Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng

dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm tầm

soát dinh dưỡng bằng công cụ MNA-SF trên 108 bệnh nhân cao tuổi suy tim nhập viện

có phân suất tống máu thất trái giảm tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Thống Nhất.

Kết quả: Tuổi trung bình là 75 ± 9,2 với 66,7% là nam (n=72). 94 bệnh nhân

được phân loại NYHA II/III (87%). Phân suất tống máu thất trái trung bình 28,9 ± 6,9%.

49/108 bệnh nhân có suy dinh dưỡng, chiếm 45,4%. Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy

dinh dưỡng và dinh dưỡng bình thường lần lượt là 28,7% và 25,9%. Hạn chế BADL, sa

sút trí tuệ, tình trạng hôn nhân (ly dị/góa/độc thân) có mối liên quan có ý nghĩa thống

kê với tình trạng dinh dưỡng dựa trên công cụ tầm soát dinh dưỡng MNA-SF (P<>

pdf 8 trang phuongnguyen 60
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
83
CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG 
Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI SUY TIM CÓ PHÂN SUẤT 
TỐNG MÁU THẤT TRÁI GIẢM
Lê Đình Thanh1, Dương Thị Bích Nguyệt2
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng 
dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất trái giảm.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang nhằm tầm 
soát dinh dưỡng bằng công cụ MNA-SF trên 108 bệnh nhân cao tuổi suy tim nhập viện 
có phân suất tống máu thất trái giảm tại Trung tâm Tim mạch Bệnh viện Thống Nhất.
Kết quả: Tuổi trung bình là 75 ± 9,2 với 66,7% là nam (n=72). 94 bệnh nhân 
được phân loại NYHA II/III (87%). Phân suất tống máu thất trái trung bình 28,9 ± 6,9%. 
49/108 bệnh nhân có suy dinh dưỡng, chiếm 45,4%. Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ suy 
dinh dưỡng và dinh dưỡng bình thường lần lượt là 28,7% và 25,9%. Hạn chế BADL, sa 
sút trí tuệ, tình trạng hôn nhân (ly dị/góa/độc thân) có mối liên quan có ý nghĩa thống 
kê với tình trạng dinh dưỡng dựa trên công cụ tầm soát dinh dưỡng MNA-SF (P<0,05).
Kết luận: Tình trạng suy dinh dưỡng ở bệnh nhân cao tuổi suy tim chiếm tỉ lệ 
cao, đặc biệt những bệnh nhân có suy giảm hoạt động chức năng cơ bản, sa sút trí tuệ 
và ly dị/góa/độc thân.
Từ khóa: Tình trạng dinh dưỡng, suy dinh dưỡng, suy tim, người cao tuổi.
THE FACTORS AFFECT NUTRITIONAL STATUS OF GERIATRIC 
PATIENTS WITH CHRONIC HEART FAILURE WITH REDUCED LEFT 
VENTRICULAR EJECTION FRACTION
ABSTRACT
Objective: Determine the prevalence of malnutrition and the factors affect 
the nutritional status in elderly patients with chronic heart failure with reduced left 
1Bệnh viện Thống Nhất; 2Trường ĐH Buôn Ma Thuột
Người phản hồi (Corresponding): Lê Đình Thanh ([email protected])
Ngày nhận bài: 4/9/2020, ngày phản biện: 7/9/2020
Ngày bài báo được đăng: 30/9/2020
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
84
ventricular ejection fraction (HFrEF).
Patients and method: A cross-section study screens nutritional status by MNA-
SF tool in 108 hospitalized elderly patients with HFrEF in The Cardiovascular Center, 
Thong Nhat Hospital.
Results:The mean aged of the population was 75 ± 9,23 years and 66,7% of 
patients were men (n=72). 94 had class HYHA II/III (87%). The mean left ventricular 
ejection fraction was 28,9 ± 6,9%. 49 of 108 patients had malnutrition, at 45,4%. The 
