Các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ

Mục tiêu: Nghiên cứu các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai

phụ đái tháo đường thai kỳ.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên hai nhóm thai

phụ đái tháo đường thai kỳ hoặc không đến khám, theo dõi và kết thúc

thai kỳ tại khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng

1/2017 đến tháng 12/2017.

Kết quả: Đái tháo đường thai kỳ chiếm 8,9% thai phụ. Các yếu tố

nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ: tuổi mẹ, tình trạng thừa cân béo

phì trước mang thai, tiền sử gia đình và tiền sử sinh con to ≥ 3500 gram,

nhóm đái tháo đường thai kỳ chiếm tỷ lệ cao và có ý nghĩa thống kê

(p<0,05). quản="" lý="" thai="" nghén="" tốt="" biểu="" hiện="" bằng:="" chỉ="" số="" glucose="">

đói, HbA1c và tăng cân trong thai kỳ đạt mục tiêu khuyến cáo. Tỷ lệ mổ

lấy thai: nhóm đái tháo đường thai kỳ là 57,5% và nhóm chứng là 32,5%

(p<0,05). các="" tai="" biến="" chu="" sinh="" ở="" con="" như:="" quá="" dưỡng="" ≥="" 3500="" gram,="">

cân < 2500="" gram,="" vàng="" da="" bệnh="" lý,="" dị="" tật="" bẩm="" sinh,="" ngạt="" sơ="" sinh,="">

chết lưu không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Riêng tai biến hạ glucose

máu sơ sinh, nhóm đái tháo đường thai kỳ có tỷ lệ cao 27,5%.

Kết luận: Thực hiện sàng lọc đái tháo đường thai kỳ cho các thai phụ

nguy cơ cao và quản lý thai nghén dưới sự phối hợp giữa Bác sĩ sản phụ

khoa và Bác sĩ nội tiết. Khi đạt được sự kiểm soát tốt, các tai biến chu

sinh ở con không có sự khác biệt so với nhóm chứng.

pdf 6 trang phuongnguyen 120
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ

