Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
Đặt vấn đề: Theo hướng dẫn mới về điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút, bệnh
nhân được điều trị thuốc ARV không phụ thuộc vào CD4. Tuy nhiên những nghiên cứu đánh
giá về thực trạng tuân thủ điều trị trong bối cảnh điều trị sớm chưa được nghiên cứu đầy đủ.
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan
sau khi triển khai điều trị ARV phổ biến ở Việt Nam.
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 05 phòng
khám ART tại 03 tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, Lào Cai từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017. Việc
tuân thủ điều trị ARV trong tháng vừa qua được đo bằng thang điểm trực quan VAS (Visual
Analog Scale). Bên cạnh đó, thông tin về việc quên liều trong 4 ngày qua và trì hoãn uống thuốc
kéo dài 7 ngày cũng được thu thập.
Tóm tắt nội dung tài liệu: Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM Mai Thị Huệ1 1 Phân hiệu trường Đại học Y Hà Nội tại Thanh Hóa Chịu trách nhiệm chính: Mai Thị Huệ. Ngày nhận bài: 15/12/2019; Ngày phản biện khoa học: 28/12/2019; Ngày duyệt bài: 05/01/2020 TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Đặt vấn đề: Theo hướng dẫn mới về điều trị HIV/AIDS bằng thuốc kháng vi rút, bệnh nhân được điều trị thuốc ARV không phụ thuộc vào CD4. Tuy nhiên những nghiên cứu đánh giá về thực trạng tuân thủ điều trị trong bối cảnh điều trị sớm chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự tuân thủ điều trị ARV và các yếu tố liên quan sau khi triển khai điều trị ARV phổ biến ở Việt Nam. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện tại 05 phòng khám ART tại 03 tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, Lào Cai từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2017. Việc tuân thủ điều trị ARV trong tháng vừa qua được đo bằng thang điểm trực quan VAS (Visual Analog Scale). Bên cạnh đó, thông tin về việc quên liều trong 4 ngày qua và trì hoãn uống thuốc kéo dài 7 ngày cũng được thu thập. Kết quả: Trong số 482 bệnh nhân nhiễm HIV, tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 54,5%. Điểm tuân thủ VAS cao hơn ở đối tượng không hút thuốc (Coef. = 4.19, 95% CI: 0.42 - 7.97), có số lượng CD4 ban đầu cao hơn (Coef. = 4.35, 95% CI: 0.58 - 8.13) và không gặp khó khăn khi đi lại (Coef. = 6,17, 95%CI: 2,27 - 10,06). Tuân thủ điều trị có liên quan đến việc sống ở vùng núi (OR = 5,34, 95%CI: 2,81 - 10,16). Phụ nữ ít có khả năng trì hoãn việc uống thuốc trong 7 ngày qua (OR = 0,19, 95% CI: 0,07 - 0,52). Kết luận: Trong bối cảnh điều trị ART sớm tại Việt Nam, cách tiếp cận này phải song song với phân bổ nguồn lực và cung cấp dịch vụ. Abstract THE FACTORS AFFECTING COMPLIANCE ARV TREATMENT IN HIV/AIDS INFECTED PATIENTS IN VIETNAM Background: According to the new guidelines for the treatment of HIV/AIDS with antiretroviral drugs, patients on ART are not dependent on CD4. However, studies assessing 44 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) the status of adherence to treatment in the context of early treatment have not been adequately studied. Objectives: This study aims to assess adherence to antiretroviral therapy and related factors after implementing antiretroviral treatment in Vietnam. Materials and methods: A cross-sectional descriptive study was conducted