Các yếu tố tiên lượng thời gian sống còn sau phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

109 bệnh nhân ung thư phổi được điều trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi kèm nạo hạch từ 01/01/2012 đến 31/12/2016. Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình 46,9 ± 1,9 tháng (13 – 60 tháng); tỷ lệ sống thêm toàn bộ 100% trong 1 năm đầu; sau 2 năm 85,9%, sau 3 năm 65,3% và sống thêm toàn bộ 5 năm 55,9%. Giai đoạn ung thư phổi sau phẫu thuật và khả năng phẫu thuật nạo hạch triệt căn là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến thời gian sống thêm (p=0,001). Ngoài ra, số lượng hạch di căn, kích thước hạch (p< 0,001),="" kích="" thước="" khối="" u="" và="" độ="" biệt="" hóa="" của="" khối="" u="">< 0,05)="" cũng="" là="" những="" yếu="" tố="" tiên="" lượng.="" giai="" đoạn="" ung="" thư="" phổi,="" khả="" năng="" phẫu="" thuật="" nạo="" hạch="" triệt="" căn,="" số="" lượng="" hạch="" di="" căn,="" kích="" thước="" hạch,="" độ="" biệt="" hóa="" và="" kích="" thước="" khối="" u="" là="" những="" yếu="" tố="" tiên="" lượng="" thời="" gian="" sống="" còn="" sau="" phẫu="" thuật="" trong="" ung="" thư="" phổi="" không="" tế="" bào="">

pdf 11 trang phuongnguyen 100
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố tiên lượng thời gian sống còn sau phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Các yếu tố tiên lượng thời gian sống còn sau phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ

Các yếu tố tiên lượng thời gian sống còn sau phẫu thuật điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI ... 
 75 
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ 
UNG THƯ PHỔI KHÔNG TẾ BÀO NHỎ 
Trần Minh Bảo Luân*, Vũ Trí Thanh* 
TÓM TẮT 
109 bệnh nhân ung thư phổi được điều trị 
bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi 
kèm nạo hạch từ 01/01/2012 đến 31/12/2016. 
Thời gian sống thêm toàn bộ trung bình 46,9 ± 
1,9 tháng (13 – 60 tháng); tỷ lệ sống thêm toàn bộ 
100% trong 1 năm đầu; sau 2 năm 85,9%, sau 3 
năm 65,3% và sống thêm toàn bộ 5 năm 55,9%. 
Giai đoạn ung thư phổi sau phẫu thuật và khả 
năng phẫu thuật nạo hạch triệt căn là yếu tố ảnh 
hưởng rất lớn đến thời gian sống thêm (p=0,001). 
Ngoài ra, số lượng hạch di căn, kích thước hạch 
(p< 0,001), kích thước khối u và độ biệt hóa của 
khối u (p< 0,05) cũng là những yếu tố tiên lượng. 
Giai đoạn ung thư phổi, khả năng phẫu thuật nạo 
hạch triệt căn, số lượng hạch di căn, kích thước 
hạch, độ biệt hóa và kích thước khối u là những 
yếu tố tiên lượng thời gian sống còn sau phẫu 
thuật trong ung thư phổi không tế bào nhỏ. 
Từ khóa: phẫu thuật nội soi lồng ngực, cắt 
thùy phổi và nạo hạch, ung thư phổi. 
SUMMARY 
THE PREDICTORS OF OVERALL SURVIVAL 
RATE AFTER SURGICAL TREATMENT IN 
NON-SMALL CELL LUNG CANCER 
109 patients with non-small cell lung 
cancer were treated with VATS lobectomy and 
lymphadenectomy from 1, January 2012 to 31, 
December 2016. Total survival time was 46.9 ± 
1.9 months (13 - 60 months); 100% survival rate 
in the first year; after 2 years 85.9%, after 3 years 
65.3% and 5 year overall survival rate 55.9%. 
The postoperative stage of lung cancer and the 
ability of radical lymphadenectomy are 
significant factors in survival (p = 0.001). In 
addition, the number of metastatic nodules, lymph 
node size (p <0.001), tumor size and tumor 
differentiation (p <0.05) were also predictors. 
stage of lung cancer, surgical removal of radical 
lympho nodes, number of metastatic lymph nodes, 
size of lymph nodes, tumor differentiation and 
tumor size are predictive factors of postoperative 
survival in non-small cell lung cancer. 