Các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai phụ đái tháo đường thai kỳ
ĐỖ VĂN HIỆP, NGUYỄN THỊ KIM ANH
54
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
Đỗ Văn Hiệp(1), Nguyễn Thị Kim Anh(2) 
(1) Bác sĩ nội trú Sản Phụ Khoa, (2) Đại học Y Dược Huế
CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VÀ KẾT CỤC THAI KỲ
Ở THAI PHỤ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ
Tác giả liên hệ (Corresponding author): 
Đỗ Văn Hiệp, 
email: [email protected] 
Ngày nhận bài (received): 08/06/2018
Ngày phản biện đánh giá bài báo (revised): 
25/06/2018
Ngày bài báo được chấp nhận đăng 
(accepted): 29/06/2018
Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ. 
Keywords: Gestational 
Diabetes Mellitus (GDM).
Tóm tắt
Mục tiêu: Nghiên cứu các yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ ở thai 
phụ đái tháo đường thai kỳ. 
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu dọc trên hai nhóm thai 
phụ đái tháo đường thai kỳ hoặc không đến khám, theo dõi và kết thúc 
thai kỳ tại khoa sản Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ tháng 
1/2017 đến tháng 12/2017. 
Kết quả: Đái tháo đường thai kỳ chiếm 8,9% thai phụ. Các yếu tố 
nguy cơ của đái tháo đường thai kỳ: tuổi mẹ, tình trạng thừa cân béo 
phì trước mang thai, tiền sử gia đình và tiền sử sinh con to ≥ 3500 gram, 
nhóm đái tháo đường thai kỳ chiếm tỷ lệ cao và có ý nghĩa thống kê 
(p<0,05). Quản lý thai nghén tốt biểu hiện bằng: chỉ số glucose máu 
đói, HbA1c và tăng cân trong thai kỳ đạt mục tiêu khuyến cáo. Tỷ lệ mổ 
lấy thai: nhóm đái tháo đường thai kỳ là 57,5% và nhóm chứng là 32,5% 
(p<0,05). Các tai biến chu sinh ở con như: quá dưỡng ≥ 3500 gram, nhẹ 
cân < 2500 gram, vàng da bệnh lý, dị tật bẩm sinh, ngạt sơ sinh, thai 
chết lưu không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Riêng tai biến hạ glucose 
máu sơ sinh, nhóm đái tháo đường thai kỳ có tỷ lệ cao 27,5%. 
Kết luận: Thực hiện sàng lọc đái tháo đường thai kỳ cho các thai phụ 
nguy cơ cao và quản lý thai nghén dưới sự phối hợp giữa Bác sĩ sản phụ 
khoa và Bác sĩ nội tiết. Khi đạt được sự kiểm soát tốt, các tai biến chu 
sinh ở con không có sự khác biệt so với nhóm chứng.
Từ khóa: đái tháo đường thai kỳ.
Abstract 
GESTATIONAL DIABETES MELLITUS: ASSOCIATED 
FACTORS AND PREGNANCY OUTCOMES
Objective: Investigating for the associated factors and pregnancy 
outcomes to pregnant women with GDM. 
Materials and methods: A cohort study in two groups of pregnant 
women with GDM or not who were managed and finished of pregnancy 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
55
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 54 - 59, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
in the Department of Obstetrics and Gynecology, Hospital of Hue University of Medicine and 
Pharmacy from January to December 2017.
Results: GDM has been estimated 8.9% of pregnancies. The risk factors of GDM: maternal age, 
overweight or obesity, first-degree relative with diabetes, previous birth of infant weighing 3500 
gram or more, pregnant women with GDM has high rate and has significance (p<0.05). The good 
management of GDM is presented by the fasting plasma glucose, HbA1c, weight management 
achieved the targets recommended. The rate of cesarean delivery is 57.5% in pregnant women with 
