood loss from major trauma and in surgery, which was discovered in the 1950s by Utako Okamoto, a Japanese obstetrician and gynecologist. After many years, it has not been strongly recommended for the treatment of PPH. The World Maternal Antifibrinolytic (WOMAN) trial - an international, randomised, double-blind, placebo-controlled trial was conducted from March, 2010, to April, 2016 and 20,060 women from nearly 200 hospitals in 21 high-, middle- and low-income countries participated, were enrolled and randomly assigned. The trial authors concluded that early use (within 3 hours) of IV tranexamic acid reduces maternal death due to bleeding in women with clinically-diagnosed PPH and this study was published in the Lancet in April, 2017. In November 1st 2017, World Health Organization strongly recommended that early use of IV tranexamic acid (within 3 hours of birth) in addition to standard care for women with clinically-diagnosed PPH following vaginal birth or caesarean section and has been updated WHO recommendation on TXA for the treatment of postpartum haemorrhage, 2017. Key words: WOMAN trial, Tranexamic acid, antifibrinolytic, standard care Hình 1. Cơ chế tác dụng của TXA. TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 14(01), XX-XX, 2016 15 Tậ p 14 , s ố 04 Th án g 05 -2 01 6 TẠ P C H Í PH Ụ SẢ N - 17(01), 13 - 16, 2019 Tập 17, số 01 Tháng 09-2019 3. Quá trình nghiên cứu và áp dụng Tranexamic Acid TXA được phát hiện vào khoảng những năm 1950 bởi Utako Okamoto - một bác sĩ sản phụ khoa người Nhật, trong lúc bà nghiên cứu tìm thuốc để điều trị BHSS. Đến năm 1962, TXA được công bố trên các tạp chí quốc tế. Tuy được phát hiện nhằm mục tiêu điều trị BHSS, nhưng từ thời điểm công bố đến tận năm 2008, chưa có một nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả của TXA trong BHSS. Trong khi đó, nhiều thử nghiệm lâm sàng và tổng quan hệ thống đã chứng minh vai trò của TXA trong việc làm giảm lượng máu mất trong phẫu thuật ngoại khoa, cũng như giảm tỷ lệ tử vong liên quan đến mất máu trong chấn thương. Vai trò của TXA trong phụ khoa cũng đã được kiểm chứng. Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy TXA giúp làm giảm đáng kể lượng máu mất do cường kinh và được khuyến cáo “có thể xem xét dùng” như một biện pháp điều trị BHSS nặng tại Vương quốc Anh từ năm 2007. Năm 2009, TXA được WHO đưa vào danh sách những thuốc thiết yếu, là thuốc có hiệu quả và an toàn cần có trong hệ thống chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, tại thời điểm này, còn quá ít bằng chứng về vai trò của TXA trong BHSS. Một tổng quan hệ thống tiến hành năm 2009 chỉ thu nhận được 3 nghiên cứu sử dụng TXA trong dự phòng hoặc điều trị BHSS với tổng số 461 sản phụ tham gia[4]. Dù kết quả cho thấy có sự giảm đáng kể về lượng máu mất trung bình trong nhóm sử dụng TXA so với nhóm giả dược, nhưng chất lượng của các nghiên cứu này còn kém. Đến năm 2010, một tổng quan hệ thống khác của thư viện Cochrane nhằm so sánh vai trò của TXA so với giả dược hoặc không điều trị trong việc dự phòng BHSS cũng chỉ ghi nhận 2 nghiên cứu với mẫu nhỏ (453 thai phụ), chứng cứ cũng không đủ mạnh để giúp đưa ra