Keywords: Video-Assited Thoracoscopic 
Surgery (VATS), Lobectomy and Lymphadenectomy, 
Lung cancer.* 
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
Hiện nay ung thư phổi là là loại ung thư 
thường gặp nhất và có tỷ lệ tử vong cao nhất cho 
cả nam lẫn nữ. Tần suất ung thư phổi đang có 
khuynh hướng giảm nhẹ ở các nước phát triển 
nhưng lại gia tăng đáng kể ở các nước đang phát 
triển. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Ủy ban 
phòng chống ung thư quốc gia, tỷ lệ ung thư 
phổi ở nam là 30,7/100.000 dân và ở nữ là 
6,7/100.000 dân. Tỷ lệ này không đổi trong vòng 
nhiều năm. Theo số liệu của Mỹ (2008) có 
169.400 trường hợp mới mắc được chẩn đoán và 
154. 000 trường hợp tử vong. Ung thư phổi 
chiếm tỷ lệ 13% trong tất cả các loại ung thư, 
nhưng chiếm đến 28% tử vong. Đa số các trường 
hợp ung thư phổi được phát hiện ở giai đoạn 
muộn không còn khả năng điều trị triệt để, chỉ 
khoảng 10 – 20% các trường hợp ung thư phổi 
được phát hiện ở giai đoạn còn có khả năng phẫu 
thuật triệt để. Mặc dù được phẫu thuật điều trị, 
* Bộ môn phẫu thuật Lồng Ngực – Tim Mạch, Đại học Y Dược TPHCM 
Người chịu trách nhiệm khoa học: Ths.Bs.Trần Minh Bảo Luân 
Ngày nhận bài: 01/05/2018 - Ngày Cho Phép Đăng: 20/05/2018 
Phản Biện Khoa học: PGS.TS. Đặng Ngọc Hùng 
 GS.TS. Lê Ngọc Thành 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 76 
thời gian sống còn sau phẫu thuật cũng thay đổi 
rất nhiều, trong đó giai đoạn ung thư phổi và khả 
năng phẫu thuật triệt căn là một trong những yếu 
tố tiên lượng thời gian sống còn. Tuy nhiên, thời 
gian sống còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác 
như: đặc điểm của khối u phổi, tính chất hạch 
của hạch rốn phổi và trung thất  
Mục tiêu nghiên cứu: 
Xác định các yếu tố tiên lượng trong ung 
thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ được điều 
trị bằng phẫu thuật kết hợp hóa và xạ trị hổ trợ 
sau phẫu thuật. 
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU 
Thiết kế nghiên cứu: tiền cứu mô tả dọc, 
không nhóm chứng. 
Đối tượng nghiên cứu: tất cả bệnh nhân ung 
thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ được điều 
trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy 
phổi kèm nạo hạch tại BV Đại học Y Dược 
TPHCM và BV Phạm Ngọc Thạch từ 01/01/2012 
đến 31/12/2016. 
Chỉ định áp dụng cắt thùy phổi qua nội 
soi lồng ngực: 
Ung thư phổi giai đoạn I, IIA, IIIA 
(T2a,N2) (Định giai đoạn ung thư phổi: phân loại 
TMN 7th Edition theo UICC hay AJCC 2009); 
kích thước u nhỏ hơn 5m nằm ở ngoại biên, 
không xâm lấn mạch máu, thành ngực, rãnh liên 
thùy, cơ hoành và màng ngoài tim; bệnh nhân 
không xạ trị vùng ngực trước đó. 
Điều trị hỗ trợ sau phẫu thuật: 
Theo hướng dẫn của ACCP (2007) và 
BTS (2010). 
Giai đoạn IA và IB: không hóa trị. 
Giai đoạn IIA: Hóa trị hổ trợ sau phẫu 
thuật, phác đồ có Platin, 4 - 6 chu kỳ. 
Giai đoạn IIIA: Kết hợp hóa trị và xạ trị sau 
phẫu thuật 
II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 
Tuổi và giới: 109 trường hợp ung thư phổi, 
tuổi trung bình 59,18 ± 10,08 (31 – 80); trong đó 
59 nam (54,1%), 50 nữ (45,9%). 
Đặc điểm của khối u phổi trên CT scan 
ngực có cản quang 
Vị trí u phổi: Phổi (P): thùy trên 22 trường 
hợp (20,2%), thùy giữa 14 trường hợp (12,8%) và 
thùy dưới 30 trường hợp (27,5%). Phổi (T): thùy 
trên 25 trường hợp (22,9%) và thùy dưới 18 trường 
hợp (16,5%). 
Kích thước u phổi: Trung bình 3,23 ± 0,91 
(1,2 – 5cm). 7 trường hợp u ≤ 2cm (6,4%), 24 
trường hợp u >2 – 3cm (22%), 78 trường hợp u >3 
– 5cm (71,6%). 
Kết quả điều trị ung thư phổi không tế 
bào nhỏ 
Thời gian theo dõi trung bình 30,6 ± 14,1 
tháng (9 – 60 tháng), thời gian tái phát 16 ± 1,7 
tháng (13 – 38 tháng) và di căn xa 21 ± 2,02 
tháng (12 – 45 tháng). 
Bảng 3.1: Tổng hợp tỷ lệ % các biến cố 
 Tử vong 
Tử vong/ Tái 
phát/ Di căn 
Tái phát Di căn 
Số biến cố (%) 28 (25,7) 33 (30,3) 12 (11,0) 29 (26,6) 
% tích lũy 12 tháng 0,0 3,8 2,8 3,9 
% tích lũy 24 tháng 14,1 24,3 11,6 20,4 
% tích lũy 36 tháng 34,7 39,4 11,6 32,4 
% tích lũy 48 tháng 44,1 44,9 14,9 41,3 
% tích lũy 60 tháng 44,1 44,9 14,9 41,3 
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 77 
Bảng 3.2: Vị trí di căn xa 
Vị trí Số bệnh nhân Tỷ lệ % 
Não 17 58,6 
Xương 10 34,5 
Gan 1 3,4 
Phổi 1 3,4 
Bảng 3.3: Thời gian sống thêm toàn bộ: 
Thời gian theo dõi (tháng) 
Số BN 
tử vong 
Tỷ lệ sống thêm 
tích lũy (%) 
Thời gian sống trung 
bình 
12 0 100% 
46,99 ± 1,96 
95%CI = 43,15 – 50,84 
Min = 13; Max = 60 
24 13 85,9% 
36 25 65,3% 
48 28 55,9% 
60 28 55,9% 
0
20
40
60
80
100
T
ỷ
 l
ệ 
b
ện
h
 n
h
ân
 c
ộ
n
g
 d
ồ
n
 (
%
)
0 12 24 36 48 60
Thời gian theo dõi sau phẫu thuật (tháng)
Đường cong Kaplan-Meier về tỷ lệ sống toàn bộ
Biểu đồ 1: thời gian sống thêm toàn bộ 
Nhận xét: thời gian sống thêm toàn bộ trung bình 46,9 ± 1,9 tháng (13 – 60 tháng); tỷ lệ sống thêm toàn 
bộ 100% trong 1 năm đầu; sau 2 năm 85,9%, sau 3 năm 65,3% và sống thêm toàn bộ 5 năm 55,9%. 