GDM and is 32.5% in control group (p<0.05). The neonetal complications: macrosomia ≥ 3500gram, 
underweight newborn < 2500gram, hyperbilirubinemia, congenital abnomalies, fetal demise, there is 
no difference between the two groups. Neonatal hypoglycemia has high rate in GDM, 27.5%. 
Conclusions: GDM should be screened generally high risk pregnancies and be managed by 
Obstetricians and Endocrinologists. With good management, the neonetal complications aren’t 
different from a control group.
Keyword: Gestational Diabetes Mellitus (GDM).
1. Đặt vấn đề
Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐ thai kỳ) là tình 
trạng rối loạn dung nạp glucose máu khởi phát 
hoặc được phát hiện lần đầu tiên trong lúc mang 
thai; không loại trừ những trường hợp đã có rối 
loạn dung nạp glucose máu từ trước nhưng chưa 
được phát hiện [3], [6], [7].
Đái tháo đường thai kỳ là một trong những 
rối loạn chuyển hóa thường gặp nhất trong thời 
gian mang thai và có xu hướng ngày càng tăng, 
nhất là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, trong 
đó có Việt Nam [7]. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ 
khác nhau phụ thuộc vào dân số, chủng tộc, chiến 
lược tầm soát, tiêu chí chẩn đoán; theo Hiệp hội 
Sản phụ khoa Hoa Kỳ (The American College of 
Obstetricians and Gynecologists – ACOG) (2017) 
là 6 – 9%; riêng tại Việt Nam: theo tác giả Diệu 
Vân và cộng sự (2011) là 11,7%, theo tác giả Minh 
Phú (2013) là 8,4% [1], [5], [7].
Nhiều nghiên cứu cho thấy, đái tháo đường thai 
kỳ là một biến cố y khoa lớn, nếu không được chẩn 
đoán và điều trị thích hợp sẽ làm gia tăng bệnh suất 
và tử suất của mẹ và thai nhi [6], [7]. Do đó, chúng 
tôi tiến hành nghiên cứu “Đái tháo đường thai kỳ các 
yếu tố liên quan và kết cục thai kỳ” với mong muốn 
làm rõ các yếu tố liên quan, nhằm tăng cường sàng 
lọc cho các thai phụ nguy cơ cao, đồng thời đánh 
giá kết cục thai kỳ để thấy rõ hiệu quả của quản lý 
thai nghén ở các trường hợp ĐTĐ thai kỳ được phát 
hiện và chẩn đoán so với nhóm chứng.
2. Đối tượng và phương 
pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu: có 2 nhóm
- Nhóm 1 (nhóm chứng): không đái tháo 
đường thai kỳ.
- Nhóm 2: đái tháo đường thai kỳ.
Trong thời gian từ tháng 1 năm 2017 đến tháng 
12 năm 2017, ghi nhận tất cả thai phụ đến khám 
và làm nghiệm pháp dung nạp glucose từ tuần thai 
24-28 tại phòng khám sản Bệnh viện Trường Đại 
học Y Dược Huế:
- Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose 
dương tính được chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ, được theo 
dõi và điều trị phối hợp giữa Bác sĩ nội tiết và Bác 
sĩ sản phụ khoa. Kết quả kết thúc thai kỳ ghi nhận 
vào nhóm bệnh.
ĐỖ VĂN HIỆP, NGUYỄN THỊ KIM ANH
56
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
- Kết quả nghiệm pháp dung nạp glucose âm 
tính được chẩn đoán không ĐTĐ thai kỳ, được theo 
dõi và khám thai định kỳ bởi Bác sĩ sản phụ khoa. 
Khi 01 trường hợp nhóm bệnh kết thúc thai kỳ, 
nhóm chứng ghi nhận 01 trường hợp ngẫu nhiên 
không ĐTĐ thai kỳ có thời gian kết thúc thai kỳ 
ngay sau và gần nhất.
- Số lượng 2 nhóm theo tỷ lệ 1:1.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đang mắc các bệnh có ảnh hưởng đến chuyển 
hóa glucose: cường giáp, suy giáp, Cushing, u tủy 