prevalence of risk of malnutrition and normal nutrition status were 28,7% and 25,9%, 
respectively. Impairment in BADL, dementia, marital status (divorced, single, widow) 
had a statistically significant relationship with nutritional status based on the MNA-SF 
(p<0,05).
Conclusion: Malnutrition were highly prevalent in the elderly with heart failure, 
especially in patients with impaired BADL, dementia, divorced/single/widow. 
Key words: Nutritional status, malnutrition, heart failure, elderly.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy tim (HF) là tình trạng thường 
gặp ở người cao tuổi, tác động đáng kể đến 
chất lượng cuộc sống, chức năng và tuổi 
thọ, chi phí cao cho hệ thống chăm sóc sức 
khỏe. Bên cạnh đó, những người chăm sóc 
hỗ trợ bệnh nhân bị suy tim phải đối mặt 
với nhiều thách thức ảnh hưởng đến sức 
khỏe thể chất và tinh thần.
Suy tim cũng như các bệnh lý mạn 
tính khác gây ảnh hưởng đến tình trạng 
dinh dưỡng. Đồng thời, ở người cao tuổi 
tình trạng dinh dưỡng còn ảnh hưởng bởi 
rất nhiều vấn đề như tâm lý, xã hội, thể 
chất, đặc biệt là quá trình lão hóa. Suy 
giảm nhận thức như sa sút trí tuệ, trầm 
cảm và giảm thị giác làm giảm khả năng 
di chuyển, chuẩn bị và lấy thức ăn, giảm 
lượng thức ăn nhập, ảnh hưởng đáng kể 
đến tình trạng dinh dưỡng [5]. Mặt khác 
suy dinh dưỡng cũng là yếu tố nguy cơ cao 
xảy ra biến chứng, kéo dài thời gian nằm 
viện, tái nhập viện và tử vong ở bệnh nhân 
suy tim [9], [14]. Việc đánh giá sớm để can 
thiệp sớm cải thiện tình trạng dinh dưỡng 
có thể ngăn ngừa các biến cố bất lợi và 
nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh 
nhân [7], [11]. Để có thể nhìn khái quát 
hơn về tình trạng suy dinh dưỡng trên đối 
tượng bệnh nhân cao tuổi suy tim tâm thu 
tại Việt Nam, đề tài này được thực hiện 
nhằm 2 mục tiêu: 
Khảo sát tỉ lệ suy dinh dưỡng bệnh 
nhân cao tuổi suy tim có phân suất tống 
máu thất trái giảm nhập viện tại Trung tâm 
Tim Mạch – BV Thống Nhất.
Khảo sát mối liên quan giữa tình 
trạng dinh dưỡng và một số yếu tố.
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
85
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân suy tim cao tuổi 
nhập viện vào Trung tâm Tim Mạch – 
Bệnh viện Thống Nhất trong thời gian từ 
tháng 11/2019 đến tháng 6/2020.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên 
cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức 
ước lượng một tỷ lệ: 
Trong đó:
n: Cỡ mẫu tối thiểu
Z²(1- α/2) = 1,96 với nguy cơ sai 
lầm α=0,05 và khoảng tin cậy 95%.
p =7,6% theo kết quả nguyên cứu 
của L. Sargento [12]
d: sai số cho phép, chọn d=0,05.
n = 108
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân 
nhập viện từ 60 tuổi trở lên, được chẩn 
đoán có suy tim theo tiêu chuẩn Hội Tim 
mạch châu Âu, chức năng tâm thu thất trái 
EF<40% đo bằng phương pháp Simpson 
do bác sĩ chuyên khoa tim mạch thực hiện.
Tiêu chuẩn loại trừ: Không đồng 
ý tham gia nghiên cứu, tự ý xuất viện, đã 
tham gia nghiên cứu nay tái nhập viện, 
bệnh nhân có phù và cổ chướng phát hiện 
trên lâm sàng.
2.2.3. Kỹ thuật thu thập số liệu
Ghi nhận tuổi, giới tính, BMI, tình 
trạng hôn nhân, đa bệnh, đa thuốc, đánh 
giá hoạt động chức năng cơ bản (BADL), 
đánh giá sa sút trí tuệ theo MMSE. 
Hỏi bệnh sử, tiền sử và thăm khám 