Bảng 3.4: Thời gian sống thêm toàn bộ theo giai đoạn ung thư phổi 
Giai đoạn 
Số bệnh nhân 
(N=109) 
95% CI 
Thời gian sống thêm 
 12tháng 
(%) 
36tháng 
(%) 
60tháng 
(%) 
IA 25 (2)* 54,0 – 60,7 100,0 94,1 85,6 
P=0,001d 
IB 34 (2) 51,4 – 61,1 100,0 89,8 89,8 
IIA 18 (7) 33,2 – 50,7 100,0 51,1 34,0 
IIIA 32 (17) 27,9 – 41,5 100,0 31,5 23,6 
*: ( ) là số bệnh nhân tử vong trong mỗi nhóm: d: Log Rank (Mantel Cox) 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 78 
0
20
40
60
80
100
T
ỷ
 l
ệ 
b
ện
h
 n
h
ân
 c
ộ
n
g
 d
ồ
n
 (
%
)
0 12 24 36 48 60
Thời gian theo dõi sau phẫu thuật (tháng)
Giai đoạn 1A
Giai đoạn 1B
Giai đoạn 2A
Giai đoạn 3A
Chú thích
Đường cong Kaplan-Meier về tỷ lệ sống toàn bộ
0
20
40
60
80
100
T
ỷ
 l
ệ 
b
ện
h
 n
h
ân
 c
ộ
n
g
 d
ồ
n
 (
%
)
0 12 24 36 48 60
Thời gian theo dõi sau phẫu thuật (tháng)
Không hết
Lấy hết
Chú thích
Đường cong Kaplan-Meier về tỷ lệ sống toàn bộ
Bảng 3.5: Thời gian sống thêm toàn bộ và khả năng phẫu thuật nạo hạch 
Khả năng PT 
lấy hết hạch 
Số bệnh nhân 
(N=109) 
95% CI 
Thời gian sống thêm 
 12tháng 
(%) 
36tháng 
(%) 
60tháng 
(%) 
Lấy hết 87 (15)* 47,3 – 54,9 100,0 77,4 66,2 
P=0,001d 
Không lấy hết 22 (13) 22,1 – 38,2 100,0 26,3 17,5 
*: ( ) là số bệnh nhân tử vong trong mỗi nhóm 
Nhận xét: giai đoạn ung thư phổi và khả năng nạo triệt để các nhóm hạch là yếu tố ảnh hưởng 
đến thời gian sống còn toàn bộ (P = 0,001). 
Các yếu tố liên quan đến thời gian sống thêm toàn bộ: 
Bảng 3.6: Các yếu tố liên quan đến tử vong 
Yếu tố 
Số tử vong 
(%) 
Hồi quy Cox 
HR (KTC 95%) Giá trị p 
Tuổi 
 <60 tuổi (n=57) 11 (19,3) 1 - 
 ≥60 tuổi (n=52) 17 (32,7) 1,69 (0,79 - 3,62) 0,174 
Bệnh kèm theo 
 Không (n=74) 20 (27,0) 1 - 
 Có (n=35) 8 (22,9) 0,89 (0,39 - 2,03) 0,79 
Giai đoạn sau mổ 
 1A (n=25) 2 (8,0) 1 - 
 1B (n=34) 2 (5,9) 1,63 (0,23 - 11,69) 0,626 
 2A (n=18) 7 (38,9) 7,53 (1,55 - 36,55) 0,012 
 3A (n=32) 17 (53,1) 13,86 (3,17 - 60,58) <0,001 
Biểu đồ 2: Thời gian sống thêm toàn 
bộ theo giai đoạn ung thư phổi 
Biểu đồ 3: Thời gian sống thêm toàn 
bộ theo khả năng PT nạo hạch 
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 79 
Giải phẫu bệnh 
 Carcinoma tb tuyến (n=95) 25 (26,3) 1 - 
 Carcinoma tb gai (n=7) 3 (42,9) 1,58 (0,47 - 5,25) 0,457 
 Carcinoma tb lớn (n=7) 0 (0,0) - - 
Độ biệt hoá 
 Cao (n=36) 2 (5,6) 1 - 
 Trung bình (n=29) 8 (27,6) 4,86 (1,03 - 22,91) 0,046 
 Kém (n=44) 18 (40,9) 8,15 (1,89 - 35,17) 0,005 
Số lượng hạch di căn 1,68 (1,27 - 2,22) <0,001 
Kích thước hạch 
 <1 cm (n=62) 5 (8,1) 1 - 
 ≥1 cm (n=47) 23 (48,9) 8,04 (3,05 - 21,21) <0,001 
Phẫu thuật lấy hết hạch 
 Lấy hết (n=87) 15 (17,2) 1 - 
 Không hết (n=22) 13 (59,1) 6,52 (3,07 - 13,86) <0,001 
Kích thước u phổi 
 < 3cm (n=27) 2 (7,4%) 1 
 ≥ 3cm (n=82) 26 (31,7%) 4,19 (0,99 – 17,67) 0,05 
Nhận xét: Ngoài giai đoạn ung thư phổi và phẫu thuật nạo hạch triệt để, số lượng hạch, kích 
thước hạch, độ biệt hóa và kích thước khối u cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn. 
