Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

Đặt vấn đề: Theo hướng dẫn mới về điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút, bệnh

nhân được điều trị thuốc ARV không phụ thuộc vào CD4. Tuy nhiên những nghiên cứu đánh

giá về thực trạng tuân thủ điều trị trong bối cảnh điều trị sớm chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan

sau khi triển khai điều trị ARV phổ biến ở Việt Nam.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 05 phòng

khám ART tại 03 tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, Lào Cai từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017. Việc

tuân thủ điều trị ARV trong tháng vừa qua được đo bằng thang điểm trực quan VAS (Visual

Analog Scale). Bên cạnh đó, thông tin về việc quên liều trong 4 ngày qua và trì hoãn uống thuốc

kéo dài 7 ngày cũng được thu thập.

pdf 8 trang phuongnguyen 220
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
NGHIÊN CỨU
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ
ĐIỀU TRỊ ARV Ở BỆNH NHÂN NHIỄM 
HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM
Mai Thị Huệ1
1 Phân hiệu trường Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa
Chịu trách nhiệm chính: Mai Thị Huệ.
Ngày nhận bài: 15/12/2019; Ngày phản biện khoa học: 28/12/2019; Ngày duyệt bài: 05/01/2020
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề: Theo hướng dẫn mới về điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút, bệnh 
nhân được điều trị thuốc ARV không phụ thuộc vào CD4. Tuy nhiên những nghiên cứu đánh 
giá về thực trạng tuân thủ điều trị trong bối cảnh điều trị sớm chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan 
sau khi triển khai điều trị ARV phổ biến ở Việt Nam.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 05 phòng 
khám ART tại 03 tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, Lào Cai từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017. Việc 
tuân thủ điều trị ARV trong tháng vừa qua được đo bằng thang điểm trực quan VAS (Visual 
Analog Scale). Bên cạnh đó, thông tin về việc quên liều trong 4 ngày qua và trì hoãn uống thuốc 
kéo dài 7 ngày cũng được thu thập.
Kết quả: Trong số 482 bệnh nhân nhiễm HIV, tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 54,5%. Điểm 
tuân thủ VAS cao hơn ở đối tượng không hút thuốc (Coef. = 4.19, 95% CI: 0.42 - 7.97), có số 
lượng CD4 ban đầu cao hơn (Coef. = 4.35, 95% CI: 0.58 - 8.13) và không gặp khó khăn khi đi 
lại (Coef. = 6,17, 95%CI: 2,27 - 10,06). Tuân thủ điều trị có liên quan đến việc sống ở vùng núi 
(OR = 5,34, 95%CI: 2,81 - 10,16). Phụ nữ ít có khả năng trì hoãn việc uống thuốc trong 7 ngày 
qua (OR = 0,19, 95% CI: 0,07 - 0,52).
Kết luận: Trong bối cảnh điều trị ART sớm tại Việt Nam, cách tiếp cận này phải song song 
với phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ.
Abstract
THE FACTORS AFFECTING COMPLIANCE ARV TREATMENT IN HIV/AIDS 
INFECTED PATIENTS IN VIETNAM
Background: According to the new guidelines for the treatment of HIV/AIDS with 
antiretroviral drugs, patients on ART are not dependent on CD4. However, studies assessing 
44 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
the status of adherence to treatment in the context of early treatment have not been adequately 
studied.
Objectives: This study aims to assess adherence to antiretroviral therapy and related factors 
after implementing antiretroviral treatment in Vietnam.