hướng dẫn điều trị[5]. Do đó, khi WHO đưa ra 32 khuyến cáo trong dự phòng và điều trị BHSS vào năm 2012, vai trò của TXA chỉ được đề cập đến như một biện pháp điều trị sau khi các thuốc co hồi tử cung thất bại hoặc trong các trường hợp BHSS nghi do tổn thương đường sinh dục[6] (khuyến cáo mức độ yếu và bằng chứng mức trung bình). Năm 2013, một tổng quan hệ thống về cập nhật trong mổ lấy thai theo y khoa chứng cứ được đăng trên Tạp chí Sản Phụ khoa Hoa Kỳ của tác giả Joshua D Dahlke và cộng sự báo cáo về việc sử dụng TXA với liều 10 mg/kg truyền tĩnh mạch trước rạch da trong mổ lấy thai giúp làm giảm lượng máu mất 100-200 mL[7] (khuyến cáo mức độ B). Gần đây nhất, vào ngày 26/04/2017, tạp chí Lancet đã công bố kết quả của nghiên cứu quốc tế về sử dụng TXA trong BHSS (thử nghiệm WOMAN)[8]. Đây là một thử nghiệm đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có nhóm chứng, được tiến hành từ tháng 03/2010 đến 04/2016, trên gần 200 bệnh viện ở 21 quốc gia, thu nhận tổng cộng 20.060 sản phụ với chẩn đoán BHSS. Các sản phụ được chia ngẫu nhiên vào nhóm dùng 1g TXA đường tĩnh mạch (n = 10,051) hoặc nhóm giả dược (n = 10,090). Các bước điều trị thường quy vẫn được tiến hành ở cả 2 nhóm. Kết quả nghiên cứu cho thấy: • Tỷ lệ tử vong do tất cả các nguyên nhân khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (2,3% trong nhóm TXA so với 2,6% trong nhóm còn lại, RR = 0,88, KTC 95% 0,74-1,05; P = 0,16). Tuy nhiên, tử vong do mất máu giảm có ý nghĩa thống kê trong nhóm dùng TXA (1,5% so với 1,9%, RR = 0,81, KTC 95% 0,65-1,00; P = 0,045, sau khi hiệu chỉnh với nguy cơ nền thì RR = 0,78, KTC 95% 0,62-0,98, P = 0,03), đặc biệt trong nhóm được dùng sớm trong vòng 3 giờ đầu sau sinh (RR = 0,69, KTC 95% 0,52-0,91; P = 0,008). • Nguy cơ cắt tử cung không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm dùng TXA và nhóm giả dược (3,6% so với 3,5%, RR = 0,95, KTC 95% 0,81-1,12; P = 0,57). • Ngoài ra, TXA giúp làm giảm có ý nghĩa thống kê tỷ lệ phải can thiệp ngoại khoa trong BHSS (RR = 0,64, KTC 95% 0,49-0,85; P = 0,002). Từ tháng 06/2017, WHO cho biết Ban Nghiên cứu về sức khỏe sinh sản đã phối hợp với nhóm nghiên cứu của Cochrane, đẩy mạnh việc cập nhật tổng quan hệ thống Cochrane trước đó về các biện pháp điều trị BHSS. Sau khi hoàn tất tổng quan này, WHO sẽ lập ra một hội đồng thẩm định để xem xét lại các chứng cứ hiện có, cập nhật khuyến cáo về việc sử dụng TXA trong BHSS. NGUYỄN MAI AN, PHẠM THỊ MINH TRANG 16 Tậ p 17 , s ố 01 Th án g 09 -2 01 9 TỔ N G Q U A N 4. Khuyến cáo sử dụng Tranexamic Acid trong điều trị băng huyết sau sinh Với những kết quả thu nhận được từ thử nghiệm WOMAN, trong Hướng dẫn thực hành mới nhất về BHSS của Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ tháng 10/2017 (ACOG Practice Bulletin No.183)[9] cũng đưa ra khuyến cáo với bằng chứng mức độ B rằng để làm giảm tử suất, TXA nên được xem xét sử dụng trong BHSS thất bại với các điều trị nội khoa ban đầu và theo ACOG, đến thời điểm hiện tại, các số liệu vẫn chưa đầy đủ để khuyến cáo sử dụng TXA như một biện pháp dự phòng BHSS và nên được sử dụng sớm trong vòng 3 giờ đầu sau khi xảy ra BHSS. Vào ngày 01/11/2017, WHO