V. BÀN LUẬN 
4.1. Thời gian sống thêm toàn bộ 
Trong 109 trường hợp của chúng tôi, thời 
gian sống thêm toàn bộ trung bình 46,9 ± 1,9 
tháng (13 – 60 tháng); tỷ lệ sống thêm toàn bộ 
100% trong 1 năm đầu; sau 2 năm 85,9%, sau 3 
năm 65,3% và sống thêm toàn bộ 5 năm 55,9%. 
Các báo cáo về kết quả phẫu thuật điều trị 
ung thư phổi không tế bào nhỏ trong nước chủ 
yếu là PT mở cho thấy: 
Nguyễn Thị Minh Hương (2005) với 82 
bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn II, IIIA được 
phẫu thuật mở ngực kết hợp xạ trị thấy tỷ lệ sống 
thêm toàn bộ 3 năm là 22,8%, sống trung bình 
24,9 tháng, sống 5 năm toàn bộ là 16,8%. 
Lê Sỹ Sâm và CS (2007) hồi cứu 93 BN ung 
thư phổi được phẫu thuật mở ngực cắt thùy phổi và 
nạo hạch thấy tỷ lệ sống toàn bộ 1 năm là 77,4%; 
sống 2 năm là 60,8%; sống 3 năm là 44,2%. 
Báo cáo gần đây của Nguyễn Khắc Kiểm 
(2016), đánh giá kết quả cắt thùy phổi và nạo 
hạch hệ thống theo bản đồ điều trị ung thư phổi 
không tế bào nhỏ bằng PT mở ngực, kết quả sống 
thêm toàn bộ 1, 2 và 3 năm lần lượt là 89,0%, 
73,0% và 67,0%. 
Nguyễn Hoàng Bình (2015), thực hiện 
PTNS điều trị, tỷ lệ sống thêm toàn bộ là 74,5% 
(với thời gian theo dõi từ 3 đến 31 tháng sau 
phẫu thuật). 
Tác giả Vũ Anh Hải (2016), thực hiện PTNS 
94 bệnh nhân, tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1 và 2 năm 
sau phẫu thuật có tỷ lệ là 95,9% và 88,0%. 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 80 
Hiện tại chưa có nhiều báo cáo trong nước 
về kết quả dài hạn của phẫu thuật nội soi cắt thùy 
phổi và nạo hạch ngoài 2 báo cáo trên chỉ đánh 
giá kết quả trung hạn. 
So với nghiên cứu của tác giả nước ngoài: 
Tác giả Fukino S. và CS (2011), 166 BN 
được PT mở cắt thùy phổi và nạo vét hạch hệ 
thống, có tỷ lệ sống toàn bộ 5 năm là 55,6%. 
Các nghiên cứu về kết quả PTNS điều trị 
cho thấy thời gian sống thêm toàn bộ: Tác giả 
Amer K. và cs (2011), sống thêm toàn bộ sau 1, 2 
và 3 năm là 85 ± 3.8%, 82.2 ± 4.2% và 73.5 ± 
7.0%. Tác giả Wenlong Shao (2014), thực hiện 
phẫu thuật nội soi cắt thùy phổi và nạo hạch cho 
51 bệnh nhân ung thư phổi, cho thấy thời gian 
sống trung bình là 44,0 ± 2,6 tháng và tỉ lệ sống 
sót 5 năm là 51,1%. Báo cáo của Taioli E. và cs 
(2013), tổng kết các báo cáo được công bố giai 
đoạn từ 1990 - 2011, tỷ lệ sống thêm toàn bộ của 
phẫu thuật nội soi sau 5 năm dao động từ 62% - 
97% tùy thuộc vào giai đoạn ung thư phổi. 
4.2. Giai đoạn ung thư phổi 
Nghiên cứu của chúng tôi (bảng 3.53) cũng 
cho thấy giai đoạn ung thư phổi sau phẫu thuật là 
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến thời gian sống thêm 
(p=0,001): thời gian sống thêm 100% trong 1 
năm cho tất cả các giai đoạn; thời gian sống thêm 
3 năm của giai đoạn IA, IB, IIA và IIIA tương 
ứng là 94,1%, 89,8%, 51,1% và 31,5%; thời gian 
sống thêm 5 năm của giai đoạn IA, IB, IIA và 
IIIA tương ứng là 85,6%, 89,8%, 34% và 23,6%. 
Theo Cù Xuân Thanh (2002) sống thêm 2 
năm theo giai đoạn với 106 BN thấy ở giai đoạn I 
đạt 92,6%; giai đoạn II đạt 75,2%; giai đoạn IIIA 
giảm rõ rệt còn 35,2%. 
Bùi Chí Viết (2011) với 104 BN ghi nhận 
thời gian sống thêm toàn bộ 3 năm ở giai đoạn 
sớm là 76% và cho biết ở các giai đoạn I, II có tỷ 
lệ sống thêm toàn bộ 3 năm lần lượt là 96,3% - 
24,5% sang giai đoạn IIIA không có BN nào sống 
được 3 năm (p = 0,022). 
Tác giả Nguyễn Khắc Kiểm (2016), giai 
đoạn là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới 
sống thêm, tỷ lệ sống thêm toàn bộ 1 năm ở các 
giai đoạn I, II, IIIA lần lượt là 95 - 91- 80%; 2 
năm là 92 - 75 - 54% và sống 3 năm toàn bộ ở 
giai đoạn I là 87%; giai đoạn II là 73%; giai đoạn 
IIIA là 42% (p=0,001). 