lâm sàng, thu thập kết quả EF trên siêu âm 
tim.
Đánh giá dinh dưỡng bằng bảng 
công cụ MNS-SF trong vòng 48 giờ nhập 
viện. 
2.2.4. Xử lý và phân tích số liệu
Nhập liệu bằng phần mềm Epidata 
3.1 và xử lý bằng phần mềm Stata14.
Các biến định tính sẽ được trình 
bày dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm. 
Các biến định lượng trình bày dưới dạng 
trung bình ± độ lệch chuẩn hoặc trung vị 
và khoảng tứ phân vị.
Kiểm định chi bình phương hoặc 
Fisher để so sánh sự khác biệt giữa 2 biến 
định tính, t-student hoặc Mann-Whitney 
kiểm định 2 giá trị trung bình giữa 2 nhóm 
của biến số định lượng.
Khoảng tin cậy 95% khi phân tích, 
giá trị p < 0,05 được xem như có ý nghĩa 
thống kê. 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
86
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung về đối 
tượng nghiên cứu. 
Trong 108 bệnh nhân tham gia 
nghiên cứu, nam giới chiếm 66,7% (n=72). 
Tuổi trung bình của dân số nghiên cứu là 
là 75 ± 9,2 tuổi. Bệnh nhân được phân loại 
NYHA II/III chiếm đa số (87%), NYHA 
IV với 13%. Phân suất tống máu thất trái 
trung bình 28,9 ± 6,9% (Bảng 3.1)
Bảng 3.1: Đặc điểm dân số chung
n = 108
Tuổi trung bình (năm) 75 ± 9,2
Giới nam (%) 66,7%
BMI (kg/m2) 21,9±3,1
NYHA n(%) II/III
 IV
94 (87%)
14 (13%)
 EF (%) 28,9 ± 6,9
NT-proBNP ( pg/mL) 8000,6 (1513,5-9000)
3.2. Tình trạng dinh dưỡng
Nghiên cứu ghi nhận 45,4% bệnh nhân suy tim mạn cao tuổi suy dinh dưỡng, 
tỉ lệ nguy cơ suy dinh dưỡng và dinh dưỡng bình thường lần lượt là 28,7% và 25,9%.
Biểu đồ 3.1: Phân bố giới tính Biểu đồ 3.2: Tình trạng dinh dưỡng
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
87
3.3. Mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và một số yếu tố
Bảng 3.2: Phân tích đơn biến mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và một số đặc 
điểm dân số 
Yếu tố
Có
Suy dinh dưỡng
n (%) P
Không
Nhóm tuổi 60-69 
≥ 70 
6 (17,1%)
43 (58,9%)
29 (82,9%)
30 (41,1%)
<0,001
Giới Nam 
Nữ 
31(43,1%)
18 (50%)
41(56,9%)
18 (50%)
0,49
Tình trạng 
hôn nhân
Ly dị/góa/độc thân 
Kết hôn 
30(73,2%)
19(28,4%)
11(26,8%)
48(71,6%)
<0.001
Học vấn < cấp 2 
Từ cấp 2 trở lên 
38 (61,3%)
11 (23,9%)
24 (38,7%)
35 (76,1%)
<0.001
Đa bệnh Có đa bệnh
Không đa bệnh
39(52%)
10 (30,3%)
36 (48%)
23 (69,7%)
0,037
Đa thuốc Có đa thuốc
Không đa thuốc
42 (49,4%)
7 (30,4%)
43 (50,6%)
16 (69,6%)
0,105
Hạn chế BADL Có hạn chế
Không hạn chế
27 (79,4%)
22 (29,7%)
7 (20,6%)
52 (70,3%)
<0.001
Sa sút trí tuệ Có sa sút trí tuệ
Không sa sút trí tuệ
43 (67,2%)
6 (13,6%)
21 (32,8%)
38 (86,4%)
<0.001
Bảng 3.3: Phân tích hồi quy đa biến mối liên quan giữa suy dinh dưỡng và một 
số đặc điểm dân số nghiên cứu
OR Khoảng tin cậy 95% P
Nhóm tuổi 6,93 2,39-22,57 0,787
Hôn nhân 6,89 2,67-18,22 0,034
Học vấn 5,04 2,00-13,00 0,112
Đa bệnh 2,49 0,97-6,66 0,657
Hạn chế BADL 9,12 3,20-28,01 0,026
Sa sút trí tuệ 12,97 4,40-42,44 0,006
Qua phân tích đơn biến và đa biến 
một số yếu tố cho thấy rằng tình trạng hôn 
nhân ly dị, góa, độc thân, hạn chế hoạt động 
chức năng cơ bản hằng ngày và sa sút trí tuệ 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
88
là các biến có liên quan với tình trạng suy 
dinh dưỡng (p<0,05). Ngoài ra, suy dinh 
dưỡng không liên quan chặt chẽ đến tuổi, 
giới tính, trình độ học vấn, đa bệnh và đa 