in 05 ART clinics in 03 provinces: Hanoi, Thanh Hoa, Lao Cai from July to September 2017. Compliance with ARV treatment in the month is measured using a VAS (Visual Analog Scale) visual scale. In addition, information on missed doses for the past 4 days and delayed pill taking for 7 days was also collected. Results: Among 482 patients with HIV infection, the non-compliance rate was 54.5%. VAS compliance scores were higher in non-smokers (Coef. = 4.19, 95% CI: 0.42 - 7.97), with a higher initial CD4 count (Coef. = 4.35, 95% CI: 0.58 - 8.13) and no trouble walking (Coef. = 6.17, 95% CI: 2.27 - 10.06). Adherence to treatment is related to living in mountainous areas (OR = 5.34, 95% CI: 2.81 - 10.16). Women are less likely to delay taking medication for the past 7 days (OR = 0.19, 95% CI: 0.07 - 0.52) Conclusion: In the context of early ART treatment in Vietnam, this approach must be complete with resource allocation and service delivery. I. ĐẶT VẤN ĐỀ HIV/AIDS hiện nay được xem là một bệnh mãn tính thay vì cấp tính do bệnh nhân ngày càng có cơ hội tiếp cận với dịch vụ điều trị ART [1]. Phương pháp điều trị này đã được chứng minh có hiệu quả trộng việc giảm tỉ lệ tử vong, bệnh nhiễm trùng cơ hội, và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân [2-3}. Vì vậy, việc phổ rộng điều trị ART là một trong những giải pháp quan trọng để chấm dứt HIV/AIDS. Năm 2015, tổ chức Y tế thế giới WHO đã sửa đổi hướng dẫn điều trị ART [4]. Theo đó, bệnh nhân nên được điều trị ART không phụ thuộc vào tình trạng CD4. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên áp dụng hướng dẫn này. Năm 2015, mức CD4 chuẩn để bắt đầu điều trị ART là 500 cell/mm3 [5]. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể gặp phải thử thách mới trong bối cảnh giảm thiểu quỹ kiểm soát HIV/AIDS tại Việt Nam. Bên cạnh đó, việc điều trị ART trong tình trạng sức khỏe tốt có thể dẫn đến không tuân thủ điều trị. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Địa điểm & thiết kế nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 07 đến 09 năm 2017 tại 03 tỉnh: Hà Nội, Thanh Hóa, và Lào Cai. 2.2. Đối tượng nghiên cứu: Chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn sau: 1) Trên 18 tuổi; 2) Có mặt tại địa điểm nghiên cứu; 3) Đang điều trị ART tại địa điểm nghiên cứu; 4) Đồng ý tham gia nghiên cứu; 5) Không bị các vấn đề về tâm thần. 2.3. Công cụ và thang đo: Chúng tôi thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn. Các cấu trúc của bộ câu hỏi bao gồm các phần TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 45 NGHIÊN CỨU sau: tuổi, nơi sinh sống, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, khó khăn về đi lại. Điểm tuân thủ điều trị VAS, quên uống thuốc trong vòng 4 ngày qua, uống thuốc trễ trong vòng 1 tuần qua. Chúng tôi thu thập các thông tin liên quan đến tình trạng hút thuốc, uống rượu, tiền sử sử dụng thuốc phiện/ tiêm chích, và hiện trạng nghiện thuốc. Chúng tôi sử dụng bộ công cụ Alcohol Use Disorders Identification Test-Consumption (AUDIT-C) để đánh giả mức độ nghiện rượu với thang điểm từ 0 đến 12. Hiện trạng hút thuốc lá được định nghĩa là có hút thuốc trong vòng 30 ngày qua. 2.4. Phân tích số liệu: Số liệu được phân tích bằng phần mềm STATA. Chúng tôi sử dụng các test Mann-Whitney, Chi-square và Fisher’s Exact để đánh giá sự khác biệt của