thượng thận, hội chứng Conn, to đầu chi, hội chứng 
buồng trứng đa nang, bệnh gan, suy thận
- Đang sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến 
chuyển hóa glucose: Corticoid, Salbutamol, thuốc 
chẹn giao cảm, lợi tiểu nhóm thiazide
- Đang mắc các bệnh cấp tính: nhiễm khuẩn, 
lao phổi...
- Thai phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu, 
mất dấu trong thời gian nghiên cứu hoặc kết thúc 
thai kỳ tại cơ sở y tế khác khoa sản Bệnh viện 
Trường Đại học Y Dược Huế .
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu dọc, 
lấy mẫu thuận tiện.
Phương pháp tiến hành
- Đặc điểm các yếu tố liên quan:
+ Đặc điểm thai phụ: tuổi, BMI trước mang thai, 
số cân nặng tăng trong thai kỳ.
+ Tiền sử sản khoa: sinh con to ≥ 3500g, tiền sử 
thai chết lưu 3 tháng cuối, sẩy thai, sinh non, thai 
dị dạng, tiền sản giật - sản giật.
+ Tiền sử rối loạn dung nạp glucose bao gồm 
cả tiền sử đái tháo đường thai kỳ lần trước, rối loạn 
dung nạp glucose ngoài thời kỳ thai nghén.
+ Tiền sử gia đình: thế hệ thứ nhất có người bị 
đái tháo đường.
+ Khám lâm sàng, cận lâm sàng: đo huyết áp, 
xét nghiệm máu, nước tiểu.
- Thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose 
đường uống (theo quy trình khuyến cáo của ADA 
2017 về đái tháo đường thai kỳ [6]): 
+ Chuẩn bị thai phụ: ghi phiếu hẹn khi thai phụ 
sàng lọc quý hai, nghiệm pháp được thực hiện từ 
tuần thai 24-28, vào buổi sáng từ 7-9 giờ và thai 
phụ phải nhịn đói ít nhất 8 giờ.
+ Tiến hành nghiệm pháp:
1. Xét nghiệm glucose huyết tương lúc đói
2. Thai phụ uống dung dịch glucose 30% lượng 
250ml trong thời gian 5 phút
3. Xét nghiệm glucose huyết tương sau 1 giờ
4. Xét nghiệm glucose huyết tương sau 2 giờ
5. Trong thời gian làm nghiệm pháp, thai phụ 
không được ăn hoặc uống bất kỳ thức ăn và thức 
uống nào, trừ nước lọc. Thai phụ được ngồi nghỉ 
ngơi, hạn chế vận động nhiều.
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ thai kỳ: khi có ít 
nhất 1 trong 3 xét nghiệm có giá trị thoả mãn tiêu 
chuẩn sau
- Theo dõi và điều trị trong thai kỳ
+ Theo dõi: HbA1c, glucose máu mao mạch, 
siêu âm theo dõi thai.
+ Điều trị: phối hợp giữa Bác sĩ nội tiết và Bác sĩ 
sản phụ khoa trong công tác tư vấn, điều trị, theo 
dõi và kiểm soát đường huyết, theo dõi và khám 
thai định kỳ, theo dõi chuyển dạ.
- Kết thúc thai kỳ
+ Các nguy cơ tai biến ở con: tuổi thai khi kết 
thúc thai kỳ, thai chết lưu, cân nặng, chỉ số Apgar 
(điểm), dị tật bẩm sinh, glucose máu sơ sinh, ngạt 
bẩm sinh, vàng da.
+ Các nguy cơ tai biến ở mẹ: tăng huyết áp lúc 
sinh, băng huyết sau sinh.
Tiêu chí đánh giá
- Đánh giá chỉ số BMI theo khuyến cáo của Tổ 
chức Y tế Thế giới đề nghị cho khu vực Châu Á - 
Thái Bình Dương tháng 2/2000.
- Glucose máu đói: là glucose máu lấy sau bữa 
ăn cuối cùng 8 - 12 giờ, làm vào buổi sáng, theo 
Hội nghị quốc tế lần thứ 4 về đái tháo đường thai kỳ.
- Tăng huyết áp: huyết áp ≥ 140/90mmHg theo 
tiêu chuẩn của JNC VII.
- Tiền sản giật - sản giật: gồm tăng huyết áp, 
phù, protein niệu ≥ 0,5g/24 giờ.
- Đẻ non: thai được sinh trong khoảng thời gian 
từ 28 tuần đến 36 tuần 6 ngày.
- Thai chết lưu: khi thai chết và lưu lại trong 
buồng tử cung trên 48 giờ. 
Thời điểm xét nghiệm
Ngưỡng glucose huyết tương
mg/dl mmol/l
Lúc đói 92 5,1
Thời điểm 1 giờ 180 10,0
Thời điểm 2 giờ 153 8,5