chính thức khuyến cáo mạnh việc sử dụng sớm TXA tiêm tĩnh mạch, trong vòng 3 giờ đầu trong thực hành chăm sóc chuẩn cho sản phụ được chẩn đoán BHSS cho sinh ngả âm đạo hay mổ lấy thai[10], như sau: • Sử dụng TXA nên được xem xét như là 1 phần của điều trị BHSS chuẩn và được dùng càng sớm có thể sau khi phát hiện chảy máu trong vòng 3 giờ đầu. Điều trị BHSS với TXA không nên bắt đầu trễ hơn 3 giờ đầu sau sinh. • TXA nên được sử dụng cho toàn bộ các trường hợp BHSS, bất chấp nguyên nhân gây chảy máu do tổn thương đường sinh dục hay nguyên nhân khác, kể cả đờ tử cung. • TXA nên được sử dụng với liều cố định là 1 g trong 10 mL (100 mg/mL), tiêm tĩnh mạch với 1 mL mỗi phút (chẳng hạn tiêm trong hơn 10 phút), với liều thứ 2 là 1 g nếu chảy máu vẫn tiếp tục sau 30 phút. • TXA nên được sử dụng chỉ bằng đường tĩnh mạch cho điều trị BHSS. Nghiên cứu về đường sử dụng khác cho TXA là trọng tâm hàng đầu. 5. Kết luận Theo các bằng chứng hiện hữu cũng như khuyến cáo mạnh từ WHO, TXA nên được cập nhật trong điều trị BHSS tại Việt Nam, thay vì trước đây, việc điều trị TXA mang tính mơ hồ và không đủ sức thuyết phục. Việc nghiên cứu đường dùng TXA khác ngoài đường tĩnh mạch cũng là hướng nghiên cứu cần được đẩy mạnh để có thể áp dụng tại các tuyến y tế cơ sở - nơi mà điều kiện sử dụng đường tiêm tĩnh mạch có thể bị hạn chế. Tài liệu tham khảo 1. World Health Organisation, United Nations Children's Fund, United Nations Population Fund, World Bank: Maternal Mortality in 2005. Estimates developed by WHO, UNICEF, UNFPA and The World Bank. 2007, Geneva (Switzerland): World Health Organisation (WHO), 1-48. 2. AbouZahr C. Antepartum and Postpartum hemorrhage. Boston (United States of America) Geneva (Switzerland): Harvard School of Public Health on behalf of the World Health Organisation and the World Bank 1998. 3. Khan K, Wofdyla D, Gulmezoglu A, van Look P. WHO analyses of maternal death: a systematic review. The Lancet. 2006; 367:1066-74. 10.1016/S0140-6736(06)68397-9. 4. Ferrer P et al. Anti-fibrinolytic agents in post partum haemorrhage: a systematic review. BMC Pregnancy Childbirth. 2009. 5. Novikova N, Hofmeyr GJ. Tranexamic Acid for preventing postpartum haemorrhage. Cochrane 2010. 6. WHO. WHO recommendations for the prevention and treatment of postpartum haemorrhage. Geneva: World Health Organization 2012. 7. Ker K, Prieto-Merino D, Roberts I. Systematic review, meta-analysis and meta-regression of the effct of tranexamic acid on surgical blood loss. Br J Surg. 2013; 100:1271-79. 8. WOMAN Trial Collaborators. Effect of early tranexamic acid administration on mortality, hysterectomy, and other morbidities in women with post-partum haemorrhage (WOMAN): an international, randomised, double-blind, placebo-controlled trial. Lancet 2017; 389:2105-16. 9. ACOG. Postpartum hemorrhage. Practice Bulletin No.183. American College of Obstetricians and Gynecologists. Obstet Gynecol. 2017; 130:e168-86. 10. WHO. WHO recommendation on tranexamic acid for the treatment of postpartum haemorrhage. Geneva: World Health Organization 2017.
File đính kèm:
cap_nhat_dieu_tri_tranexamic_acid_trong_bang_huyet_sau_sinh.pdf