các yếu tố giữa hai nhóm nam và nữ. Mô hình hồi quy Tobit đến điểm tuân thủ điều trị VAS. 2.5. Đạo đức nghiên cứu: Đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt bởi Hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y Hà Nội. III. KẾT QUẢ Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu Nam Nữ Tổng P-value n % n % n % Trình độ học vấn < Cấp ba 194 65.5 121 66.9 315 66.0 0.60Cấp ba 89 30.1 49 27.1 138 28.9 > Cấp ba 13 4.4 11 6.1 24 5.3 Nơi sinh Nông thôn 92 31.0 49 26.8 141 29.4 0.6Thành thị 84 28.3 58 31.7 142 29.6 Miến núi 121 40.7 76 41.5 197 41.0 Tình trạng hôn nhân Độc thân 59 19.9 16 8.8 75 15.7 < 0.01Sống chung với người tình 218 73.7 100 55.0 318 66.5 Li thân/li dị/góa 19 6.4 66 36.3 85 17.8 Khó khăn về đi lại Có 106 36.1 80 44.2 186 39.2 0.08 Không 188 64.0 101 55.8 289 60.8 Mean SD Mean SD Mean SD Tuổi 39.3 8.0 36.8 8.4 38.4 8.3 <0.01 Bảng 3.1 cho thấy hầu hết đối tượng nghiên cứu có trình độ dưới cấp ba (66%), sống ở thành thị (70.6%) và sống với người tình/vợ (66.5%). Có khoảng gần 40% cảm thấy khó khăn trong việc đi lại đến cơ sở ART. Tuổi trung bình của nam (39.3 tuổi, SD=8.0) cao hơn so với nữ (36.8 tuổi, SD= 8.4) (p<0.01). 46 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM Bảng 3.2: Đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu Nam Nữ Tổng P-value n % n % n % CD4 ban đầu (cells/mm3) <200 77 33.1 21 16.3 98 27.1 <0.01200-350 51 21.9 21 16.3 72 19.9 ≥350 105 45.1 87 67.4 192 53.0 CD4 mới nhất (cells/mm3) <200 45 19.3 13 10.1 58 16.0 <0.01200-350 55 23.6 15 11.6 70 19.3 ≥350 133 57.1 101 78.3 234 64.6 Giai đoạn HIV Không triệu chứng 156 74.6 105 79.6 261 76.5 0.30 Có triệu chứng 53 25.4 27 20.5 80 23.5 Thời gian điều trị ART <1 năm 19 6.8 12 6.9 31 6.9 <0.05 1-2 năm 90 32.4 34 19.5 124 27.4 3-5 năm 104 37.4 81 46.6 185 40.9 >5 năm 65 23.4 47 27.0 112 24.8 Đồng điều trị với MMT Có 71 24.7 3 1.9 74 16.5 <0.01 Không 217 75.4 158 98.1 375 83.5 Mức độ hài lòng Hoàn toàn hài lòng 257 91.1 170 95.0 427 92.6 0.20Hài lòng một phần 24 8.5 8 4.5 32 6.9 Không hài lòng 1 0.4 1 0.6 2 0.4 * MMT: Methadone Maintenance Treatment Bảng 3.2 tổng hợp các thông tin về đặc điểm lâm sàng của đối tượng nghiên cứu. Phần lớn đối tượng có mức CD4 ≥ 350 cells/mm3 (53.0%), trong đó nam có mức CD4 ban đầu cao hơn nữ (p <0.01). Về giai đoạn HIV, chỉ có 3.9% ở giai đoạn AIDS. Hầu hết bệnh nhân được điều trị ART hơn một năm (93.1%) và khoảng 93% hoàn toàn hài lòng với chất lượng điều trị. Tỉ lệ bệnh nhân có điều trị Methadone duy trì (MMT) là 16.5%, trong đó tỉ lệ đồng điều trị ART và MMT cao hơn ở nữ (p < 0.01). TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 47 NGHIÊN CỨU Bảng 3.3: Hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu Nam Nữ Tổng P-value n % n % n % Nghiện rượu nặng Có 172 57.9 12 6.6 184 38.5 <0.01 Không 125 42.1 169 93.4 294 61.5 Hiện tại hút thuốc Có 218 75.17 7 3.85 225 47.67 <0.01 Không 72 24.83 175 96.15 247 52.33 Tiền sử thuốc phiện Có 208 70.0 7 3.8 215 44.8 <0.01 Không 89 30.0 176 96.2 265 55.2 Hiện tại dùng thuốc phiện Có 64 21.8 3 1.6 67 14.1 <0.01 Không 229 78.2 180 98.4 409 85.9 Tiền sử tiêm chích Có 191 64.8 6 3.3 197 41.2 <0.01 Không 104 35.3 177 96.7 281 58.8 Bảng 3.3 mô tả các hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu. Khoảng 1/3 số bệnh nhận nghiện rượu nặng (38.5%), và hơn một nửa bệnh