Materials and methods: A cross-sectional descriptive study was conducted in 05 ART clinics 
in 03 provinces: Hanoi, Thanh Hoa, Lao Cai from July to September 2017. Compliance with 
ARV treatment in the month is measured using a VAS (Visual Analog Scale) visual scale. In 
addition, information on missed doses for the past 4 days and delayed pill taking for 7 days was 
also collected.
Results: Among 482 patients with HIV infection, the non-compliance rate was 54.5%. VAS 
compliance scores were higher in non-smokers (Coef. = 4.19, 95% CI: 0.42 - 7.97), with a higher 
initial CD4 count (Coef. = 4.35, 95% CI: 0.58 - 8.13) and no trouble walking (Coef. = 6.17, 95% 
CI: 2.27 - 10.06). Adherence to treatment is related to living in mountainous areas (OR = 5.34, 
95% CI: 2.81 - 10.16). Women are less likely to delay taking medication for the past 7 days (OR 
= 0.19, 95% CI: 0.07 - 0.52)
Conclusion: In the context of early ART treatment in Vietnam, this approach must be 
complete with resource allocation and service delivery.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ 
HIV/AIDS hiện nay được xem là một bệnh 
mãn tính thay vì cấp tính do bệnh nhân ngày 
càng có cơ hội tiếp cận với dịch vụ điều trị 
ART [1]. Phương pháp điều trị này đã được 
chứng minh có hiệu quả trộng việc giảm tỉ 
lệ tử vong, bệnh nhiễm trùng cơ hội, và kéo 
dài thời gian sống cho bệnh nhân [2-3}. Vì 
vậy, việc phổ rộng điều trị ART là một trong 
những giải pháp quan trọng để chấm dứt 
HIV/AIDS.
Năm 2015, tổ chức Y tế thế giới WHO đã 
sửa đổi hướng dẫn điều trị ART [4]. Theo 
đó, bệnh nhân nên được điều trị ART không 
phụ thuộc vào tình trạng CD4. Việt Nam là 
một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng 
hướng dẫn này. Năm 2015, mức CD4 chuẩn 
để bắt đầu điều trị ART là 500 cell/mm3 [5]. 
Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể gặp phải 
thử thách mới trong bối cảnh giảm thiểu quỹ 
kiểm soát HIV/AIDS tại Việt Nam. Bên cạnh 
đó, việc điều trị ART trong tình trạng sức khỏe 
tốt có thể dẫn đến không tuân thủ điều trị.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm & thiết kế nghiên cứu: 
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt 
ngang từ tháng 07 đến 09 năm 2017 tại 03 
tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, và Lào Cai.
2.2. Đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi lựa 
chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên các tiêu 
chuẩn sau: 1) Trên 18 tuổi; 2) Có mặt tại địa 
điểm nghiên cứu; 3) Đang điều trị ART tại địa 
điểm nghiên cứu; 4) Đồng ý tham gia nghiên 
cứu; 5) Không bị các vấn đề về tâm thần.
2.3. Công cụ và thang đo: Chúng tôi thu 
thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực 
tiếp dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn. 
Các cấu trúc của bộ câu hỏi bao gồm các phần 
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 45
NGHIÊN CỨU
sau: tuổi, nơi sinh sống, tình trạng hôn nhân, 
trình độ học vấn, nghề nghiệp, khó khăn về 
đi lại. Điểm tuân thủ điều trị VAS, quên uống 
thuốc trong vòng 4 ngày qua, uống thuốc trễ 
trong vòng 1 tuần qua. Chúng tôi thu thập các 
thông tin liên quan đến tình trạng hút thuốc, 
uống rượu, tiền sử sử dụng thuốc phiện/ tiêm 
chích, và hiện trạng nghiện thuốc. Chúng tôi 
sử dụng bộ công cụ Alcohol Use Disorders 
Identification Test-Consumption (AUDIT-C) 
để đánh giả mức độ nghiện rượu với thang 
điểm từ 0 đến 12. Hiện trạng hút thuốc lá 
được định nghĩa là có hút thuốc trong vòng 
30 ngày qua.