Nghiên cứu của Oliaro A (2009), tác giả 
cho thấy thời gian sống thêm thấy tỷ lệ sống 3 
năm cho giai đoạn I là 94,8%; giai đoạn II là 
62,4%; giai đoạn IIIA là 38,2% và sống 5 năm 
cho các giai đoạn trên tương ứng là 73,6% - 23% 
- 8,9% (p=0,03). 
Tác giả Higuchi (2014), nghiên cứu 114 
trường hợp PTNS cắt thùy phổi và nạo hạch cho 
ung thư phổi giai đoạn I, thởi gian sống còn toàn 
bộ sau 5 năm 94,8%. Tác giả Carr S. R. (2012) tỷ 
lệ sống còn 5 năm lên đến 90% giai đoạn IA và 
80% đối với giai đoạn IB. 
Tác giả Yamamoto (2010), thực hiện PTNS 
325 trường hợp, tỷ lệ sống còn toàn bộ 5 năm là 
85% ở giai đoạn Ia (192 trường hợp), 69% ở giai 
đoạn Ib (50 trường hợp), 48% ở giai đoạn II (27 
trường hợp) và 29% đối với giai đoạn III (50 
trường hợp), tương ứng (p <0.0001). 
Tác giả Wenlong Shao (2014), thực hiện 
tổng kết 1139 bệnh nhân được phẫu thuật nội soi 
hoàn toàn và nội soi có hỗ trợ từ 2000 – 2007, 
cũng cho thấy tỷ lệ sống còn tương tự cho các 
giai đoạn. Tỷ lệ sống thêm trung bình 5 năm giai 
đoạn I, II, và III theo hệ thống phân loại TNM 
cập nhật mới nhất (7th Edition) là 72,2%, 47,5% 
và 29,8%. 
Tác giả Cerfolio R. J ... a phổi trái. Tỷ lệ sống thêm 4 năm cho giai 
đoạn I từ 95% giảm xuống còn 78% nếu nạo hạch 
không triệt để, dù lúc này các hạch chỉ là N0. Tác 
giả cho rằng có sự cải thiện rõ rệt về tỷ lệ sống 
thêm ở nhóm được nạo hạch triệt để tốt hơn là chỉ 
lấy mẫu hạch tại các trạm. 
Tác giả Zongren G (2009), thực hiện phẫu 
thuật cắt phổi và nạo hạch cho 403 trường hợp, tỷ 
lệ phẫu thuật nạo hạch triệt để đạt 93%; nạo hạch 
không triệt để 7%. Những trường hợp được phẫu 
thuật triệt để thì tỷ lệ tái phát ở giai đoạn chưa di 
căn hạch (N0) là 24,3%; giai đoạn di căn hạch N1 
là 40% và N2 là 57,6%. 
Trong một nghiên cứu hồi cứu năm 2012, 
dựa trên 1867 trường hợp ung thư phổi được phẫu 
thuật, tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của phẫu 
thuật triệt căn đặc biệt nạo vét hạch bài bản hệ 
thống theo bản đồ ở giai đoạn sớm, làm giảm tỷ lệ 
tái phát và tiến triển. Wu Y và CS (2012) đã tổng 
kết từ 3 thử nghiệm LS ngẫu nhiên giữa nhóm BN 
được phẫu thuật nạo hạch một cách hệ thống, với 
nhóm chỉ lấy mẫu hạch tại các trạm theo khả năng, 
tác giả cũng có kết luận tương tự. 
Qua phân tích kết quả của chúng tôi cũng 
như các tác giả khác trong và ngoài nước đều cho 
thấy tầm quan trọng của việc phẫu thuật nạo triệt 
để các nhóm hạch, cho dù có di căn hay không. 
4.4. Các yếu tố khác ảnh hưởng thời gian 
sống thêm 
Ngoài giai đoạn ung thư phổi và phẫu thuật 
nạo triệt để các nhóm hạch là yếu tố ảnh hưởng 
rất lớn đến thời gian sống thêm toàn bộ như đã 
phân tích trên. Chúng tôi tiếp tục phân tích nhiều 
yếu tố khác, kết quả cho thấy, sống thêm toàn bộ 
không bị ảnh hưởng bởi tuổi cao, có bệnh kèm 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 82 
theo và loại mô bệnh học; mà bị ảnh hưởng bởi 
các yếu tố: số lượng hạch di căn, kích thước hạch, 
kích thước khối u phổi và độ biệt hóa trên mô 
bệnh học của khối u phổi. 
4.5. Số lượng hạch di căn 
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc 
Kiểm (2016), có 258/282 bệnh nhân phẫu thuật 
mở nạo hạch triệt để, cho thấy số lượng hạch ảnh 
hưởng đến tỷ lệ sống thêm. Nhóm BN chỉ nạo vét 
được < 10 hạch bất kỳ chặng hạch N1 hay N2 cho 
tỷ lệ sống thêm 12 - 24 - 36 tháng tương ứng là 
92% - 80% - 74%; nhóm nạo vét được ≥ 10 hạch 
trở lên tỷ lệ này giảm còn 87% - 69% - 63% 
(P=0,046). 
Theo Shield M.D và CS (2009) dựa trên 
130 trường hợp ung thư phổi, thấy tỷ lệ sống 3 
năm của nhóm di căn 1 hạch là 68,4%; nhóm di 
căn 2-5 hạch là 53,8% và nhóm di căn hơn 5 hạch 
là 44,4% (p = 0,0046). 