Bảng 1: Bảng tiêu chuẩn chẩn đoán
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
57
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 54 - 59, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
- Thai to: thai được định nghĩa là to khi trọng 
lượng sinh ra nằm trên đường bách phân vị thứ 90th 
so với tuổi thai hoặc trên 3500g.
- Sơ sinh nhẹ cân: khi trọng lượng sơ sinh lúc 
sinh < 2500g.
- Hạ glucose máu sơ sinh: khi nồng độ glucose 
máu ≤ 2,6 mmol/l trong 3 ngày đầu tiên sau khi đẻ.
- Ngạt sơ sinh: apgar <7 điểm sau 5 phút.
- Dị tật bẩm sinh: dị tật đường tiêu hóa, đường 
hô hấp, ống thần kinh...
Xử lý số liệu 
Số liệu nghiên cứu xử lý và phân tích bằng 
chương trình phần mềm SPSS 20.
Đạo đức nghiên cứu
Các xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu cũng 
là những xét nghiệm thường qui trong thực hành 
lâm sàng để chẩn đoán, điều trị và tiên lượng cho 
bệnh nhân đái tháo đường thai kỳ.
3. Kết quả
Qua nghiên cứu có 575 thai phụ đến khám 
và làm nghiệm pháp dung nạp glucose tại phòng 
khám khoa sản Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. 
Trong đó, có 51 thai phụ (chiếm 8,9%) đái tháo 
đường thai kỳ được theo dõi và 40 thai phụ kết thúc 
thai kỳ tại khoa sản Bệnh viện Đại học Y Dược Huế.
Có sự khác biệt về tuổi trung bình, tình trạng 
thừa cân trước mang thai, tiền sử gia đình giữa hai 
nhóm có và không đái tháo đường thai kỳ.
Sản phụ đái tháo đường thai kỳ có tiền sử 
sinh con to 27,5%. Các yếu tố: thai chết lưu 3 
Đặc điểm
Không ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
P
Tuổi trung bình 27,70 ± 5,56 31,38 ± 5,17 0,003
BMI trước mang thai ≥23 kg/m2 5 (12,5 %) 16 (40%) 0,005
Tiền sử gia đình 3 (7,5%) 11 (27,5%) 0,019
Tăng cân trong thai kỳ 11,48 ± 2,50 11,71 ± 3,76 0,740
Bảng 2: Đặc điểm dịch tễ
Đặc điểm
Không ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
P
Sinh con ≥ 3500g 4 (10%) 11 (27,5%) 0,045
Thai chết lưu 3 tháng cuối 1 (2,5%) 5 (12,5%) 0,090
Sinh thai dị dạng 0 (0%) 1 (2,5%) 0,314
Sinh non 2 (5%) 6 (15%) 0,136
Tiền sản giật - Sản giật 5 (12,5%) 8 (20%) 0,363
Bảng 3: Tiền sử sản khoa
tháng cuối, sinh non, sinh thai dị dạng, tiền sản 
giật – sản giật sự khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê.
Nhóm ĐTĐ thai kỳ có glucose máu đói trung 
bình: 5,15 mmol/l, HbA1c trung bình: 5,01%. Sự 
khác biệt về glucose máu đói và HbA1c trung bình 
giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê.
Kết thúc thai kỳ bằng mổ lấy thai chiếm tỷ lệ 
cao ở ĐTĐ thai kỳ 57,5% và sự khác biệt có ý nghĩa 
thống kê.
Trọng lượng thai trung bình của nhóm ĐTĐ thai 
kỳ là 3210 gram cao hơn so với nhóm chứng là 
3045 gram, sự khác biệt không có ý nghĩa thống 
kê. Trọng lượng thai lớn nhất của nhóm ĐTĐ thai 
kỳ là 4400 gram.
Không có sự khác biệt về các tai biến chu sinh 
ở con như: quá dưỡng ≥ 3500 gram, nhẹ cân < 
2500 gram, vàng da bệnh lý, dị tật bẩm sinh, ngạt 
sơ sinh, thai chết lưu. Riêng tai biến hạ glucose 
máu sơ sinh có sự khác biệt rõ, nhóm ĐTĐ thai kỳ 
có tỷ lệ cao 27,5%.
Trung bình Không ĐTĐ thai kỳ ĐTĐ thai kỳ P
Glucose máu đói (mmol/l) 4,81 ± 0,65 5,15 ± 0,94 0,066
HbA1c (%) 4,86 ± 0,43 5,01 ± 0,37 0,098
Bảng 4: Kiểm soát đường máu
Phương thức kết thúc thai kỳ
Không ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
P
Sinh ngã âm đạo 27 (67,5%) 17 (42,5%)