thuốc.
4. BÀN LUẬN
Trong 108 bệnh nhân suy tim cao 
tuổi nhập viện được khảo sát, tỷ lệ nam cao 
gấp 2 lần nữ (66,7% so với 33,3%) (biểu đồ 
3.1). Kết quả này cũng khá tương đồng với 
kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Nam 
Phương (2019) trên dân số suy tim phân 
suất tống máu giảm với tỉ lệ nam – nữ là 
67,5%-22,5% [3] và một số nghiên cứu ở 
các quốc gia khác [12] [13]. Điều này cũng 
phù hợp với nhận định giới nam là một yếu 
tố nguy cơ của bệnh tim mạch [8].
Tuổi trung bình trong dân số 
nghiên cứu là 75 ± 9,2 tuổi. Kết quả này 
cũng tương tự như các nghiên cứu khác trên 
đối tượng cao tuổi suy tim trong và ngoài 
nước như nghiên cứu của L. Sargento [12] 
và Nguyễn Tấn Đạt [1] với tuổi trung bình 
lần lượt là 74,3 ± 6,2 và 74,6 ± 0,5 tuổi. 
Bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt là 
nhóm bệnh nhân suy tim là đối tượng có 
nguy cơ cao suy dinh dưỡng. Trong nghiên 
cứu của chúng tôi có gần một nửa bệnh nhân 
suy dinh dưỡng (45,4%). Một số nghiên 
cứu đánh giá dinh dưỡng trên đối tượng 
người cao tuổi nói chung và đối tượng suy 
tim nói riêng cũng cho thấy bệnh nhân suy 
dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao. Tác giả Huỳnh 
Trung Sơn khảo sát tình trạng dinh dưỡng 
trên 241 bệnh nhân người cao tuổi tại khoa 
Lão BV Nhân Dân Gia Định (2017) cho 
thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng khảo sát theo công 
cụ MNA-SF là 44,9% [4]. Trong nghiên 
cứu của tác giả Lê Thị Minh Hương đánh 
giá dinh dưỡng 81 bệnh nhân suy tim mạn 
theo SGA cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng trên 
suy tim 66,7% [2]. 
Ngoài ra, nhóm bệnh nhân cao tuổi 
từ 70 tuổi trở lên có tỉ lệ suy dinh dưỡng 
58,9%, cao hơn nhóm bệnh nhân 60-69 
tuổi với chỉ 17,14%. Tuy nhiên sau khi hiệu 
chỉnh cùng với một số yếu tố khác, nhận 
thấy rằng sự khác biệt trong tỉ lệ suy dinh 
dưỡng ở các nhóm tuổi không có ý nghĩa 
thống kê (p=0,787). Các nghiên cứu khác 
như nghiên cứu của tác giả Sargento L hay 
của Shirin Hosseini cũng ghi nhận không 
có mối liên quan có ý nghĩa giữa suy dinh 
dưỡng và tuổi (p=0,289 và p=0,79) [12] 
[13].
Qua nhiều nghiên cứu về tình trạng 
dinh dưỡng cho thấy rằng không có mối 
liên quan giữa giới tính và suy dinh dưỡng. 
Trong khảo sát về dinh dưỡng trên người 
cao tuổi của tác giả Huỳnh Trung Sơn ghi 
nhận tỉ lệ suy dinh dưỡng ở nam là 62,5% 
và nữ là 50,5%, khác biệt không có ý nghĩa 
thống kê (p=0,282). Trong nghiên cứu của 
tác giả Agra Bermejo R M và tác giả Shirin 
Hosseini cũng cho kết quả tương tự với p 
lần lượt là 0,591 và 0,486 [6], [13]. Trong 
nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ suy dinh 
dưỡng ở nữ cao hơn ở nam (50% so với 
43,1%) tuy nhiên sự khác biệt không có 
ý nghĩa thống kê (p=0,49). Như vậy, giới 
không phải là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến 
tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân cao 
tuổi nói chung cũng như bệnh nhân cao tuổi 
suy tim nói riêng.
Bên cạnh đó nhóm bệnh nhân có 
tình trạng hôn nhân ly dị, góa và độc thân 
có tỉ lệ suy dinh dưỡng là 73,2%, cao hơn có 
ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân kết hôn 
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 
89
đang sống cùng vợ, cùng chồng (28,4%) với 
p=0,034. Với OR là 6,89 (KTC 95%: 2,67-