Nghiên cứu của Khan B và Mushtap M 
(2010) ghi nhận nếu bệnh nhân chỉ có 1 nhóm 
hạch N1 di căn thì có tiên lượng tốt hơn những 
bệnh nhân có ≥ 2 nhóm hạch N1 di căn, và thời 
gian sống thêm 5 năm tương ứng là 48% so với 
35% (p < 0,09). Tương tự, những bệnh nhân có 1 
nhóm hạch N2 di căn thì có tiên lượng tốt hơn 
những bệnh nhân có từ 2 nhóm hạch N2 di căn 
trở lên, thời gian sống thêm 5 năm tương ứng là 
34% so với 20% (p < 0,001). 
Tác giả Oda M (2008), có 889 BN UTP 
được tổng kết từ 3 trung tâm ghi nhận nhóm BN 
có ít hơn 10 hạch được lấy ra, bất kể hạch N1 hay 
N2 thì có tiên lượng tốt tỷ lệ sống 3 năm đạt 
75,6% và sống 5 năm đạt 42%. Nhóm BN có 
nhiều hơn 10 hạch được lấy ra thì tỷ lệ sống 3 
năm giảm xuống còn 60% và sống 5 năm giảm rõ 
rệt còn 31%, dù quá trình nạo hạch như nhau. Tác 
giả kết luận số lượng hạch là yếu tố tiên lượng 
độc lập ảnh hưởng đến thời gian sống thêm của 
BN, nên cần phải được phẫu thuật triệt để. 
4.6. Kích thước hạch 
Tác giả Nguyễn Khắc Kiểm (2016), cho 
thấy sự khác biệt có ý nghĩa về thời gian sống 
thêm của kích thước hạch. Nhóm bệnh nhân hạch 
kích thước ≤ 10 mm có tiên lượng tốt, tỷ lệ sống 
tại các thời điểm 12 - 24 - 36 tháng đạt 95% - 
89% - 81%; hạch kích thước từ >10 - 20 mm tỷ lệ 
này giảm xuống còn 89% - 70% - 63%; nhóm có 
hạch kích thước > 20 mm, bất kể N1 hay N2 thì 
tiên lượng rất xấu, tỷ lệ này giảm còn 66% - 38% 
- 29%. (p = 0,0001). 
Nghiên cứu của Ishida T và CS (2009) với 
221 trường hợp được nạo hạch triệt để, thấy tỷ lệ 
sống 3 năm phụ thuộc vào kích thước hạch. Bệnh 
nhân có hạch kích thước ≤ 10 mm, 80% sống 
thêm 3 năm; hạch từ 11 - 20 mm tỷ lệ này giảm 
xuống là 74%. Đặc biệt, hạch kích thước > 20 
mm, tỷ lệ sống 3 năm chỉ còn 51%. 
Theo Prenzel K.L và CS (2013) kích thước 
hạch không những liên quan tới khả năng di căn 
mà còn có ý nghĩa tiên lượng thời gian sống còn. 
160 trường hợp có kích thước hạch ≤ 10 mm thì 
87,5% sống thêm 3 năm; 128 trường hợp có kích 
thước hạch từ 11 - 20 mm, tỷ lệ này là 60,9%; 52 
trường hợp có hạch kích thước > 20 mm tỷ lệ này 
giảm chỉ còn 30,8% (p = 0,0023). Tác giả kết 
luận kích thước hạch là tiêu chuẩn quan trọng 
quyết định thời gian sống còn. 
Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy 
kích thước hạch ảnh hưởng đến thời gian sống 
thêm như của các tác giả trên. 
4.7. Độ biệt hóa và kích thước của khối 
u phổi 
Trong nghiên cứu của tác giả Bùi Chí Viết 
(2011), với 104 bệnh nhân ghi nhận kích thước 
khối u phổi ảnh hường đến thời gian sống còn: 
những trường hợp khối u có kích thước được 
phân loại trong nhóm T1 sống thêm 3 năm là 
100%; nhóm T2 là 50,6% và nhóm T3 là 27,5% 
(p=0,005). Tuy nhiên, tác giả Lê Sỹ Sâm và Đỗ 
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 83 
Kim Quế (2007), với 117 bệnh nhân, cho rằng 
chưa kết luận được: bệnh nhân có u < 30mm tỷ lệ 
sống 1 năm là 90% so sánh với 86,7%; 79,9%; 
53,5% ở những bệnh nhân có u từ 31 – 40; 41 – 
50; 51 – 60 mm, tuy nhiên kiểm định Log-Rank 
test p = 0,545. Nhóm tác giả kết luận: kích thước 
của khối u có liên quan đến khả năng di căn hạch 
và chưa đủ giá trị để tiên lượng tỷ lệ sống sót ở 
bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. 
So với các tác giả nước ngoài: 
David Ball (2013), tiến hành phân tích 868 
bệnh nhân từ 5 trung tâm, kết quả: kích thước 
khối u ≤ 3cm có tiên lượng sống còn tốt hơn rất 
nhiều khi so với nhóm >3cm. Và kết luận kích 
thước khối u là yếu tố tiên lượng độc lập khi phân 
tích đơn biến và đa biến. Tác giả Jianjun Zhang 
(2016), tổng kết dữ liệu 52.287 bệnh nhân được 
thu thập từ National Cancer Institute SEER cũng 
đi đến kết luận tương tự: Kích thước khối u là yếu 
tố tiên lượng độc lập cho tỷ lệ sống thêm toàn bộ 
trong ung thư phổi không tế bào nhỏ. 