0,025
Mổ lấy thai 13 (32,5%) 23 (57,5%)
Bảng 5: Phương thức kết thúc thai kỳ
Tai biến
Không ĐTĐ thai kỳ
(n = 40)
Tần suất (%)
ĐTĐ thai kỳ
(n = 40 )
Tần suất (%)
P
Con to ≥ 3500g 8 (20%) 10 (25%) 0.592
Sơ sinh nhẹ cân < 2500 gram 4 (10%) 1 (2,5%) 0.166
Hạ glucose máu sơ sinh 3 (7,5%) 11 (27,5%) 0.019
Dị tật bẩm sinh 1 (2,5%) 2 (5,0%) 0,556
Vàng da bệnh lý 5 (12,5%) 6 (15%) 0,745
Ngạt sơ sinh 1 (2,5%) 0 (0%) 0,314
Chết lưu 0 (0%) 0 (0%) 1,000
Bảng 7: Tỷ lệ các tai biến chu sinh ở con
Trọng lượng thai Không ĐTĐ thai kỳ ĐTĐ thai kỳ P
Trung bình (gram) 3045 ± 444 3210 ± 401 0,085
Lớn nhất (gram) 4000 4400
Nhỏ nhất (gram) 2200 2400
Bảng 6: Trọng lượng thai
ĐỖ VĂN HIỆP, NGUYỄN THỊ KIM ANH
58
Tậ
p 
16
, s
ố 
02
Th
án
g 
08
-2
01
8
SẢ
N
 K
H
O
A
 –
 S
Ơ
 S
IN
H
4. Bàn luận
Qua nghiên cứu, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ 
là 8,9%. Các nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ đái 
tháo đường thai kỳ có sự thay đổi, theo ACOG 
(2017) là 6 – 9%; riêng tại Việt Nam: theo tác giả 
Diệu Vân và cộng sự (2011) là 11,7%, theo tác giả 
Minh Phú (2013) là 8,4%, nghiên cứu của Jane 
Hirst tại bệnh viện Hùng Vương (2011) là 5,9% [1], 
[5], [7], [9]. Sự dao động này là do sự khác nhau 
trong chiến lượt tầm soát và tiêu chí chẩn đoán 
cũng như đặc thù của dân số nghiên cứu [5]. Tuy 
nhiên, xu hướng đái tháo đường thai kỳ ngày càng 
tăng, nhất là khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, 
trong đó có Việt Nam [7].
Đồng thời, có sự thống nhất quan điểm về các 
yếu tố nguy cơ của ĐTĐ thai kỳ giữa ADA (2017) 
và ACOG (2017): tuổi mẹ, tình trạng thừa cân béo 
phì trước mang thai, tiền sử gia đình và tiền sử sinh 
con to ≥ 4000 gram [6], [7]. Nghiên cứu cho thấy, 
có sự khác biệt về các yếu tố trên giữa hai nhóm, 
trong đó nhóm ĐTĐ thai kỳ có tuổi mẹ trung bình 
cao 31,38; 40% thai phụ thừa cân béo phì trước 
mang thai và 27,5% có tiền sử gia đình ĐTĐ thế 
hệ thứ nhất; đồng quan điểm với các tác giả Diệu 
Vân [1], Hoa Ngần [4]. Vì vậy, ADA và ACOG đã 
khuyến cáo thực hiện tầm soát và phát hiện ĐTĐ 
trước mang thai hoặc ĐTĐ thai kỳ sớm ở những thai 
phụ nguy cơ cao [6], [7].
Tuy nhiên, sự tăng cân trong thai kỳ ở hai nhóm 
là tương đương nhau: 11,48 và 11,71kg, đây là 
kết quả của sự quản lý thai nghén tốt, đặc biệt 
ở nhóm ĐTĐ thai kỳ. Vấn đề này đã được ADA 
(2017) khuyến cáo: một trong các biện pháp quản 
lý thai nghén ở bệnh nhân đái tháo đường là kiểm 
soát cân nặng và số kilogram tăng phụ thuộc cân 
nặng trước mang thai, trong đó tăng 7 – 11kg với 
đối tượng thừa cân và tăng 4 – 9kg với đối tượng 
béo phì [6].
Chỉ số glucose máu và HbA1c là một trong các 
yếu tố để theo dõi và đánh giá sự kiểm soát đường 
máu trong thai kỳ. Có sự đồng thuận về mục tiêu 
giữa ADA (2017) và ACOG (2017) là: đường máu 
đói < 5,3 mmol/l, đường máu một giờ sau ăn < 
7,8 mmol/l và đường máu hai giờ sau ăn < 6,7 
mmol/l; mục tiêu HbA1c là 6 – 7%; < 6% có thể là 
lý tưởng nếu không có hạ đường máu có ý nghĩa, 
nhưng mục tiêu có thể nới rộng < 7% nếu cần 
thiết để ngăn ngừa hạ đường máu [6], [7]. Tăng 
glucose máu mạn tính gây rối loạn chức năng, tổn 
thương hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt trong thời 
gian mang thai; đồng thời tăng tử suất và bệnh 
suất của mẹ và thai nhi [2], [3], [6], [7]. Nghiên 