18,22), nhóm bệnh nhân có tình trạng hôn 
nhân đơn chiếc có nguy cơ suy dinh dưỡng 
cao hơn gấp 6 lần nhóm bệnh nhân đang 
sống cùng vợ hoặc chồng. Trong nghiên cứu 
của Shirin Hosseini trên 225 bệnh nhân suy 
tim cao tuổi cũng cho thấy có mối liên quan 
giữa tình trạng dinh dưỡng và tình trạng sinh 
sống với chỉ 9,5% người sống một mình 
có tình trạng dinh dưỡng tốt, ngược lại tỉ 
lệ này cao hơn ở người sống cùng vợ hoặc 
cùng chồng với 47,6% (p<0,001). Điều này 
có thể do việc sống một mình, không có vợ 
hoặc chồng chăm sóc dễ gây nên cảm giác 
buồn phiền, trầm cảm, không hứng thú ăn 
uống, lượng thức ăn giảm và gây tình trạng 
sụt cân. Như vậy, yếu tố hôn nhân gia đình 
có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng dinh 
dưỡng của người cao tuổi.
Mặc dù trình độ học vấn có thể liên 
quan đến hiểu biết về bệnh lý và lựa chọn 
dinh dưỡng ở người cao tuổi, tuy nhiên qua 
nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan 
này không đáng kể [4] [13]. Nghiên cứu của 
chúng tôi ghi nhận được nhóm bệnh nhân 
có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên có tỉ lệ 
suy dinh dưỡng thấp hơn nhóm bệnh nhân 
chỉ học hết cấp một hoặc mù chữ (23,9% so 
với 61,3%). Tuy nhiên khi phân tích đa yếu 
tố, chúng tôi nhận thấy rằng ít có sự liên 
quan giữa trình độ học vấn và đánh giá dinh 
dưỡng theo MNA-SF trên bệnh nhân cao 
tuổi suy tim (p=0,112). 
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi 
còn ghi nhận tỉ lệ suy dinh dưỡng ở nhóm 
bệnh nhân có hạn chế BADL cao hơn có 
ý nghĩa thống kê so với nhóm không hạn 
chế BADL (lần lượt là 79,4% và 29,7%, 
với p=0,026). Với OR=9,12 (KTC 95%: 
3,2-28,01) cho thấy những bệnh nhân hạn 
chế hoạt động chức năng cơ bản hằng ngày, 
giảm tính độc lập sẽ có nguy cơ bị suy dinh 
dưỡng gấp 9 lần so với những bệnh nhân 
không hạn chế hoạt động sống cơ bản, còn 
khả năng tự chăm sóc. Kết quả này cũng 
tương tự với các nghiên cứu khác về các yếu 
tố ảnh hưởng đến dinh dưỡng trên người 
cao tuổi. Nghiên cứu của tác giả Huỳnh 
Trung Sơn trên đối tượng bệnh nhân cao 
tuổi nhập viện cho thấy bệnh nhân có hạn 
chế BADL có nguy cơ bị suy dinh dưỡng 
cao hơn 25 lần so với bệnh nhân không hạn 
chế BADL [4]. Trong nghiên cứu của tác 
giả Marian A.E và cộng sự trên 448 bệnh 
nhân cao tuổi được đánh giá dinh dưỡng 
bằng công cụ MNA cho thấy bệnh nhân bị 
suy dinh dưỡng có 33% có suy giảm hoạt 
động chức năng, con số này chỉ 5% ở nhóm 
bệnh nhân dinh dưỡng tốt, sự khác biệt có 
ý nghĩa thống kê với p<0,01, OR=4,9, KTC 
95%: 2,6-9,3 [15]. 
Đối với người cao tuổi tình trạng 
dinh dưỡng bị ảnh hưởng bởi rất nhiều 
yếu tố liên quan đến thể chất. Suy giảm 
hoạt động chức năng làm giảm khả năng 
di chuyển, mua sắm, chuẩn bị và lấy thức 
ăn, dẫn đến giảm lượng thức ăn nhập, ảnh 
hưởng đáng kể đến tình trạng dinh dưỡng. 
Do vậy việc quan tâm cải thiện hoạt động 
chức năng cũng chính là cải thiện tình trạng 
dinh dưỡng để giảm các kết cục bất lợi cho 
bệnh nhân cao tuổi, nhất là có bệnh lý mạn 
tính như suy tim.
Sa sút trí tuệ là một trong những 
vấn đề rất thường gặp ở người cao tuổi. 
Nghiên cứu này ghi nhận bệnh nhân sa sút 
trí tuệ có suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ cao với 
TẠP CHÍ Y DƯỢC THỰC HÀNH 175 - SỐ 23 - 9/2020
90