2.4. Phân tích số liệu: Số liệu được phân 
tích bằng phần mềm STATA. Chúng tôi sử 
dụng các test Mann-Whitney, Chi-square và 
Fisher’s Exact để đánh giá sự khác biệt của các 
yếu tố giữa hai nhóm nam và nữ. Mô hình hồi 
quy Tobit đến điểm tuân thủ điều trị VAS.
2.5. Đạo đức nghiên cứu: Đề cương nghiên 
cứu đã được phê duyệt bởi Hội đồng Đạo đức 
của trường Đại học Y Hà Nội.
III. KẾT QUẢ
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu
Nam Nữ Tổng 
P-value
n % n % n %
Trình độ học vấn 
< Cấp ba 194 65.5 121 66.9 315 66.0
0.60Cấp ba 89 30.1 49 27.1 138 28.9
> Cấp ba 13 4.4 11 6.1 24 5.3
Nơi sinh
Nông thôn 92 31.0 49 26.8 141 29.4
0.6Thành thị 84 28.3 58 31.7 142 29.6
Miến núi 121 40.7 76 41.5 197 41.0
Tình trạng hôn nhân
Độc thân 59 19.9 16 8.8 75 15.7
< 0.01Sống chung với người tình 218 73.7 100 55.0 318 66.5
Li thân/li dị/góa 19 6.4 66 36.3 85 17.8
Khó khăn về đi lại
Có 106 36.1 80 44.2 186 39.2
0.08
Không 188 64.0 101 55.8 289 60.8
Mean SD Mean SD Mean SD
Tuổi 39.3 8.0 36.8 8.4 38.4 8.3 <0.01
Bảng 3.1 cho thấy hầu hết đối tượng nghiên cứu có trình độ dưới cấp ba (66%), sống ở 
thành thị (70.6%) và sống với người tình/vợ (66.5%). Có khoảng gần 40% cảm thấy khó khăn 
trong việc đi lại đến cơ sở ART. Tuổi trung bình của nam (39.3 tuổi, SD=8.0) cao hơn so với 
nữ (36.8 tuổi, SD= 8.4) (p<0.01).
46 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV 
Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM
Bảng 3.2: Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu
Nam Nữ Tổng 
P-value
n % n % n %
CD4 ban đầu (cells/mm3)
<200 77 33.1 21 16.3 98 27.1
<0.01200-350 51 21.9 21 16.3 72 19.9
≥350 105 45.1 87 67.4 192 53.0
CD4 mới nhất (cells/mm3)
<200 45 19.3 13 10.1 58 16.0
<0.01200-350 55 23.6 15 11.6 70 19.3
≥350 133 57.1 101 78.3 234 64.6
Giai đoạn HIV 
Không triệu chứng 156 74.6 105 79.6 261 76.5
0.30
Có triệu chứng 53 25.4 27 20.5 80 23.5
Thời gian điều trị ART
<1 năm 19 6.8 12 6.9 31 6.9
<0.05
1-2 năm 90 32.4 34 19.5 124 27.4
3-5 năm 104 37.4 81 46.6 185 40.9
>5 năm 65 23.4 47 27.0 112 24.8
Đồng điều trị với MMT
Có 71 24.7 3 1.9 74 16.5
<0.01
Không 217 75.4 158 98.1 375 83.5
Mức độ hài lòng
Hoàn toàn hài lòng 257 91.1 170 95.0 427 92.6
0.20Hài lòng một phần 24 8.5 8 4.5 32 6.9
Không hài lòng 1 0.4 1 0.6 2 0.4
* MMT: Methadone Maintenance Treatment
Bảng 3.2 tổng hợp các thông tin về đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu. Phần lớn đối 
tượng có mức CD4 ≥ 350 cells/mm3 (53.0%), trong đó nam có mức CD4 ban đầu cao hơn nữ (p 
<0.01). Về giai đoạn HIV, chỉ có 3.9% ở giai đoạn AIDS. Hầu hết bệnh nhân được điều trị ART 
hơn một năm (93.1%) và khoảng 93% hoàn toàn hài lòng với chất lượng điều trị. Tỉ lệ bệnh nhân 
có điều trị Methadone duy trì (MMT) là 16.5%, trong đó tỉ lệ đồng điều trị ART và MMT cao 
hơn ở nữ (p < 0.01).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 47
NGHIÊN CỨU
Bảng 3.3: Hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu
Nam Nữ Tổng 
P-value
n % n % n %
Nghiện rượu nặng
Có 172 57.9 12 6.6 184 38.5
<0.01
Không 125 42.1 169 93.4 294 61.5
Hiện tại hút thuốc
Có 218 75.17 7 3.85 225 47.67
<0.01
Không 72 24.83 175 96.15 247 52.33
Tiền sử thuốc phiện
Có 208 70.0 7 3.8 215 44.8
<0.01
Không 89 30.0 176 96.2 265 55.2
Hiện tại dùng thuốc phiện
Có 64 21.8 3 1.6 67 14.1
<0.01
Không 229 78.2 180 98.4 409 85.9
Tiền sử tiêm chích
Có 191 64.8 6 3.3 197 41.2
<0.01
Không 104 35.3 177 96.7 281 58.8