cứu cho thấy, nhóm ĐTĐ thai kỳ đạt mục tiêu kiểm 
soát đường máu tốt: glucose máu đói trung bình: 
5,15 mmol/l, HbA1c trung bình: 5,01%. Đây là 
kết quả của sự phối hợp trong tầm soát, chẩn đoán 
và quản lý thai nghén giữa Bác sĩ sản phụ khoa và 
Bác sĩ nội tiết.
Kết thúc thai kỳ bằng phương pháp mổ lấy thai 
chiếm tỷ lệ 57,5% ở ĐTĐ thai kỳ và 42,5% ở nhóm 
chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nhóm 
ĐTĐ thai kỳ nếu được chẩn đoán tăng nguy cơ bị 
mổ lấy thai so với nhóm chứng là 1,37 lần theo 
WHO hay 1,23 lần theo IADPSG [13]. Chỉ định 
mổ lấy thai ở thai phụ ĐTĐ được ACOG (2017) 
khuyến cáo nhằm tránh các tai biến cho thai, 
đặc biệt khi trọng lượng thai dự kiến ≥ 4500g [7] 
khuyến cáo mức độ B. Một nghiên cứu đa trung 
tâm HAPO (2008) chứng minh có mối liên hệ giữa 
nồng độ glucose máu mẹ và trọng lượng thai, tỷ 
lệ mổ lấy thai, hạ đường huyết lâm sàng và tăng 
insulin máu trẻ sơ sinh [12].
Sự vận chuyển quá mức glucose đến thai do 
tăng glucose máu mẹ dẫn đến phát triển quá mức 
của thai, đồng thời kích thích thai nhi tăng sản xuất 
insulin [10]. Các nghiên cứu đã ghi nhận thai to 
có nguy cơ cao kẹt vai, sang chấn chuyển dạ, hạ 
đường huyết sơ sinh lâm sàng ,hồi sức sơ sinh và 
tỷ lệ mổ lấy thai [6], [7]. Những yếu tố khác ở thai 
phụ có thể làm thai to gồm: béo phì, tăng lipid 
máu, tăng amino acid, chức năng của nhau thai, 
đáp ứng của thai nhi với môi trường dinh dưỡng 
[9]. Kết quả nghiên cứu trọng lượng thai trung bình 
của nhóm ĐTĐ thai kỳ là 3210 gram cao hơn so 
với nhóm chứng là 3045 gram, sự khác biệt không 
có ý nghĩa thống kê. Trọng lượng thai lớn nhất của 
nhóm ĐTĐ thai kỳ là 4400 gram.
Các nguy cơ của thai nhi có mẹ ĐTĐ thai kỳ 
đã được khẳng định: thai to, hạ đường huyết, tăng 
bilirubin máu, hội chứng nguy ngập hô hấp, hạ 
calci và nhiều biến cố khác nữa được công bố 
với tần suất khác nhau [6], [7]. Nghiên cứu mới 
của Hiệp hội nghiên cứu đái tháo đường Châu Âu 
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 14(01), XX-XX, 2016
59
Tậ
p 
14
, s
ố 
04
Th
án
g 
05
-2
01
6
TẠ
P C
H
Í PH
Ụ
 SẢ
N
 - 16(02), 54 - 59, 2018
Tập 16, số 02
Tháng 08-2018
(2016) được công bố tại Munich, Đức cho thấy: cả 
đái tháo đường thai kỳ và đái tháo đường trước 
mang thai liên quan đến nhiều kết cục xấu cho thai 
nhi [8]. Một nghiên cứu khác ở Mỹ (2009), Landon 
M.B cho thấy điều trị đái tháo đường tuy không làm 
giảm có ý nghĩa tỷ lệ thai chết lưu, chết chu sinh và 
một số biến chứng nặng ở trẻ sơ sinh nhưng lại làm 
giảm nguy cơ thai to, trật khớp vai, mổ đẻ, tăng 
huyết áp [11]. Nghiên cứu của chúng tôi, không 
có sự khác biệt về các biến cố tai biến chu sinh ở 
con như: quá dưỡng ≥ 3500 gram, nhẹ cân <2500 
gram, dị tật bẩm sinh, ngạt sơ sinh, vàng da bệnh 
lý, thai chết lưu; đây là kết quả của quá trình kiểm 
soát thai nghén tốt thể hiện bằng sự tăng cân trong 
thai kỳ, trọng lượng sơ sinh, chỉ số glucose máu đói 
đã nói ở trên. Riêng tai biến hạ glucose máu sơ 
sinh có sự khác biệt rõ, nhóm ĐTĐ thai kỳ có tỷ lệ 
cao 27,5% so với 7,5% ở nhóm chứng.
5. Kết luận
ĐTĐ thai kỳ chiếm 8,9% thai phụ. Các yếu tố 
nguy cơ của ĐTĐ thai kỳ: tuổi mẹ, tình trạng thừa 
cân béo phì trước mang thai, tiền sử gia đình và 
tiền sử sinh con to ≥ 3500 gram, nhóm ĐTĐ thai kỳ 