so với không sa sút trí tuệ (67,2% so với 
13,6%). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống 
kê với p=0,006, OR=12,97, (KTC 95%:4,4-
42,44). Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy 
rằng sa sút trí tuệ là một trong những yếu tố 
tác động đáng kể đến tình trạng dinh dưỡng. 
Theo nghiên cứu của tác giả Saka B và 
cộng sự về suy dinh dưỡng ở người cao tuổi 
và các yếu tố liên quan cho thấy tỉ lệ bệnh 
nhân có MMSE < 24 có suy dinh dưỡng là 
63%, cao hơn nhóm có điểm MMSE ≥ 24 
điểm với 36%, khác biệt có ý nghĩa thống 
kê (p<0,001) [10]. Nhận thức suy giảm ở 
người cao tuổi ảnh hưởng đến tình trạng 
chức năng hàng ngày và hoạt động dẫn đến 
bệnh nhân bị phụ thuộc. Đồng thời việc kết 
hợp với các vấn đề khác của quá trình lão 
hóa như giảm khả năng cảm nhận mùi vị, 
giảm cảm giác ngon miệng và các vấn đề 
về nhai đã ảnh hưởng lớn đến lượng thức ăn 
nhập ở những bệnh nhân suy tim.
5. KẾT LUẬN
- Qua nghiên cứu 108 bệnh nhân 
cao tuổi suy tim có phân suất tống máu thất 
trái giảm tại Trung tâm Tim mạch Bênh 
viện Thống Nhất - Bộ Y tế, chúng tôi nhận 
thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng cao chiếm 45,4%.
- Suy dinh dưỡng liên quan có ý 
nghĩa với tình trang hôn nhân (OR= 6,89; 
p=0,034), hạn chế BADL (OR=9,12; 
p=0,026) và với sa sút trí tuệ (OR=12,97, 
p=0,06) trong phân tích hồi quy đa biến.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Tấn Đạt, (2014), “Khảo 
sát sự tiến triển xấu chức năng thận trên bệnh 
nhân cao tuổi suy tim nhập viện”, Luận văn 
tốt nghiệp thạc sĩ - Đại học Y Dược Thành 
phố Hồ Chí Minh, pp. 35.
2. Lê Thị Minh Hương, (2016), Tình 
trạng dinh dưỡng và hội chứng suy mòn ở 
bệnh nhân suy tim mạn, Luận văn tốt nghiệp 
Thạc sĩ trường Đại học Y Dược Thành phố 
Hồ Chí Minh, pp. 
3. Đỗ Thị Nam Phương, Nguyễn 
Anh Duy Tùng, (2019), “Khảo sát các yếu tố 
tiên lượng tử vong trên bệnh nhân suy tim 
phân suất tống máu giảm nhập viện tại Viện 
tim TP.HCM”, Tim mạch học, pp. 
4. Huỳnh Trung Sơn, (2017), Giá trị 
của công cụ MNA - SF trong chẩn đoán suy 
dinh dưỡng bệnh nhân cao tuổi nhập viện, 
Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú trường 
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, pp. 
5. Nguyễn Văn Trí, Thân Hà Ngọc 
Thể, (2017), Tích Tuổi Học Lão Khoa, Nhà 
xuất bản Y Học, pp. 
6. Agra Bermejo R M, Gonzalez 
Ferreiro R, Varela Roman A, Gomez 
Otero I, et al, (2017), “Nutritional status is 
related to heart failure severity and hospital 
readmissions in acute heart failure”, Int J 
Cardiol, 230 pp. 108-114.
 7. Bonilla-Palomas J L, Gamez-
Lopez A L, Anguita-Sanchez M P, Castillo-
Dominguez J C, et al, (2011), “[Impact 
of malnutrition on long-term mortality in 
hospitalized patients with heart failure]”, Rev 
Esp Cardiol, 64 (9), pp. 752-758.
 8. Bui A L, Horwich T B, Fonarow 
G C, (2011), “Epidemiology and risk profile 
of heart failure”, Nat Rev Cardiol, 8 (1), pp. 
30-41.
 9. Pichard C, Kyle U G, Morabia 
A, Perrier A, et al, (2004), “Nutritional 
assessment: lean body mass depletion at 
hospital admission is associated with an 
increased length of stay”, Am J Clin Nutr, 79 
(4), pp. 613-618.
(Xem tiếp trang 120)

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_anh_huong_den_tinh_trang_dinh_duong_o_benh_nhan_c.pdf