nhân khai báo hiện trạng hút thuốc lá. Bên cạnh đó, có khoảng 14% bệnh nhân nghiện thuốc phiện tại thời điểm hiện tại. Đáng chú ý, tiền sử tiêm chích khá phổ biến (41.2%). Tất cả các yếu tố nguy cơ bao gồm uống rượu, hút thuốc, tiêm chích cao hơn ở nhóm nam so với nhóm nữ (p <0.01). Bảng 3.4: Tuân thủ điều trị ART của đối tượng nghiên cứu Nam Nữ Tổng P-value n % n % n % Tuân thủ điều trị Có 117 41.6 89 51.7 206 45.5 <0.05 Không 164 58.4 83 48.3 247 54.5 Quên thuốc trong 4 ngày qua Có 13 4.5 5 2.8 18 3.9 0.34 Không 274 95.5 175 97.2 449 96.2 Uống thuốc muộn trong 1 tuần qua Có 49 17.3 9 5.0 58 12.5 <0.01 Không 234 82.7 171 95.0 405 87.5 48 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM Nam Nữ Tổng P-value n % n % n % Mean SD Mean SD Mean SD Điểm tuân thủ VAS 88.8 12.8 90.2 15.6 89.3 8.2 <0.01 Bảng 3.4 mô tả về tình trạng tuân thủ điều trị ART của đối tượng nghiên cứu. Có khoảng 45.5% tuân thủ điểu trị. Chỉ có 3.9% quên uống thuốc trong 4 ngày qua và 13.5% uống thuốc muộn trong tuần vừa qua. Bảng 3.5: Yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ART Điểm VAS Coef. 95% CI Giới tính (vs Nam) Nữ Nơi sống (vs Thành thị) Nông thôn -4.87** (-9.00 - -0.74) Nghề nghiệp (vs Thất nghiệp) Có nghề nghiệp -5.29** (-9.62 - -0.96) Học vấn (vs < Cấp ba) Cấp ba -2.84 (-6.79 - 1.12) > Cấp ba 8.02* (-1.25 - 17.30) Khó khăn đi lại (vs Có) Không 6.17*** (2.27 - 10.06) Hiện tại hút thuốc (vs Có) Không 4.19** (0.42 - 7.97) CD4 ban đầu (vs <500 cell/mm3) ≥500 cell/mm3 4.35** (0.58 - 8.13) CD4 mới nhất (vs <500 cell/mm3) ≥500 cell/mm3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ART được thể hiện ở Bảng 5. Không hút thuốc (Coef.= 4.19, 95%CI: 0.42 - 7.97), CD4 ban đầu ≤500 cells/mm3 (Coef.= 4.35, 95%CI: 0.58 - 8.13), và không có khó khăn về đi lại (Coef.= 6.17, 95%CI: 2.27 - 10.06) là các yếu tố ảnh hưởng đến việc tăng điểm tuân thủ VAS. Trong khi đó, sống ở vùng núi có liên quan mật thiết đến việc không tuân thủ điều trị (OR = 5.34, 95%CI: 2.81 - 10.16). Thêm vào đó, phụ nữ ít có khả năng uống thuốc muộn trong vòng một tuần qua so với nam giới (OR = 0.19, 95% CI: 0.07 - 0.52). TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 49 NGHIÊN CỨU IV. BÀN LUẬN Nghiên cứu cho thấy rằng tỉ lệ không tuân thủ điều trị ở nhóm đối tượng nghiên cứu khá cao. Sống ở khu vực miền núi, khó khăn về đi lại, hiện tại hút thuốc là các yếu tố làm gia tăng khả năng không tuân thủ điều trị. Ngược lại, nữ giới, có mức CD4 ban đầu cao là các yếu gia tăng khả năng tuân thủ điều trị. So sánh với các nghiên cứu trước tại Việt Nam, tỉ lệ không tuân thủ điều trị ở nghiên cứu này cao hơn [6-7]. Điều này có thể do thời điểm nghiên cứu khác nhau. Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện sau khi triển khai hướng dẫn mới về điều trị ART. Bên cạnh đó, kết quả này có thể được lý giải là việc điều trị ART sớm có thể làm gia tăng gánh nặng về tài chính. Điều này cho thấy việc điều trị ART sớm cần đi liền với các giải pháp giảm thiểu gánh nặng về tài chính cho bệnh nhân. Mô hình hồi quy cho thấy rằng nữ giới có nhiều khả năng tuân thủ điều trị ART hơn so với nam giới. Kết quả này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đó như ở Trung Quốc [8]. Ở nhiều nước Châu Á, việc lây nhiễm HIV từ chồng sang vợ là rất cao do quan điểm chấp nhận việc chồng có mối quan hệ bên ngoài [9]. Vì vậy, có thể việc lây truyền HIV thụ động từ chồng mà không phải do hành vi nguy cơ chủ động sẽ tạo động lực cho phụ nữ tuân thủ điều trị ART hơn. Đáng chú ý, đối tượng sống ở vùng núi thì ít có khả năng tuân thủ điều trị. Điều này có thể do những rào cản về vị trí địa lý. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Trần Xuân Bách và các cộng sự chỉ ra rằng những người sống ở vùng núi có ít khả năng tiếp cận dịch vụ điều trị ART hơn [10]. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thấy mối tương quan giữa không tuân thủ điều trị và khó khăn về đi lại. V. KẾT LUẬN Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra tỉ lệ không tuân thủ điều trị ART là cao. Trong khi chúng tôi ủng hộ việc điều trị ART sớm tại Việt Nam, các giải pháp về phân bổ tài chính và nguồn lực nên được chú trọng. TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Ayalew J, Moges H, sahu O, Worku A. Identifying Factors Related to the Survival of AIDS Patients under the Follow-up of Antiretroviral Therapy (ART): The Case of South Wollo. International Journal of Data Envelopment Analysis and *Operations Research*. 2014;1(2):21-27. 2. Smith K, Powers KA, Kashuba AD, Cohen MS. HIV-1 treatment as prevention: the good, the bad, and the challenges. Current opinion in HIV and AIDS. 2011;6(4):315- 325. 3. Odafe S, Idoko O, Badru T, et al. Patients’ demographic and clinical characteristics and level of care associated with lost to follow-up and mortality in adult patients on first-line ART in Nigerian hospitals. Journal of the International AIDS Society. 2012;15(2):17424. 4. WHO. Guideline on when to start antiretroviral therapy and on pre-exposure prophylaxis for HIV. 2015. 50 I TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ARV Ở BỆNH NHÂN NHIỄM HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM 5. The Ministry of Health of Viet Nam. Decision on guidelines for the management, treatment and care of HIV / AIDS. 2015. 6. Tran BX, Nguyen LT, Nguyen NH, Hoang QV, Hwang J. Determinants of antiretroviral treatment adherence among HIV/AIDS patients: a multisite study. Global health action. 2013;6:19570. 7. Do HM, Dunne MP, Kato M, Pham CV, Nguyen KV. Factors associated with suboptimal adherence to antiretroviral therapy in Viet Nam: a cross-sectional study using audio computer-assisted self-interview (ACASI). BMC Infectious Diseases. 2013;13:154-154. 8. Wang W, Liu W, Chen T, et al. [Factors influencing antiretroviral therapy adherence among HIV-infected people on antiretroviral therapy in Ili Kazakh Autonomous Prefecture]. Zhonghua yu fang yi xue za zhi [Chinese journal of preventive medicine]. 2017;51(2):160-164. 9. Yang Y, Lewis FM, Wojnar D. Culturally Embedded Risk Factors for Cambodian Husband-Wife HIV Transmission: From Women’s Point of View. Journal of nursing scholarship: an official publication of Sigma Theta Tau International Honor Society of Nursing. 2016;48(2):154-162. 10. Tran BX, Hwang J, Nguyen LH, et al. Impact of Socioeconomic Inequality on Access, Adherence, and Outcomes of Antiretroviral Treatment Services for People Living with HIV/AIDS in Vietnam. PLoS One. 2016;11(12):e0168687. TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HÀNH NHI KHOA I Số 1 (2-2020) I 51
File đính kèm:
cac_yeu_to_anh_huong_den_tuan_thu_dieu_tri_arv_o_benh_nhan_n.pdf