Về độ biệt hóa của khối u, theo tác giả 
Shimosato Y. (2010), độ biệt hóa càng cao thì 
tiên lượng càng tốt. Tỷ lệ sống 5 năm sau mổ cho 
những trường hợp có độ biệt hóa cao là 40%; biệt 
hóa vừa 20%; kém biệt hóa 7%. Tác giả Justine 
A. Barletta (2010), với 85 trường hợp ung thư 
phổi, cũng cho thấy khối u phổi với phần đặc ≥ 
90% và có biệt hóa kém là những yếu tố tiên 
lượng xấu. Những trường hợp độ biệt hóa cao có 
thời gian sống trung bình là 72,4 tháng, độ biệt 
hóa trung bình chỉ còn 39,5 và biệt hóa kém sống 
được 8,7 tháng (P = 0.0001). 
Khi so sánh giữa kích thước khối u và độ 
biệt hóa của khối u phổi: tác giả Zhongwu HU 
(2010), với 73 bệnh nhân ung thư phổi giai đoạn 
I, tác giả so sánh độ biệt hóa và kích thước khối u 
liên quan đến thời gian sống còn, cho thấy độ biệt 
hóa của khối u là yếu tố tiên lượng tốt hơn so với 
kích thước khối u ≤ 2cm. (P=0,01). Tác giả Fei 
Zhao, 284 bệnh nhân được nghiên cứu và phân 
tích nhiều yếu tố (tuổi, giới tính, mô bệnh học, vị 
trí khối u, độ biệt hóa khối u, kích thước khối u) 
cho thấy chỉ có khối u kích thước (> 2,65 cm) và 
độ biệt hóa khối u là yếu tố nguy cơ đáng kể cho 
di căn hạch và thời gian sống thêm. 
Qua kết quả nghiên cứu của các tác giả trên, 
cho thấy cả kích thước khối u phổi và độ biệt hóa 
của khối u đều là các yếu tố tiên lượng độc lập cho 
thời gian sống còn, có tác giả còn cho rằng độ biệt 
hóa của khối u có sức mạnh tiên lượng tốt hơn, 
nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận điều này. 
V. KẾT LUẬN 
Qua phân tích trên, các yếu tố tiên lượng 
thời gian sống còn sau phẫu thuật kết hợp hóa xạ 
trị trong điều trị ung thư phổi nguyên phát gồm: 
giai đoạn ung thư phổi, phẫu thuật nạo hạch triệt 
để là hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất. Ngoài ra, 
số lượng và kích thước hạch di căn, cũng như độ 
biệt hóa và kích thước khối u phổi cũng là những 
yếu tố tiên lượng thời gian sống còn của bệnh 
nhân ung thư phổi không tế bào nhỏ. 
TÀI LIỆU THAM KHẢO 
1. Nguyễn Hoàng Bình (2015), Đánh giá 
tính khả thi và hiệu quả phẫu thuật nội soi cắt 
thùy phổi trong bệnh lý phổi, Luận án tiến sỹ Y 
học, Đại học Y - dược Thành phố Hồ Chí Minh, 
Thành phố Hồ Chí Minh. 
2. Ngô Quý Châu (2011). Ung thư phổi 
tiên phát. Bệnh hô hấp. Nhà xuất bản giáo dục 
Việt Nam, pp. 223-268. 
3. Vũ Anh Hải, Phạm Vinh Quang, Mai 
Văn Viện (2016), “Đánh giá kết quả Phẫu thuật 
nội soi lồng ngực hỗ trợ cắt thùy phổi điều trị ung 
thư phổi”, Tạp chí Y - Dược học Quân sự, 41(2), 
tr. 142 - 149. 
4. Nguyễn Thị Minh Hương (2005). Đánh 
giá kết quả điều trị ung thư phế quản phổi không 
phải tế bào nhỏ giai đoạn II-IIIA bằng phẫu thuật 
PHẪU THUẬT TIM MẠCH VÀ LỒNG NGỰC VIỆT NAM SỐ 23 - THÁNG 6/2018 
 84 
phối hợp xạ trị hậu phẫu, Luận văn thạc sĩ y học, 
Hà Nội. 
5. Nguyễn Khắc Kiểm (2016), Nghiên cứu 
nạo vét hạch theo bản đồ trong phẫu thuật điều 
trị ung thư phổi không tế bào nhỏ giai đoạn I – II 
– IIIA, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà nội, 
Hà nội. 
6. Lê Sỹ Sâm và Đỗ Kim Quế (2007). 
Kích thước khối u có liên quan với nguy cơ di 
căn hạch và tỷ lệ sống còn trong ung thư phổi 
không phải tế bào nhỏ. Y học Việt Nam, tập 328, 
số đặc biệt tháng 11/2006, tr. 346-54. 
7. Cù Xuân Thanh (2002). Nghiên cứu đặc 
điểm lâm sàng, X-quang phổi qui ước, các type 
mô bệnh học và điều trị phẫu thuật ung thư phổi 
ở người trên 60 tuổi, Luận án tiến sĩ y học, Học 
viện Quân Y. 
8. Bùi Chí Viết (2011), Phẫu trị Ung thư 
phổi nguyên phát không tế bào nhỏ, Luận án Tiến 
sỹ Y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí 
Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 
9. Amer K, Khan A-Z & Vohra H. A. 
(2011), "Video-assisted thoracic surgery of major 
pulmonary resections for lung cancer: the 
Southampton experience", European Journal of 
Cardio-thoracic Surgery, 39, pp 173—179. 
10. American Cancer Society (2012). Lung 
Cancer Facts & Figures. Atlanta, G. 
11. Barletta J. A., et al (2010). The 
Prognostic Significance of Grading in Lung 
Adenocarcinoma. Cancer. February 1; 116(3): 
659–669. doi:10.1002/cncr.24831. 
12. Carr SR, et al (2012). Impact of tumor 
size on outcomes after anatomic lung resection 
for stage 1A non-small cell lung cancer based on 
the current staging system. Journal of Thoracic 
and Cardiovascular Surgery;143(2):390-7. 