chiếm tỷ lệ cao và có ý nghĩa thống kê (p<0,05). 
Quản lý thai nghén tốt biểu hiện bằng: chỉ số 
glucose máu đói, HbA1c và tăng cân trong thai kỳ 
đạt mục tiêu khuyến cáo. Tỷ lệ mổ lấy thai: nhóm 
ĐTĐ thai kỳ là 57,5% và nhóm chứng là 32,5% 
(p<0,05). Các tai biến chu sinh ở con như: quá 
dưỡng ≥ 3500 gram, nhẹ cân < 2500 gram, vàng 
da bệnh lý, dị tật bẩm sinh, ngạt sơ sinh, thai chết 
lưu không có sự khác biệt giữa hai nhóm. Riêng tai 
biến hạ glucose máu sơ sinh, nhóm ĐTĐ thai kỳ có 
tỷ lệ cao 27,5%.
Kiến nghị
ĐTĐ thai kỳ là một trong những rối loạn chuyển 
hóa thường gặp nhất trong thai kỳ và có xu hướng 
ngày càng tăng. ĐTĐ thai kỳ nếu không được chẩn 
đoán và điều trị thích hợp sẽ làm gia tăng bệnh 
suất và tử suất của mẹ và thai nhi. Vì vậy, khuyến 
cáo thực hiện sàng lọc ĐTĐ thai kỳ cho các thai phụ 
nguy cơ cao và khi phát hiện thai phụ được quản 
lý thai nghén dưới sự phối hợp giữa Bác sĩ sản phụ 
khoa và Bác sĩ nội tiết. Khi đạt được sự kiểm soát 
tốt, các tai biến chu sinh ở con không có sự khác 
biệt so với nhóm chứng.
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Khoa Diệu Vân, Thái Thị Thanh Thúy (2015), “Nghiên cứu 
tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu 
tố nguy cơ”, Tạp chí nghiên cứu y học 97(5), tr. 25-34.
2. Bộ môn Phụ Sản trường Đại Học Y Dược Huế (2016), “Đái tháo 
đường và thai nghén”, Giáo trình Sản khoa, Nhà xuất bản y học, tr. 
387-398.
3. Bộ y tế (2017), “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường 
típ 2”, Quyết định số 3319/QĐ-BYT.
4. Nguyễn Hoa Ngần, Nguyễn Kim Lương (2010), “ Ngiên cứu thực 
trạng đái tháo đường thai kỳ ở phụ nữ được khám thai tại Bệnh viện A 
Thái Nguyên”, Y học thực hành 739(10), tr. 46-49.
5. Lê Thị Minh Phú (2013), “Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ và các yếu 
tố liên quan tại khoa sản bệnh viện Nguyễn Tri Phương” 
6. American Diabetes association (2017), “Standards of Medical Care 
in Diabetes-2017”, The journal of clinical and applied research and 
education, 40(1).
7. The American College of Obstetricians anf Gynecologists (2017), 
“Gestational Diabetes Mellitus”, ACOG Practice Bulletin, 180.
8. Basilio Pintuadi and colleagues (2016), “Gestational diabetes, diabetes 
before pregnancy associated with several poor outcomes for baby, 
including abnormal size, jaundice, low blood sugar, and malformations”, 
European Association for the Study of Diabetes 2016.
9. Jane E Hirst and colleagues (2011), “Women with gestational 
diabetes in Vietnam: a qualitative study to determine attitudes and health 
behaviours”, BMC Pregnancy and Childbirth 2012.
10. Kuzuya, T., Nakagawa, S., Satoh, J., Kanazawa, Y., Iwamoto, Y., 
Kobayashi, M., et al. (2002), “Report of the Committee on the classification 
and diagnostic criteria of diabetes mellitus”, Diabetes Res Clin Pract, 
55(1), 65-85.
11. Landon M.B (2009). A Multicenter, Randomized trial of treament for 
mild gestational diabetes. The New England Journal of medicine, 361, 
1339 - 1348.
12. Metzger BE, Lowe LP, Dyer AR, Trimble ER, Chaovandr U, Coustan 
DR , et al, Hyperglycemia and adverse pregnancy outcomes. HAPO Study 
Cooperative Research Group, N Engl J Med 2008;358: 1991-2002.

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_lien_quan_va_ket_cuc_thai_ky_o_thai_phu_dai_thao.pdf