Bảng 3.3 mô tả các hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu. Khoảng 1/3 số bệnh nhận 
nghiện rượu nặng (38.5%), và hơn một nửa bệnh nhân khai báo hiện trạng hút thuốc lá. Bên 
cạnh đó, có khoảng 14% bệnh nhân nghiện thuốc phiện tại thời điểm hiện tại. Đáng chú ý, 
tiền sử tiêm chích khá phổ biến (41.2%). Tất cả các yếu tố nguy cơ bao gồm uống rượu, hút 
thuốc, tiêm chích cao hơn ở nhóm nam so với nhóm nữ (p <0.01).
Bảng 3.4: Tuân thủ điều trị ART của đối tượng nghiên cứu
Nam Nữ Tổng 
P-value
n % n % n %
Tuân thủ điều trị
Có 117 41.6 89 51.7 206 45.5
<0.05
Không 164 58.4 83 48.3 247 54.5
Quên thuốc trong 4 ngày qua 
Có 13 4.5 5 2.8 18 3.9
0.34
Không 274 95.5 175 97.2 449 96.2
Uống thuốc muộn trong 1 tuần qua
Có 49 17.3 9 5.0 58 12.5
<0.01
Không 234 82.7 171 95.0 405 87.5
48 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV 
Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM
Nam Nữ Tổng 
P-value
n % n % n %
Mean SD Mean SD Mean SD
Điểm tuân thủ VAS 88.8 12.8 90.2 15.6 89.3 8.2 <0.01
Bảng 3.4 mô tả về tình trạng tuân thủ điều trị ART của đối tượng nghiên cứu. Có khoảng 
45.5% tuân thủ điểu trị. Chỉ có 3.9% quên uống thuốc trong 4 ngày qua và 13.5% uống thuốc 
muộn trong tuần vừa qua.
Bảng 3.5: Yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ART
Điểm VAS 
Coef. 95% CI
Giới tính (vs Nam)
Nữ 
Nơi sống (vs Thành thị)
Nông thôn -4.87** (-9.00 - -0.74)
Nghề nghiệp (vs Thất nghiệp)
Có nghề nghiệp -5.29** (-9.62 - -0.96)
Học vấn (vs < Cấp ba)
Cấp ba -2.84 (-6.79 - 1.12)
> Cấp ba 8.02* (-1.25 - 17.30)
Khó khăn đi lại (vs Có)
Không 6.17*** (2.27 - 10.06)
Hiện tại hút thuốc (vs Có)
Không 4.19** (0.42 - 7.97)
CD4 ban đầu (vs <500 cell/mm3)
≥500 cell/mm3 4.35** (0.58 - 8.13)
CD4 mới nhất (vs <500 cell/mm3)
≥500 cell/mm3
Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ART được thể hiện ở Bảng 5. Không hút thuốc 
(Coef.= 4.19, 95%CI: 0.42 - 7.97), CD4 ban đầu ≤500 cells/mm3 (Coef.= 4.35, 95%CI: 0.58 - 
8.13), và không có khó khăn về đi lại (Coef.= 6.17, 95%CI: 2.27 - 10.06) là các yếu tố ảnh hưởng 
đến việc tăng điểm tuân thủ VAS. Trong khi đó, sống ở vùng núi có liên quan mật thiết đến việc 
không tuân thủ điều trị (OR = 5.34, 95%CI: 2.81 - 10.16). Thêm vào đó, phụ nữ ít có khả năng 
uống thuốc muộn trong vòng một tuần qua so với nam giới (OR = 0.19, 95% CI: 0.07 - 0.52).
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 49
NGHIÊN CỨU
IV. BÀN LUẬN
Nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ không tuân 
thủ điều trị ở nhóm đối tượng nghiên cứu 
khá cao. Sống ở khu vực miền núi, khó khăn 
về đi lại, hiện tại hút thuốc là các yếu tố làm 
gia tăng khả năng không tuân thủ điều trị. 
Ngược lại, nữ giới, có mức CD4 ban đầu cao 
là các yếu gia tăng khả năng tuân thủ điều trị.
So sánh với các nghiên cứu trước tại Việt 
Nam, tỉ lệ không tuân thủ điều trị ở nghiên 
cứu này cao hơn [6-7]. Điều này có thể do thời 
điểm nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu của 
chúng tôi được thực hiện sau khi triển khai 
hướng dẫn mới về điều trị ART. Bên cạnh đó, 
kết quả này có thể được lý giải là việc điều trị 
ART sớm có thể làm gia tăng gánh nặng về tài 
chính. Điều này cho thấy việc điều trị ART 
sớm cần đi liền với các giải pháp giảm thiểu 
gánh nặng về tài chính cho bệnh nhân.
Mô hình hồi quy cho thấy rằng nữ giới có 
nhiều khả năng tuân thủ điều trị ART hơn so 
với nam giới. Kết quả này phù hợp với nhiều 
nghiên cứu trước đó như ở Trung Quốc [8]. 
Ở nhiều nước Châu Á, việc lây nhiễm HIV từ 