13. Cerfolio R J, et al (2017). The long-term 
survival of robotic lobectomy for non small cell 
lung cancer: A multi-institutional study. 
https://doi.org/10.1016/j.jtcvs.2017.09.016 
14. David B. (2013). “Effect of Tumor Size on 
Prognosis in Patients Treated with Radical 
Radiotherapy or Chemoradiotherapy for Non–Small 
Cell Lung Cancer”. J Thorac Oncol.;8: 315-321. 
15. Fei Zhao et al (2017). A prediction model 
for lymph node metastases using pathologic 
features in patients intraoperatively diagnosed as 
stage I non-small cell lung cancer. BMC Cancer 
17:267. DOI 10.1186/s12885-017-3273-x. 
16. Ferlay J, et al. (2010). Estimates of 
worldwide burden of cancer in 2008: GLOBOCAN 
2008. Int J Cancer. 127(12), pp. 2893-917. 
17. Fukino S, Fukata T, Hayashi E, Okada K, 
Tamai N, Morio S (2011). Lobectomy of the two or 
more lobes in patients with lung cancer, Japanese 
journal of thoracic surgery. 54(3), pp. 219-24. 
18. Higuchi M, et al (2014). Long-term 
outcomes after video-assisted thoracic surgery 
(VATS) lobectomy versus lobectomy via open 
thoracotomy for clinical stage IA non-small cell lung 
cancer. Journal of Cardiothoracic Surgery, 9:88. 
19. Ishida T., Yano T., Maeda K., Kaneko 
S., et al (2009). Strategy for lymphadenectomy in 
lung cancer three centimaters or less in diameter. 
Ann Thorac Surg, 50, pp. 708-13. 
20. Khan B., Mushtaq M. (2010). Setting 
the “Stage” for the New TNM Lung. Lung 
Cancer, 4(6), pp. 195-9. 
21. Lim E., Baldwin D., Beckles M., et al. 
(2010), "Guidelines on the radical management of 
patients with lung cancer", Thorax, 65 (Suppl 
III), p. iii 1 - iii 27. 
22. Manser R., Graham., Wright G., Hart 
D., et al (2005). Surgery for early stage non-small 
cell lung cancer. Cochrane Database of 
Systematic Reviews, (1): CD004699. 
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG THỜI GIAN SỐNG CÒN SAU PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI... 
 85 
23. Oda M., Ishikawa N., Tsunezuka Y., et 
al (2008). Closed three-port anatomic lobectomy 
with systematic nodal dissection for lung cancer. 
Ann Thorac Surg, 21, pp. 1454-65. 
24. Oliaro A, Leo F, Filosso P L, Rena O, et 
al (2009). “Resection for bronchogenic carcinoma 
in the elderly”. J Cardiovasc Surg (Torino), 
40(5), pp. 9-715. 
25. Prenzel K L, et al (2013). Lymph node 
size and metastatic infiltration in non-small cell 
lung cancer. Chest, 123, pp. 453-67. 
26. Scott W. J., Howington J., Feigenberg 
S., et al. (2007), "Treatment of Non - small Cell 
Lung Cancer Stage I and Stage II: ACCP 
Evidence - Based Clinical Practice Guidelines 
(2nd Edition)", Chest, 132, p. 234S - 242S. 
27. Shields T. W., LoCicero J., et al (2009). 
Lung Cancer. Surgical Treatment of non-small-
cell lung cancer. In General Thoracic Surgery, 
7th edition, pp. 1388-425. 
28. Shimosato Y. (2010). Pulmonary 
Neoplasms. Diagnostic surgical pathology, 
Lippincott William & Wilkins, Philadelphia, 
pp. 1069-15. 
29. Taioli E., Lee D. S., Lesser M., et al 
(2013). Long - term survival in video – assisted 
thoracoscopic lobectomy vs open lobectomy in 
lung - cancer patients: a meta - analysis, 
European Journal of Cardio - Thoracic Surgery, 
44, p. 591 - 597. 
30. Wenlong S., et al (2014). “Safety and 
feasibility of video-assisted thoracoscopic surgery 
for stage IIIA lung cancer”. Chin J Cancer 
Res;26(4):418-422. 
31. Wu Y., Hauang Z.F., Wang S.Y., et al 
(2012). A randomized trial of systematic nodal 
dissection in resectable non-small cell lung 
cancer. Lung Cancer, 36, pp. 1-6. 
32. Yamamoto K., Ohsumi A., Kojima F., 
et al. (2010), "Long – Term Survival After Video 
- Assisted Thoracic Surgery Lobectomy for 
Primary Lung Cancer", Ann Thorac Surg, 89, p. 
353 - 359. 
33. Zhang J., et al (2015). Relationship 
between tumor size and survival in non-small cell 
lung cancer (NSCLC): an analysis of the 
Surveillance, Epidemiology, and End Results 
(SEER) registry. J Thorac Oncol. April ; 10(4): 
682–690. 
34. Zhongwu H. U., et al (2010). “Study on 
the Prognosis of the T1a Non-small Cell Lung 
Cancer”. Chin J Lung Cancer, Vol.13, No.3 DOI: 
10.3779/j.issn.1009-3419.2010.03.04. 
35. Zongren G., Mingyao C., Shen W. 
(2009). “Surgical treatment of lung cancer for 
elderly patients”. Lung cancer: Journal of the 
international association for the study of lung 
cancer 9th world conference on lung cancer, 
Tokyo, Japan, pp. 145. 

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_tien_luong_thoi_gian_song_con_sau_phau_thuat_dieu.pdf