chồng sang vợ là rất cao do quan điểm chấp 
nhận việc chồng có mối quan hệ bên ngoài 
[9]. Vì vậy, có thể việc lây truyền HIV thụ 
động từ chồng mà không phải do hành vi 
nguy cơ chủ động sẽ tạo động lực cho phụ nữ 
tuân thủ điều trị ART hơn.
Đáng chú ý, đối tượng sống ở vùng núi 
thì ít có khả năng tuân thủ điều trị. Điều này 
có thể do những rào cản về vị trí địa lý. Một 
nghiên cứu được thực hiện bởi Trần Xuân 
Bách và các cộng sự chỉ ra rằng những người 
sống ở vùng núi có ít khả năng tiếp cận dịch 
vụ điều trị ART hơn [10]. Bên cạnh đó, chúng 
tôi cũng thấy mối tương quan giữa không 
tuân thủ điều trị và khó khăn về đi lại.
V. KẾT LUẬN
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra tỉ lệ không 
tuân thủ điều trị ART là cao. Trong khi chúng 
tôi ủng hộ việc điều trị ART sớm tại Việt 
Nam, các giải pháp về phân bổ tài chính và 
nguồn lực nên được chú trọng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO: 
1. Ayalew J, Moges H, sahu O, Worku A. Identifying Factors Related to the Survival 
of AIDS Patients under the Follow-up of Antiretroviral Therapy (ART): The Case of 
South Wollo. International Journal of Data Envelopment Analysis and *Operations 
Research*. 2014;1(2):21-27.
2. Smith K, Powers KA, Kashuba AD, Cohen MS. HIV-1 treatment as prevention: the 
good, the bad, and the challenges. Current opinion in HIV and AIDS. 2011;6(4):315-
325.
3. Odafe S, Idoko O, Badru T, et al. Patients’ demographic and clinical characteristics 
and level of care associated with lost to follow-up and mortality in adult patients 
on first-line ART in Nigerian hospitals. Journal of the International AIDS Society. 
2012;15(2):17424.
4. WHO. Guideline on when to start antiretroviral therapy and on pre-exposure 
prophylaxis for HIV. 2015.
50 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020)
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV 
Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM
5. The Ministry of Health of Viet Nam. Decision on guidelines for the management, 
treatment and care of HIV / AIDS. 2015.
6. Tran BX, Nguyen LT, Nguyen NH, Hoang QV, Hwang J. Determinants of antiretroviral 
treatment adherence among HIV/AIDS patients: a multisite study. Global health 
action. 2013;6:19570.
7. Do HM, Dunne MP, Kato M, Pham CV, Nguyen KV. Factors associated with 
suboptimal adherence to antiretroviral therapy in Viet Nam: a cross-sectional study 
using audio computer-assisted self-interview (ACASI). BMC Infectious Diseases. 
2013;13:154-154.
8. Wang W, Liu W, Chen T, et al. [Factors influencing antiretroviral therapy adherence 
among HIV-infected people on antiretroviral therapy in Ili Kazakh Autonomous 
Prefecture]. Zhonghua yu fang yi xue za zhi [Chinese journal of preventive medicine]. 
2017;51(2):160-164.
9. Yang Y, Lewis FM, Wojnar D. Culturally Embedded Risk Factors for Cambodian 
Husband-Wife HIV Transmission: From Women’s Point of View. Journal of nursing 
scholarship: an official publication of Sigma Theta Tau International Honor Society 
of Nursing. 2016;48(2):154-162.
10. Tran BX, Hwang J, Nguyen LH, et al. Impact of Socioeconomic Inequality on Access, 
Adherence, and Outcomes of Antiretroviral Treatment Services for People Living 
with HIV/AIDS in Vietnam. PLoS One. 2016;11(12):e0168687.
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 51

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_tuan_thu_dieu_tri_arv_o_benh_nhan_n.pdf